Header Ads

  • Breaking News

    Phải giải giới Trí Tuệ Nhân Tạo!

    Phạm Hồng Lam

    14/10/2026

    Đâu là quan điểm của giáo hội công giáo trước những hứa hẹn và nguy cơ của Trí Tuệ Nhân Tạo? Giới thiệu tông thư (*) của giáo hoàng Leo XIV: “Magnifica Humanitas” – “Gìn giữ con người trước sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo”.

    PDF file: https://drive.google.com/file/d/1J4kpsN_VUVkiMnP40dTZP2OghS5WqOUt/view?usp=sharing


    Hiện trạng con người và thế giới

    Sức mạnh và sự hiện diện khắp nơi của các công nghệ mới, đặc biệt công nghệ Trí Tuệ Nhân Tạo (KI, AI) đang đặt nhân loại trước một tình huống mới, trước một ngã rẽ quyết định. Ảnh hưởng của KI bao trùm gần như trên toàn bộ cuộc sống hàng ngày. Chúng định hình các quyết định và ảnh hưởng sâu xa đến khả năng suy tưởng của tập thể. Một mặt, chúng mở ra những cơ hội bao la, nhưng mặt khác, tiềm năng của chúng phá vỡ cuộc sống và tiêu diệt con người cũng vô cùng đáng sợ.

    “Chưa bao giờ nhân loại lại có nhiều quyền lực đối với chính mình đến vậy” [Laudato si, 104]. Nhưng, họ sẽ sử dụng quyền lực này như thế nào? Họ sẽ quyết định đi theo ngã rẽ nào?

    Sẽ dùng nó để xây một tháp Babel hay để chung tay xây dựng một Jerusalem mới? Tháp Babel và thành Jerusalem mới là hai hình ảnh trong Kinh Thánh thiên chúa giáo. Tháp Babel biểu tượng cho lòng tham thống trị và sự bất hòa giữa các dân tộc, dẫn đến xung đột và chiến tranh. Thánh Jerusalem mới tượng trưng cho sự liên đới, hợp tác, cùng thăng tiến trong hòa bình.

    Con đường Babel tất sẽ dẫn tới đổ vỡ và huỷ diệt. Vì thế, Giáo Hội thấy có trách nhiệm phải kịp thời cảnh báo. Thông điệp Magnifica Humanitas (Loài người tuyệt vời) được viết ra trong mục đích đó. 

    Vị trí và trách nhiệm của Giáo Hội

    Từ hơn 60 năm qua giáo hội công giáo đã chính thức công nhận sự tách biệt và độc lập giữa thế quyền và thần quyền [Gaudium et Spes 76]; hai thực thể này có những quy luật hoạt động riêng. Chính trị, trong đó bao gồm gần như mọi sinh hoạt khác (xã hội,  kinh tế, luật pháp, kỹ thuật v.v.) là lãnh vực thế tục. Sự vận hành độc lập của nó hoàn toàn khác với sự vận hành của Giáo Hội. Thế tục quan tâm đến “phần xác”; tôn giáo đáp ứng nhu cầu “phần hồn”.

    Thế thì tại sao Giáo Hội lại cứ “mất giờ tốn công” hoặc cứ “nhúng tay” vào những chuyện thế sự, chẳng hạn như lên tiếng bảo vệ lao động, lên tiếng cảnh báo về hoạ chiến tranh, về sự bất toàn của các thể chế tư bản và cộng sản, về tương lai bất định của sự phát triển công kỹ nghệ?

    Lời trách móc đó là điệp khúc luôn được thế quyền lặp đi lặp lại. Vì thế, Magnifica Humanitas (MH) đã dành một chương để trả lời lập luận này, đồng thời làm rõ vị trí và trách nhiệm của Giáo Hội: Vâng,  chính trị và tôn gáo là hai thực thể độc lập; mỗi thực thể có vai trò riêng, nhưng cả hai đều có một đối tượng phục vụ chung: Con người. Cộng đồng Vaticano II – “cơ quan lập pháp” cao nhất của Giáo Hội công giáo – cũng cùng một quan điểm, khi tuyên bố:

    “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” [GS 1].

