Header Ads

  • Breaking News

    Tài liệu trả lời các câu hỏi của Khu bộ VNQDĐ/Đông Nam Á về cụ Phan Bội Châu

    Tài liệu này để tưởng nhớ Đảng Trưởng Danh Dự Việt Nam Quốc Dân Đảng của cụ Phan Bội Châu nhân ngày giỗ của Cụ. Cụ Phan Bội Châu qua đời ngày 29 tháng 10 năm 1940.

    01/4/2024

    Đây là tài liệu trả lời trong chương trình huấn luyện mùa thu năm 2023, khu bộ VNQDĐ được hỏi về vai trò của Đảng Trưởng Danh Dự Việt Nam Quốc Dân Đảng của cụ Phan Bội Châu.


    Khu bộ Đông Nam Á.

    Cụ Phan Bội Châu (Chủ Tịch Danh Dự VNQDĐ)

    1/- Đảng Trưởng Danh Dự của VNQDĐ trong bối cảnh nào? năm? và những ai là người của VNQDĐ trong lúc bấy giờ.


    Trích từ Tài liệu chính thức của Việt Nam Quốc Dân Đảng. 

    Bài viết gốc tại đây:

    https://vietquoc.org/lich-su-dau-tranh-can-dai-viet-nam-quoc-dan-dang-2/

    DANH DỰ CHỦ TỊCH ĐẢNG 

    Tổng Bộ nhiệm kỳ II, Nguyễn Thế Nghiệp không tham dự nên anh có dịp vào Sài Gòn. Tại nơi đây, Nguyễn Thế Nghiệp đã xuất bản một tạp chí bằng Pháp ngữ, nhan đề là “Revue Economique”.

    Trong dịp này Nguyễn Thế Nghiệp lại bắt liên lạc được với Vũ Đình Dy và Nguyễn Văn Ngọc  mới từ Ba Lê (Paris) trở về nước. Sau nhiều lần trao đổi ý kiến, ba người cùng nhau trở ra Hà Nội.

    Một cuộc họp “Mật” tại nhà đồng chí Nguyễn Ngọc Sơn ở phố Nhà Hỏa, Hà Nội. Đại diện VNQDĐ có Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Nghiệp và Hoàng Văn Tùng; đại diện Phục Việt tức VNĐLĐ hợp nhất có Nguyễn Đình Dy, Nguyễn Đắc Lập và Nguyễn Văn Ngọc.

     Mục đích cuộc họp “Mật” này là vấn đề thống nhất giữa VNQDĐ và VNĐLĐ nhưng không thu lượm được kết quả, vì Đại Biểu VNQDĐ vẫn giữ vững lập trường là phải thống nhất dưới danh hiệu “Việt Nam Quốc Dân Đảng”.

    Ngày 15 tháng 9, phiên họp Tổng Bộ theo thường lệ. Ngoài các vấn đề hệ trọng đã được giải quyết. Cuối cùng trở lại “vấn đề thống nhất các lực lượng cách mạng quốc gia”. Tổng Bộ quyết định cử Đại Biểu vào Huế vấn an cụ Phan Bội Châu, tặng cụ chức “Danh dự Chủ Tịch Đảng” và yêu cầu cụ giúp Đảng hai việc:

     1) Yêu cầu cụ đem uy tín và đạo đức của cụ ra thuyết phục để thống nhất các đảng phái.

     2) Yêu cầu cụ giúp đỡ về phương diện ngoại giao, vì cụ quen biết nhiều các chính khách ngoại quốc.

    Vị Đại Biểu được Tổng Bộ đề cử là lão đồng chí Đặng Đình Điển lên đường vào Huế ngày mồng 2 tháng 10. Hai nhà lão thành cách mạng gặp nhau rất tương đắc, hoan hỉ vô cùng. Cụ Phan đã vui lòng nhận là một đảng viên của VNQDĐ, cụ nói: 

      “Tôi tuy già yếu thật, nhưng nếu có thể giúp ích được gì cho Tổ Quốc, thì tôi nguyện đem hết sức mình phục tòng mệnh lệnh của Đảng.”