    Giáo Hội “không được phép xa rời những đau khổ cụ thể của con người” [21], vì Giáo Hội ở trong trần thế. Do đó, nơi đâu có những quyết định liên quan đến phẩm giá cá nhân, đến sự nối kết các cộng đồng và đến lợi ích chung, ở đó có sự tiếp tay của Giáo Hội. Nhưng cũng cần biết, sự lên tiếng và đồng hành của Giáo Hội không “nhằm chỉ trích hoặc thay thế thế quyền, mà là vì bổn phận phải quan tâm đến những vết thương của nhân loại, nhất là ở những nơi đâu chúng biểu hiện một cách đặc biệt nghiêm trọng” [21].

    Mối liên kết hữu cơ giữa thế tục và Giáo Hội này cũng là nền móng cho một lối giáo huấn mới của Giáo Hội, vốn được bắt đầu từ giáo hoàng Leo XIII (1878-1903), khi, lần đầu tiên trong  lịch sử hiện đại, vị này trực tiếp lên tiếng trước những vấn nạn xã hội nóng bỏng của thời đại mình, với thông điệp Rerum Novarum năm 1891. 

    Một vài lên tiếng điển hình:

    – Leo XIII: Rerum Novarum (Sự Việc Mới, 1891) khẳng định, phẩm giá của lao động và của người lao động phải là tâm điểm của mọi quyết định kinh tế. Giá trị con người vượt trên cả tư bản lẫn lợi nhuận; họ có quyền được trả lương công bằng, có quyền tư hữu và quyền lập nghiệp đoàn để hợp tác với giới chủ như một giải pháp thay thế cho chủ trương “đấu tranh giai cấp”. Đó là thời của cách mạng kỹ nghệ và hậu quả của nó đã làm nảy sinh phong trào cộng sản.

    – Pius XI: Quadragesimo Anno (Năm Thứ Bốn Mươi – kỷ niệm 40 năm Rerum Novarum, 1931) lên án sự tập trung quyền lực kinh tế vào tay một số ít người; chỉ trích cả việc cạnh tranh không giới hạn của Tư Bản lẫn các chương trình tập thể hóa huỷ diệt tự do và trách nhiệm cá nhân của Cộng Sản. Đó là thời  kinh tế thế giới đại suy thóai, sau thế chiến I.

    – John XXIII: Pacem in Terris (Hoà Bình Trên Địa Cầu, 1963) khẳng định, nhân quyền là nền tảng chung của mọi trật tự và hành động; và một nền hòa bình chân chính trên địa cầu phải đặt nền trên và được bảo vệ bởi công lý, tự do và tình yêu. Pacem in Terris xuất hiện sau khi thế giới vừa tránh được một cuộc đối đầu nguyên tử nguy hiểm giữa Mỹ và Liên Bang Xô-viết ở Cuba.

    – John Paul II viết Centesimus annus (kỷ niệm 100 năm Rerum Novanrum, 1991), sau khi thế giới cộng sản vừa sụp đổ và thiên hạ giờ đây háo hức với nền dân chủ và kinh tế thị trường. Nhưng Centesimus annus chỉ cổ xuý cho nền dân chủ nào bảo đảm được sự tham gia hiệu quả của công dân, cho phép bầu cử và thay thế những người nắm quyền một cách ôn hòa; và chỉ cổ xuý cho nền kinh tế thị trường và sáng kiến ​​tư nhân nào, khi chúng tuân theo luật đạo đức và được hướng dẫn bởi nguyên tắc đoàn kết, mà không hy sinh những người dễ bị tổn thương nhất cho mục đích lợi nhuận. 

    – Benedictus XVI với Caritas in veritate (Tình yêu trong sự thật, 2009): Xét lại và đào sâu thêm khái niệm phát triển do giáo hoàng Paul VI đưa ra và đặt nó vào trong bối cảnh toàn cầu hóa.

    – Francis, với Laudato si (Chúc tụng Thiên Chúa, 2015) đề cập vấn đề khủng hoảng môi sinh hiện nay của địa cầu và đề nghị xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, trong đó phải ưu tiên quan tâm đến các tầng lớp người nghèo.

    Truyền thống tích cực lên tiếng này được tiếp nối bởi các giáo hoàng về sau. Để rồi những đóng góp đó từ từ góp phần hình thành nên “Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội” hoặc “HTXH Công Giáo” hiện đại.

    HTXH “không phải là cuốn cẩm nang về các nguyên tắc và quy tắc để áp dụng, mà là phương tiện giúp cộng đồng phân định” [27].

    Học thuyết này vận dụng các kiến thức khoa học hiện đại, được đọc dưới ánh sáng đức  tin và truyền thống Giáo Hội, để từ đó rút ra những nguyên tắc để suy tư, những tiêu chuẩn để phân định và những đường hướng để hành động [Giáo Lý Công Giáo, 2423], nhằm giúp con người tổ chức cuộc sống thăng tiến cá nhân và hòa bình xã hội.

    Thách đố của Trí Tuệ Nhân Tạo

    Giữa thế kỷ XIX, phát triển kỹ thuật đã tạo ra cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ. Cuộc cách mạng này, bên cạnh những thành công to lớn của nó, đã đẩy một phần nhân loại vào cảnh lầm than và nô lệ.

    Và hiện nay, bước vào thế kỷ XXI, nhân loại lại đứng trước một cuộc cách mạng mới, gọi là Cách Mạng Công Nghệ trên nền tảng Trí Tuệ Nhân Tạo.

    “Công nghệ này đang có nguy cơ tạo ra những hình thức mới về lệ thuộc công nghệ, gây bất lợi cho các dân tộc nghèo; lạm dụng những sáng tạo mới cho chủ trương thực dân về mặt ý thức hệ và kinh tế; dùng thuật toán để khéo léo thống trị; tập trung quyền lực một cách vô trách nhiệm vào trong tay những nền tảng kỹ thuật số và dùng sự tối ưu hóa các hệ thống làm thước đo phẩm giá con người” [Leo XIV; Vatican News, 22.8.26]. 

    Công nghệ tự nó không xấu, nhưng nó không trung tính về mặt đạo đức. Vì là sản phẩm của con người và mang nơi mình tính hai mặt, các mô hình công nghệ hàm chứa trong chúng những quyết định và những ưu tiên của người làm ra nó. Họ làm ra chúng với hậu ý gì? Họ quan niệm thế nào về con người? Họ đề cao những giá trị nào? Cũng một con dao, nếu dùng để cắt gọt là phương tiện tốt; nhưng nếu dùng để đâm chém, lại là vật khí xấu.

    Như vậy, tóm lại Trí Tuệ Nhân Tạo là gì?

    “Nó chỉ là sự bắt chước trí tuệ của con người, nhưng không phải là trí tuệ thật của con người. Nó không có kinh nghiệm, không có thân thể, không cảm nhận được niềm vui hay nỗi đau, không trưởng thành trong các mối quan hệ, và không tự mình biết thế nào là tình yêu, làm việc, tình bạn và trách nhiệm. Nó cũng không có lương tâm đạo đức: Không phân biệt được thiện – ác, không nhận ra ý nghĩa thực sự của các tình huống, và không gánh chịu hậu quả. Nó có thể bắt chước ngôn ngữ, hành vi và phán đoán (của con người). Nó có thể mô phỏng sự đồng cảm hoặc thấu hiểu, nhưng không hiểu được tác động các hành động của mình, vì nó không hoạt động trong phạm vi cảm xúc, quan hệ và tinh thần, một phạm vi mà con người đạt được bằng sự khôn ngoan của mình” [99].

    Do đó, để có thể phân định một sản phẩm công nghệ là tốt hay xấu, cần phải đặt nó trước những nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn đánh giá được HTXHCG đề ra, qua một số tra vấn như sau:

    – Công nghệ này có gây phương hại nhân phẩm không? Nó giúp con người thăng tiến hay biến họ thành đối tượng để khai thác, khi “lấy hiệu quả, khả năng kiểm soát và lợi nhuận làm nền tảng duy nhất cho các quyết định cá nhân, xã hội và  kinh tế?” [92].

    – Công nghệ đó có đóng góp vào công ích và tạo đoàn kết trong xã hội và giữa các dân tộc không? Công ích vạch trần và lên án thế độc quyền bất cân xứng của TTNT. Đoàn kết cũng có nghĩa là các chủ thể nắm dữ liệu, thuật toán, các nền tảng và trí tuệ nhân tạo phải tính đến không chỉ lợi ích trước mắt của một số ít người, mà còn phải cho tất cả mọi người và các thế hệ tương lai [76].