    Đến khi chia tay từ biệt, cụ Phan Sào Nam trao cho lão đồng chí Đặng Đình Điển một tấm danh thiếp, phía sau đề 4 chữ “Khả dĩ đoạn kim” đề phòng khi Tổng Bộ có cử phái viên vào, thì cầm tấm danh thiếp ấy làm tin. Sự tham gia của nhà ái quốc Phan Bội Châu đã làm tăng uy tín cho VNQDĐ rất nhiều, các đảng viên đảng ấy vô cùng phấn khởi....

    2/- Có bao giờ Việt Minh và Phong trào Đông Du gặp nhau hay hợp tác


    Phong trào Đông Du...bắt đầu từ năm 1905..sau khi cụ Phan Bội Châu về nước. Và tan rã năm 1909.

    Phong trào Việt Minh thành lập năm 1940.

    Về câu hỏi này...cần thận trọng khi có kết luận, nhưng  chắc chắn là không vì 2 lẽ:

    Phong trào Việt Minh:

    Trích: 

    Thành lập

    Tháng 10 năm 1940, tại Quế Lâm, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội (trước có tên là Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội, do Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần và một số chính trị gia khác thành lập năm 1936), đã mời ông Hồ Học Lãm đứng ra chủ trì để các đảng viên cộng sản Việt Nam tại Trung Quốc có danh nghĩa hợp pháp để hoạt động tại Trung Quốc. Chủ trương này xuất phát từ chỗ Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương (thành lập năm 1939, là tiền thân của Việt Minh sau này) là một tổ chức không phải là cộng sản và người sáng lập của tổ chức này là Hồ Học Lãm có quan hệ tốt với Nguyễn Ái Quốc. Những đảng viên cộng sản Việt Nam giới thiệu với Lý Tề Thâm, Chủ nhiệm Hành dinh khu Tây Nam Trung Hoa Quốc dân Đảng, rằng Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương là tổ chức chính trị lớn bên cạnh Đảng Cộng sản Đông Dương. Đảng Cộng sản Đông Dương có ảnh hưởng trong giai cấp công nhân thành thị còn Mặt trận Phản đế hoạt động chủ yếu trong các tầng lớp trên ở nông thôn. Người đồng sáng lập Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội là Nguyễn Hải Thần tuy không đồng ý với việc Đảng Cộng sản Đông Dương sử dụng danh nghĩa Mặt trận Phản đế để hoạt động vẫn hợp tác với Đảng Cộng sản. 


    Phát động phong trào Đông Du 

    Phan Bội Châu cùng các thành viên nòng cốt trong hội Duy Tân, sau khi bàn bạc đã đề xướng việc lập các hội nông, công, thương, để vừa tập hợp đoàn kết lực lượng, vừa lấy đó làm cơ sở kêu gọi thanh niên xuất dương và là cơ quan tài chính giúp đỡ phong trào Đông Du. 

    Song song với các hoạt động trên, các thành viên của phong trào còn sáng tác nhiều thơ ca yêu nước như: "Hải ngoại huyết thư", "Việt Nam Quốc sử khảo", "Tân Việt Nam", "Sùng bái giai nhân" (Phan Bội Châu), "Viễn hải quy hồng" (Nguyễn Thượng Hiền), "Kính cáo toàn quốc" (Cường Để), v.v...gửi về nước tuyên truyền cổ động nhân dân hưởng ứng phong trào. 

    Vì vậy, sau khi phát động, phong trào Đông Du đã được đông đảo người dân ở cả ba kỳ tham gia và ủng hộ, nhất là ở Nam Kỳ. 

    Ở Nam Kỳ, phong trào Đông Du đã nhận được sự giúp đỡ rất tích cực của tri phủ Trần Chánh Chiếu. Ông này đã lập ra khách sạn Nam Trung để làm nơi gặp gỡ của những người yêu nước, lập Minh Tân công nghệ xã, để vừa chấn hưng công-thương-nghiệp, vừa để có tiền ủng hộ phong trào Đông Du. Ngoài ra, với vai trò là chủ bút tờ Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn, ông còn cho đăng báo những bài có tư tưởng chống Pháp. Nhiều nhân sĩ khác ở đây cũng tích cực tham gia và hết lòng lo cho sự nghiệp chung như Đặng Thúc Liêng, Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn An Khương, Bùi Chí Nhuận, Đặng Minh Chương,.... 