    – Công nghệ đó có tuân giữ nguyên tắc của cải là tài sản chung không? Không gian, địa cầu, biển, nước, khí, các tài nguyên thiên nhiên, và nay là các dữ liệu cá nhân được Thiên Chúa trao ban cho toàn thể gia đình nhân loại. Do đó, mọi người phải có quyền tiếp cận và không ai được phép chiếm giữ chúng làm của riêng [109].

    – Công nghệ đó có góp phần tạo công bằng xã hội không?

    “Công bằng trong thời đại kỹ thuật số có nghĩa là sự bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng các cơ hội cho tất cả mọi người, bảo vệ những người trẻ tuổi và dễ bị tổn thương nhất, chống lại sự thù hận và thông  tin sai lệch, đặt việc sử dụng dữ liệu và công nghệ trước sự giám sát của công chúng, và bảo đảm rằng, thước đo thành công không chỉ đơn thuần là lợi nhuận, mà là phẩm giá của mỗi người và hạnh phúc của các dân tộc” [80]. 

    Phải “giải giới” Trí Tuệ Nhân Tạo…

    Trên đây là vài nguyên tắt trong nhiều nguyên tắc và tiêu chí định hướng của HTXHCG, giúp chúng ta đánh giá một quyết định, một chính sách, một định chế, một chế độ, một kỹ thuật hay công nghệ mới.

    Như đã nói, TTNT mở ra viễn ảnh to lớn cho con người, nhưng đồng thời nguy cơ của nó cũng không nhỏ, nên cần phải rất cẩn thận trong sử dụng. Thật ra, thế giới chúng ta “không cần một thứ trí tuệ nhân tạo làm suy giảm con người; thay vào đó, thế giới cần một trí tuệ con người được soi sáng bởi sự khôn ngoan, một chính quyền được dẫn dắt bởi lương tâm, và một sự đổi mới công nghệ được thúc đẩy bởi lòng bác ái. Chỉ bằng cách này, trí tuệ nhân tạo mới không trở thành đối thủ của nhân loại, mà là người phục vụ lợi ích chung” [Leo XIV; Vatican News, 22.8.26].

    Để có một TTNT phục vụ hữu hiệu lợi ích chung của con người, nhờ được dẫn dắt bởi sự khôn ngoan của những nhà thiết kế và được giám sát bởi một chính quyền có lương tâm, Magnifica Humanitas đề nghị một cuộc “giải giới” TTNT.

    “Giải giới TTNT có nghĩa là loại bỏ nó khỏi nền tảng thi đua vũ trang, thứ vũ trang này ngày nay không chỉ mang tính quân sự, mà còn cả kinh tế và nhận thức. Cuộc đua này là làm sao để có được nền tảng thuật toán mạnh nhất và cơ sở dữ liệu lớn nhất, để củng cố lợi thế địa  chính trị hoặc thương mại của mình trên tất cả mọi người khác. Giải giới có nghĩa là phá vỡ phương trình sức mạnh công nghệ với quyền thống trị. Giải giới không có nghĩa là từ bỏ công nghệ, mà là ngăn chặn nó thống trị nhân loại. Có nghĩa là không cho nó nắm độc quyền, làm cho nó trở nên đáng nghi vấn và có thể tranh luận và nhờ đó trở nên thân thiện với cuộc sống, trả lại cho nó sự đa dạng của các nền văn hóa và lối sống của con người” [110]. 

    … để bảo vệ nhân tính

    Đòi hỏi các nhà sản xuất TTNT phải có ý hướng trong sáng và đạo đức, đòi hỏi người tiêu dùng phải ý thức việc làm của họ, đòi hỏi các chính quyền phải có trách nhiệm giám sát, tất cả cũng chỉ với mục đích gìn giữ con người, bảo vệ nhân tính trước những thử thách dồn dập và khó lường của cuộc cách mạng kỹ thuật số.

    Con người vốn bất toàn, nhưng là thụ tạo tuyệt vời so với mọi thụ tạo trần gian khác. Họ sẽ trở nên toàn hảo nhờ những thiếu sót đó, chứ không bằng cách bất chấp những thiếu sót này [118]. Họ sẽ đạt được nhân tính trọn vẹn, khi họ không chỉ là người, mà là khi họ sẵn sàng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa để giúp mình vượt khỏi bản thân, để có thể đạt đến bản chất đích thực hơn của mình. Đấy là sự khác biệt căn bản so với giấc mơ của chủ nghĩa Siêu Nhân (Trans-humanismus) và Hậu Nhân (Posthumanismus) vốn thập thò đằng sau các thuật toán [128]. Hai thứ chủ nghĩa này coi con người là một thứ vật liệu chưa hoàn chỉnh, nên cần phải được gia tăng khả năng và hiệu năng hoặc phải được tối ưu hóa thông qua máy móc và công nghệ [116].

    Gìn giữ con người, cách cụ thể, là bảo vệ Sự Thật, bảo vệ Lao Động và Sự Tự Do của họ.

    Sự Thật là điều kiện phát triển nhân cách và nền tảng xây dựng quan hệ xã hội. Hiện nay nó đang bị nhiễu loạn khắp nơi trên các mạng truyền thông và các nền tảng xã hội. Dối trá làm hư nhân cách, hủy hoại lòng  tin, tạo bất ổn xã hội. Việc thao túng các nội dung, hình ảnh và phim ảnh của TTNT làm sai lạc sự phán đoán của cá nhân, làm tập thể lạc hướng hoặc rơi vào những quan điểm một chiều. Dối trá hay thông tin sai lệch không bắt nguồn từ TTNT, nhưng nó đã tìm thấy ở đây một công cụ khuếch đại rất tốt. Các hình thức tuyên truyền không dựa trên sự thật vốn đã có từ lâu, nhưng nay nhờ TTNT chúng trở nên tinh xảo, hữu hiệu, dễ dàng và tỏa rộng hơn. 

    Gìn giữ con người cũng có nghĩa là bảo vệ phẩm giá của Lao Động và bảo vệ người lao động trước những bất an của thị trường lao động. HTXHCG coi Lao Động là chìa khóa thiết yếu để hiểu toàn bộ vấn đề xã hội, bởi vì thông qua đó, con người phát huy được nhiều khía cạnh của cuộc sống mình. Lao Động không những là phương tiện sinh kế, mà còn là nơi để thể hiện bản thân; nó giúp con người trưởng thành, đồng thời là chỗ để cá nhân kết nối và đóng góp cho cộng đồng [149, 154].

    TTNT đang làm thay đổi nhanh chóng cấu trúc công việc. Nhiều nghành nghề vốn thông dụng như thư ký, kế toán, thông dịch, tư vấn, thảo chương, phục vụ, chế tạo và lắp ráp máy móc v.v. nay đang dần bị đào thải, trong lúc những loại công việc mới do TTNT hứa hẹn thì lại chưa hình thành. Thất nghiệp đang trở thành con ma ám ảnh, tạo bất an nơi toàn xã hội. HTXHCG khẳng định, việc cung cấp công ăn việc làm cho tất cả mọi người phải là mục tiêu hàng đầu của  chính trị và các quá trình  kinh tế; nó phải là một tiêu chí để đánh giá phẩm chất của một mô hình phát triển [Caritas in Veritate 32].

    Gìn giữ nhân phẩm cũng có nghĩa là bảo vệ sự Tự Do. Điểm đặc trưng nhất nơi một con người là tự do. Tự do này được Thiên Chúa phú bẩm ngay từ đầu nơi bản chất của họ, và nay nó đang bị đe doạ bởi việc thu thập dữ liệu khổng lồ và bởi việc sử dụng các hệ thống thuật toán. Cá nhân trở thành hàng hóa, bị biến thành một mớ dữ liệu có thể kiểm soát, phân loại, định giá; tất cả rốt cuộc chỉ để tối đa hóa quyền lực và lợi nhuận của một số người. Mọi hành động như di chuyển, mua sắm, tương tác, sở thích đều dược ghi dấu, để người ta từ đó quyết định việc theo dõi, xếp hạng xã hội, cho vay tiền, nhận vào làm, được ký bảo hiểm…

    Như vậy, có nghĩa là tự do con người bị xâm phạm, và những người yếu kém bị phân biệt đối xử.