    Tháng 10 năm 1905, Phan Bội Châu trở lại Nhật Bản cùng với 3 thanh niên (Nguyễn Thức Canh, Nguyễn Điền, Lê Khiết), sau đó lại có thêm 5 người nữa (trong đó có hai anh em Lương Ngọc Quyến, Lương Nhị Khanh và Nguyễn Văn Điến). 

    Năm 1906, Cường Để qua Nhật, được bố trí vào học Trường Quân sự Tokyo (Đông Kinh Chấn Võ Học Hiệu) cùng với Lương Ngọc Quyến. Kể từ đó cho đến năm 1908, số học sinh sang Nhật du học lên tới khoảng 200 người, hầu hết đều vào học tại trường Đông Á Đồng Văn thư viện - một trường của Nhật tại tô giới của Nhật ở Thượng Hải (Trung Quốc), sinh hoạt chung trong một tổ chức có quy củ gọi là Cống hiến hội... 

    Phong trào tan rã 

    Lúc bấy giờ, các cuộc vận động duy tân ở trong nước của các tổ chức Duy Tân hội, phong trào Duy Tân (phát động năm 1906) và Đông Kinh nghĩa thục (thành lập tháng 3 năm 1907) đã tạo nên một không khí cách mạng về dân trí rất sôi nổi. 

    Phong trào Đông Du cũng đã và đang lan rộng khắp Bắc, Trung, Nam; và việc học tập của lưu học sinh ở Nhật cũng đã ổn định và đang phát triển thuận lợi. 

    Tháng 3 năm 1908, phong trào "cự sưu khất thuế" (tức phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ) nổi lên rầm rộ ở Quảng Nam, rồi nhanh chóng lan ra các tỉnh khác. Bị thực dân Pháp đưa quân đàn áp, nhiều hội viên trong phong trào Duy Tân và Duy Tân hội bị bắt, trong số đó có Nguyễn Hàm, một yếu nhân của hội. 

    Đang khi ấy ở Nam Kỳ, Trần Chánh Chiếu (một trong số người tích cực ủng hộ Phong trào Đông Du ở Nam Kỳ) lại cho đăng những bài có tư tưởng chống Pháp. Vì thiếu chứng cớ, chính quyền thực dân không thể kết án ông, nhưng kể từ đó nhiều người cùng hoạt động với ông, họ bí mật khủng bố. 

    Thêm một cái cớ nữa để thực dân ra sức đàn áp, đó là vào tháng 3 năm 1908, các phụ huynh của du học sinh ở Nam Kỳ lại gửi thư công khai theo đường bưu điện cho Phan Bội Châu nhắn là cử người về nhận tiền quyên góp. Hay tin, thực dân Pháp bèn bố trí người và bắt được Hoàng Quang Thành và Đặng Bỉnh Thành cùng với mọi giấy tờ, khi tàu vừa cập bến Sài Gòn. Lập tức, các phụ huynh bị buộc phải gọi các con em đang du học tại Nhật về, các hội buôn có dính líu đến phong trào bị khám xét và những người có liên quan đều bị bắt bớ... 

    Tháng 6 năm đó, lại xảy ra vụ Hà thành đầu độc khiến chính quyền thực dân càng ra sức đàn áp các phong trào và tổ chức cách mạng Việt Nam. 

    Đặc biệt, để làm tan rã phong trào Đông Du, Pháp còn ký với Nhật hiệp ước vào tháng 9 năm 1908. Theo đó, Pháp cho Nhật vào Việt Nam mua bán; đổi lại, Nhật sẽ không cho các nhà cách mạng và lưu học sinh Việt Nam ở Nhật nữa. 

    Sau khi cử cảnh sát đến trường Đông Á đồng văn thư viện để giải tán tất cả các học sinh người Việt, tháng 3 năm 1909, Cường Để và Phan Bội Châu cũng bị trục xuất. Đến đây, phong trào Đông Du mà Phan Bội Châu và Duy Tân hội đã dày công xây dựng hoàn toàn tan rã, kết thúc một hoạt động quan trọng của hội. 

    3/- Cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh hai đường lối đấu tranh khác nhau nhưng có bổ sung cho nhau không vậy Anh?

    Trích từ bài viết: Phan Bội Châu- Phan Châu Trinh: Tương Phản Nhi Tương Thành? 

    Tác giả: Cao Văn Thức. Nguồn bài viết :

    https://nghiencuulichsu.com/2020/07/06/phan-boi-chau-phan-chau-trinh-tuong-phan-nhi-tuong-thanh/


    Trích: ... TƯƠNG PHẢN NHI TƯƠNG THÀNH

    2.1. Gặp gỡ giữa hai nhà yêu nước 

    Trong quá trình hoạt động cách mạng, PBC và PCT đã có 3 lần gặp gỡ nhau để đàm đạo việc nước.

    Lần thứ nhất là cuộc gặp gỡ tại kinh đô Huế vào năm 1903. Lúc bấy giờ, sau khi đỗ Giải nguyên trường Nghệ, PBC xin vào học tập ở trường Quốc Tử Giám để chờ dự khoa thi Hội năm Giáp Thìn (1904), nhưng mục đích là tìm bạn đồng chí để hoạt động cách mạng. Tại kinh đô, PBC và PCT đã có cuộc gặp gỡ, đàm đạo với nhau. Buổi đầu gặp nhau giữa hai nhà chí sĩ được Huỳnh Thúc Kháng ghi lại trong tác phẩm Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử: “ Ông Phan Bội Châu hiệu Sào Nam, người Nghệ An, là một người chí sĩ ái quốc như tiên sinh, độ đó cũng vào ở Huế, mượn tiếng học trường Giám đi thi Hội để tìm người đồng chí, có làm quyển “Lưu Cầu huyết lệ tân thư”, mượn tiếng Lưu Cầu để nói việc nước mình và tỏ ý kiến cho người trong nước.

    Tiên sinh đã nghe tiếng ông Sào Nam, lại thấy sách ấy, cho là người hào kiệt nóng lòng việc nước, mà kiến thức thì chưa thoát vòng khuyên sáo cũ. Dịp đó rồi hai người gặp nhau, nghị luận tuy có chỗ không hợp nhau, nhưng mà vẫn phục nhau, có cùng nhau bàn việc phế khoa cử, lập hội thương trường học….”(2) Như vậy, có thể thấy hai nhà chí sĩ họ Phan đều có chung mục đích cứu nước, những biện pháp tiến hành có phần khác nhau: PBC nôn nóng bạo động, còn PCT nhận thấy thời thế chưa phù hợp nên chưa thể bạo động, vì vậy về phương pháp đấu tranh, hai nhà chí sĩ họ Phan không đồng quan điểm với nhau. Tuy vậy, buổi đầu giữa hai nhà chí sĩ đã có sự hợp tác với nhau ở một số việc nhất định như bàn bạc phế bỏ khoa cử Hán học, lập hội thương, trường học… mặc dầu những việc đó chưa đem lại kết quả, nhưng đã chứng tỏ tinh thần hợp tác và quý trọng nhau vì tấm lòng yêu nước của hai nhà chí sĩ họ Phan.

    Lần thứ hai là cuộc gặp gỡ vào năm 1904 ở nhà Huỳnh Thúc Kháng tại làng Thạnh Bình, nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Trong tác phẩm Tự Phán, PBC có chép lại cuộc gặp gỡ này: “ Ngày tháng 7 năm ấy, tôi mượn tiếng là đi mừng bảng Hội, bắt đầu ở nhà Tiểu La, thăm nhà cụ Hoàng Thạnh Bình (cụ Huỳnh Thúc Kháng), vừa đụng cụ Tây Hồ, cụ Trần Thái Xuyên, thảy đều ở đó, nói chuyện suốt đêm rất vui. Tôi lấy ý sắp sửa ra đi ngỏ với các ngài, các ngài dòm nhau cười mỉm, chúc tôi thành công”(3). Năm 1904, vào thượng tuần tháng tư tại nhà Tiểu La Nguyễn Thành, PBC đã cùng các đồng chí thành lập tổ chức Duy Tân hội, sau đó chuẩn bị kế hoạch sang Nhật tìm viện trợ để tiến hành đấu tranh bạo động vũ trang chống Pháp. Trước khi lên đường, PBC đã tìm đến nhà Huỳnh Thúc Kháng với cớ chúc mừng cụ Huỳnh vừa đỗ tiến sĩ trong khoa thi Hội năm này, nhưng mục đích là bí mật thông báo cho các chí sĩ xứ Quảng biết về việc thành lập Duy Tân hội và kế hoạch xuất dương của mình.