    Đấy là một hình thức nô lệ hóa mới, một bộ mặt mới của chủ nghĩa thực dân. Chủ nghĩa này không còn chỉ kiểm soát thân xác, mà còn chiếm đoạt dữ liệu và biến cuộc sống cá nhân thành thông tin có thể buôn bán. Có lắm khu vực và nhiều quốc gia nghèo hiện đang bị chi phối bởi một nền tảng bóc lột mới. Các dữ liệu sức khoẻ, hồ sơ dịch tễ học, bản đồ di tử (gen) của người dân đang trở thành những “nguyên tố đất hiếm” mới của các tập đoàn quyền lực [178]. 

    Xây dựng một nền Văn Minh Tình Thương

    Một đề tài nghiêm trọng khác gắn liền với công nghệ TTNT là Chiến Tranh. Một khi TTNT tách rời khỏi đạo đức và trách nhiệm, lúc đó nó sẽ khiến các quyết định về việc sống hay chết trở nên nhanh chóng và vô cảm hơn, biến việc sử dụng vũ lực thành một lựa chọn tức thời và khả thi. Là vì “những thành tựu khoa học và công nghệ, nếu không đi kèm với tiến bộ đạo đức và tiến bộ xã hội, rốt cuộc sẽ quay sang chống lại con người” [Paul VI; 117]. Thế giới liên lập và phân cực ngày nay ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, vì thế hòa bình là điều kiện tiên quyết cho việc sống chung và là thước đo sự trưởng thành về mặt đạo đức của các dân tộc, đặc biệt những dân tộc nắm giữ quyền lực.

    Chiến tranh đang được khai thác dưới nhiều dạng: Xung đột vũ lực (Ukraine, Gaza, Lebanon, Venezuela, Iran …), tấn công mạng, thao túng thông  tin, các chiến dịch gây ảnh hưởng và tự động hóa các quyết định chiến lược. TTNT đang tham gia vào các quá trình này với tính hai mặt của nó: Nó vừa tăng cường khả năng phòng thủ và bảo vệ dân lại vừa giúp tấn công, vì thế ranh giới giữa bảo vệ và xâm lược trở nên mờ nhạt. Nó làm giảm ngưỡng sử dụng vũ lực, làm lu mờ trách nhiệm giải trình và củng cố một nền văn hóa, trong dó kẻ thù bị thu nhỏ thành dữ liệu và nạn nhân thành “thiệt hại ngoài dự kiến” [183].

    Hiện nay, khủng hoảng của toàn cầu hóa và những hậu ý đen tối mang màu sắc dân tộc và cực đoan đã khiến cho một số quốc gia và kẻ nắm quyền dấy lên một thứ văn hóa quyền lực, trong đó người ta coi chiến tranh là chuyện bình thường: Đó là một công cụ của  chính trị quốc tế và là phương tiện đương nhiên phải có [189]. Luật pháp quốc tế vì thế bị chà đạp, thi đua vũ trang được cổ vũ, các ngành công nghiệp vũ khí được đôn đốc để hưởng lợi, trong khi các tiêu chí đạo đức hạn chế việc sử dụng vũ lực bị xói mòn.

    Ở đây, ngoài việc góp phần tạo nên những thứ vũ khí tự hành chính xác và giúp cho việc chiến tranh trở nên dễ khả thi hơn, TTNT còn đóng góp to lớn cho việc hình thành diễn ngôn về một “cuộc chiến chính nghĩa”.

    Thật ra, chẳng có cuộc chiến tranh nào có chính nghĩa cả. Mọi chiến tranh đều mang lại đau khổ và chết chóc. Giáo Hội công giáo cho đến nay vẫn chấp nhận một “cuộc chiến chính nghĩa”, khi đó là một cuộc tự vệ đích thật. Tuy nhiên quyền tự vệ này, trên thực tế, thường rất dễ bị giải thích một cách quá rộng. Người ta dùng nó để biện minh một cách bất hợp pháp ngay cả những cuộc tấn công hoặc phát động cuộc chiến tranh gọi là “phòng ngừa” [MH, ghi chú 182]. Vì thế, giáo hoàng Leo XIV muốn vượt qua khái niệm “chiến tranh chính nghĩa” này; và các giáo trụ (hồng y) trong công nghị ngày 26.6.2026 vừa qua đã đề nghị Giáo Hội từ nay nên thay thế nó bằng khái niệm “quyền tự vệ đúng mức” (Recht auf verhältnismäßige Verteidigung) hoặc “quyền tự vệ hợp pháp” (Recht auf rechtmäßige Verteidigung).