    Qua chi tiết trong hồi ký, như “nói chuyện suốt đêm rất vui” chứng tỏ giữa các nhà chí sĩ Quảng Nam và PBC không hề xảy ra tranh luận gay gắt do bất đồng ý kiến, mà ngược lại là sự tâm đầu ý hợp, và động thái “dòm nhau cười mỉm, chúc tôi thành công” chứng tỏ một sự đồng cảm với nhau về công cuộc cứu nước.

    Lần thứ ba  là cuộc gặp gỡ ở Nhật Bản năm 1906. Đầu năm 1905, PCT từ chức Thừa biện Bộ Lễ, cùng với hai người bạn thân là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng tổ chức cuộc “Nam du” vào các tỉnh Nam Trung Bộ để vận động duy tân. Khi trở về Quảng Nam, nghe tin PBC đã sang Nhật, PCT liền bí mật đi Nhật để gặp ông: “…tiên sinh trở về ra đến Phú Yên, được tin ông Sào Nam sang Nhật Bản, tiên sinh liền về Quảng Nam…bàn việc đi Bắc. Tiên sinh được những sách của ông Sào Nam ở Đông gửi về, vẫn lấy làm phục, mà cũng có chỗ không bằng lòng, muốn sang Nhật cho giáp mặt ông mà thương xác một đôi chỗ”(4). PBC sang Nhật vận động chính phủ nước này giúp đỡ khí tài, vật chất để đánh Pháp, đồng thời viết sách cổ động nhân dân trong nước nổi dậy đấu tranh bạo động chống chính quyền thực dân. PCT nhận thấy PBC nôn nóng bạo động, chưa phù hợp với hoàn cảnh thực tế của nước ta lúc bấy giờ, nên đã vội vã sang Nhật để trao đổi.

    Có thể nói cuộc gặp lần thứ ba này là cuộc gặp cuối cùng và đỉnh cao của hai nhà cách mạng. PBC đã kể lại trong Tự Phán cuộc gặp gỡ này: “Hạ tuần tháng hai, cụ Tây Hồ tới Hương Cảng…tôi đem bài Khuyến Du Học cho cụ xem, cụ khen hay. Đến xem tới Duy Tân hội chương trình, cụ lặng thinh, không trả lời…Hồi tôi lên Đông Kinh, cụ Tây Hồ cũng đi với tôi, thăm quan khắp các học đường, vào khảo sát khắp những công việc chính trị, giáo dục của Nhật Bản, cụ bảo tôi rằng: “Trình độ dân Nhật Bản như thế, mà trình độ dân ta như thế, không nô lệ làm sao được! Được bấy nhiêu học sinh vào nhà học Nhật Bản là sự nghiệp rất lớn của ông. Từ nay nên lưu đông yên nghỉ, chăm việc làm sách, bất tất nói bài Pháp làm gì. Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính lần được.

    Từ đó luôn 10 ngày hơn, tôi với cụ bàn bạc, ý kiến rất trái nhau: cụ thì muốn đánh đổ quân chủ, mà cốt vun trồng lấy nền tảng dân quyền, hãy dựa vào Pháp mà đánh đổ quân chủ. Còn ý tôi thì trước muốn đánh đổ người Pháp, chờ lúc nước nhà độc lập rồi mới bàn đến việc khác. Đương lúc đánh với Pháp phải lợi dụng quân chủ.

    Chính kiến của hai người rất phản đối nhau: Cụ với tôi vẫn đồng một mục đích, mà thủ đoạn thì khác nhau…Tuy nhiên chính kiến vẫn trái nhau, mà ý kiến ưa nhau….

    Tôi đưa cụ Tây Hồ về Hương Cảng. Lần ấy là tiễn biệt lúc cuối tháng, cụ có nói với tôi rằng: “Ông hết sức trân trọng. Quốc dân hy vọng chỉ nơi mình ông…”. Tôi kính vâng lời đinh ninh tái hội và cậy nói với các ngài như cụ Thạnh Bình, Thai Xuyên, Tập Xuyên hết sức mở dân trí, kiết tập đoàn thể, sẽ làm hậu thuẫn”(5). 

    Đoạn hồi ký của PBC cho thấy rằng cuộc gặp gỡ năm 1906 giữa ông và PCT là để trao đổi với nhau về chủ trương cứu nước. Qua đó thấy có sự khác nhau là PBC đặt mục tiêu bạo động chống Pháp trước hết, còn PCT thì khuyên nên cải cách dân chủ rồi mới tính đến việc khác, ý ông là chưa vội bạo động non mà phải có bước chuẩn bị điều kiện, thực lực đầy đủ.

    Và trong lần gặp gỡ này, hai ông đã có sự phân công nhiệm vụ. Điều này PBC đã viết trong bài “Cụ Tây Hồ”, sau ngày PCT qua đời: “Tôi còn nhớ khi ông sang Nhật tìm tôi, gặp nhau ở Bính Ngọ Hiên tại Hoành Tân, ông bảo tôi rằng: “Cả nước ngủ mê, tiếng thở như sấm, mà Bác đứng ngoài muôn dặm, kêu gào hò hét, có được công hiệu là bao nhiêu, tất phải có người ở trong gõ trán xách tai người ta mà đánh thức dậy, thì hoạ chăng lòng người mới không đến nỗi chết hết. Nay tôi về trong nước đóng vai Mã Chí Nê, còn Bác ở ngoài làm Gia Lý Ba Đích, chia ra làm hai đường mà đều đi tới, chúng ta lấy cái chết thề cùng nhau cho có thuỷ có chung”. Ông nói xong, tôi kính cẩn vâng lời”(6).  

    Mã Chí Nê hoặc Mã Chí Ni (Mazzini) và Gia Lý Ba Đích (Garibaldi) cùng với Cavour là ba nhà cách mạng kiệt xuất cận đại nước Ý. Học giả Lương Khải Siêu đã viết về chân dung ba nhà cách mạng này qua cuốn Ý Đại Lợi kiến quốc tam kiệt truyện. Tác phẩm này PBC đã được đọc năm 1905, khi sang Nhật và được gặp Lương Khải Siêu cho xem khi còn ở dạng bản thảo; năm sau, Phan Châu Trinh qua Nhật cũng được đọc tác phẩm này: “…Phan Châu Trinh đã được đọc Ý Đại Lợi kiến quốc tam kiệt truyện và cũng như Phan Bội Châu  đều “sùng bái” Mã Chí Ni, cùng chia sẽ nhận thức “giáo dục và bạo động đồng thời tịnh hành”(7). Hai nhà cách mạng họ Phan đã phân chia nhau nhiệm vụ: PCT làm Mã Chí Nê về nước vận động duy tân, PBC ở nước ngoài làm Gia Lý Ba Đích chuẩn bị quân đội, vũ khí chờ thời cơ để cùng phối hợp tiến tới giải phóng đất nước. Không phải ngẫu nhiên mà PCT đã có thêm biệt hiệu Hy Mã sau khi từ Nhật Bản trở về. Hy Mã tức hy vọng trở thành Mã Chí Nê. Vậy ông tự xem mình là Mã Chí Nê thì tất nhiên Gia Lý Ba Đích phải là PBC. Và con đường đấu tranh của họ tất nhiên là “giáo dục và bạo động đồng thời tịnh hành”.

    Vì vậy, hai đường lối bạo động và duy tân chỉ là hai mặt của một con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự khác nhau về hình thức chỉ là tiểu dị, mà sự giống nhau về mục đích là đại đồng...

    Thực hiện Việt Nam Quốc Dân Đảng /Khu bộ Đông Nam Á


    Không có nhận xét nào