    Để chống lại và hóa giải thứ văn hóa quyền lực này, MH đề nghị thế giới hãy chung tay xây dựng một nền Văn Minh Tình Thương, đặt nền trên công lý và yêu thương, với sự chung tay góp sức của mọi người. Mỗi người có thể đóng góp phần nhỏ bé của mình như từng viên đá, mà dân Do-thái trước đây đã góp nhặt, để cùng nhau dựng lại tường thành Jerusalem đổ nát của họ.

    Mỗi người chúng ta, trong phạm vi cá nhân mình, hãy bắt đầu với những bước nhỏ, như:

    – Giải giới lời nói: Nói lời ngay thật, bình luận xây dựng, đối thoại chân thành và đặt những quy tắc này làm nền móng cho cuộc sống chung; mạnh mẽ lên tiếng trước bất công và nói không với chiến tranh [214, 219-223].

    – Xây dựng hòa bình trong công lý: Ai ai trong chúng ta cũng có thể đóng góp vào nền tảng của hòa bình, nền tảng này là công lý. Nó xuất phát từ công lý cá nhân: “Công lý của mỗi người và hòa bình của mọi người có liên hệ mật thiết với nhau” [Gioan Paul II; 215]. Nó có nghĩa là điều gì mình không muốn người khác làm cho mình thì dừng gây ra cho người khác.

    – Tập đồng cảm và nhìn từ góc độ của nạn nhân. Có những tình huống không cho phép chúng ta trốn tránh hoặc giữ thái độ trung lập: Đánh bom thường dân, tấn công bệnh viện, trường học hoặc bạo hành trẻ em… là những cái ác phải bị tố cáo và lên án [216, 217].

    – Trên bình diện quốc tế, cần phải khởi động lại việc đối thoại, tuân thủ luật pháp quốc tế và tăng cường, cải tiến các định chế quốc tế, đặc biệt cơ quan Liên Hiệp Quốc. Càng phân cực, thế giới lại càng cần có những định chế chung để quy hướng, nối kết. Trong quan hệ quốc tế, đối thoại là công cụ không thể thiếu của ngoại giao, nhằm ngăn ngừa xung đột và khôi phục lòng  tin. Nó càng đặc biệt cần thiết, vì không gian mạng hiện cũng đã trở thành một chiến trường: Các cuộc tấn công mạng, thao túng dữ liệu và các chiến dịch gây ảnh hưởng do TTNT dàn dựng có thể làm bất ổn nền  chính trị quốc gia ngay cả trước khi một cuộc xung đột vũ trang công khai nổ ra [225]. 

    ________

    Chú thích:

    (*) Thông Điệp hay Tông Thư: Là một phương tiện giáo huấn của vị đứng đầu giáo hội công giáo. Nó thường được đặt tên theo những chữ đầu của bản văn tiếng Latin.

    Tông Thư đầu tay của một giáo hoàng thường là chương trình hành động của vị đó trong nhiệm kỳ của mình. Đối tượng của một Tông Thư liên quan tới Xã Hội không chỉ là những tín hữu công giáo, mà còn gởi tới “tất cả những người thiện chí”. Nội dung thông điệp cũng không phải là tín lý buộc phải tin, nhưng mức độ huấn giáo của nó rất cao đối với tín hữu công giáo.

    Magnifica Humanitas được giáo hoàng Leo XIV ký ngày 15-5-2026, cũng là ngày cách đây đúng 135 năm giáo hoàng Leo XIII ký thông điệp xã hội đầu tiên Rerum Novarum (1891) nhằm góp phần khắc phục hậu quả của cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ.

    Muốn có bản PDF tiếng tiếng Việt, 145 trang khổ Din A5 do PTGDVNHN dịch, hãy liên lạc: cstongvietbuong@aol.com.


    Không có nhận xét nào