Kỳ 6, Phần V
Đinh Hoàng Thắng
October 4, 2026
“….LỜI CUỐI CỦA TÁC GIẢ…. Khảo luận dừng lại ở đây.
Cuộc tìm đường thì chưa.
Những con đường có thể khác nhau.
Đồng quy nhi thù đồ.
Nhưng đi những con đường khác nhau cũng không nhất thiết phải trở thành kẻ thù.
Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh từng khác nhau sâu sắc về phương cách cứu nước. Lịch sử Việt Nam sau họ còn chứng kiến những bất đồng lớn hơn nhiều, có những bất đồng được giải quyết bằng chiến tranh và để lại vết thương qua nhiều thế hệ.
Nhưng nếu lịch sử cuối cùng chỉ còn là cuộc tranh giành để chứng minh đường của mình đúng và đường của người khác sai, một dân tộc rất có thể thắng được quá khứ mà đánh mất tương lai.
Cùng hướng về một chân trời chung vì vậy không có nghĩa tất cả phải đi tới cùng một mô hình chính trị, cùng một học thuyết hay cùng một quan niệm về đời sống tốt đẹp.
Có thể còn một tầng sâu hơn để gặp nhau: phẩm giá con người; quyền của mỗi thế hệ được tham gia lựa chọn tương lai của mình; khả năng sống chung trong khác biệt; và trách nhiệm không trao số phận cộng đồng cho bất kỳ chân lý tuyệt đối nào”.

Sài Gòn/TP.HCM. Photo: DUYTRG TRUONG, pexels.
26. Chuẩn bị cho một tương lai chưa được đặt tên
Nhưng ngay cả khi một xã hội có thể phát triển năng lực của mình, vẫn còn một câu hỏi khó hơn: năng lực để làm gì, nếu không ai biết chắc thế giới vài chục năm nữa sẽ ra sao?
Trong phần lớn lịch sử hiện đại, phát triển thường được hình dung như một hành trình có thể vạch tương đối rõ: công nghiệp hóa, đô thị hóa, phổ cập giáo dục, tích lũy vốn, tăng năng suất rồi chuyển từ lao động giản đơn sang các ngành có giá trị cao hơn.
Những bước ấy vẫn chưa mất hết ý nghĩa. Nhưng thế kỷ XXI đang khiến khoảng cách giữa các bậc thang – thậm chí hình dáng của chính chiếc thang – ngày càng khó dự báo.
Biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh giữa các cường quốc, phân mảnh thương mại, công nghệ sinh học, tự động hóa và đặc biệt là trí tuệ nhân tạo đang vận động với những tốc độ khác nhau nhưng tác động lẫn nhau. Một quốc gia có thể xây dựng chiến lược cho một thế giới mà chỉ mười năm sau, một số giả định nền tảng của chiến lược ấy đã thay đổi.
Bởi vậy, chuẩn bị cho tương lai không thể chỉ có nghĩa là dự báo đúng tương lai.
Năng lực sâu hơn là vẫn có thể sống và hành động khi dự báo của chúng ta sai.
Điều đó làm thay đổi chính cách hiểu về hoạch định. Một kế hoạch tốt không phải tấm bản đồ bắt tương lai phải đi theo những con đường đã vẽ. Nó phải có khả năng tự cập nhật khi địa hình thay đổi.
Một nền giáo dục tốt không thể chỉ đào tạo con người cho những nghề đang tồn tại. Nó phải giúp họ có khả năng học lại khi nghề nghiệp thay đổi. Một nền kinh tế có sức chống chịu không thể chỉ được tối ưu hóa cho những điều kiện thuận lợi; nó phải có khả năng đổi nhà cung cấp, công nghệ và phương thức tổ chức khi những mối liên kết quen thuộc bị đứt gãy.
AI đang đẩy thách thức ấy tới giới hạn của trí tưởng tượng.
Vấn đề không chỉ là máy móc ngày càng làm được những việc trước đây con người làm. Quan trọng hơn, tốc độ biến đổi công nghệ có thể vượt xa khả năng thích nghi của giáo dục, pháp luật, tổ chức lao động và những chuẩn mực đạo đức được tạo ra để điều chỉnh các sáng tạo mới cùng những hệ quả ngoài dự kiến của chúng.
Khoảng cách ấy càng rộng, xã hội càng dễ rơi vào nghịch lý: nắm trong tay những công cụ cực kỳ mạnh nhưng chưa biết mình thực sự muốn dùng chúng để làm gì.
Vì vậy, Việt Nam không thể chỉ hỏi cần bao nhiêu trung tâm dữ liệu, phải đào tạo bao nhiêu kỹ sư AI hay đang đứng thứ bao nhiêu trên bảng xếp hạng công nghệ. Những câu hỏi ấy cần thiết nhưng chưa đủ.
Vấn đề còn phải hỏi: con người cần được chuẩn bị thế nào khi máy móc có thể đảm nhiệm một phần lao động trí óc? Giáo dục phải dạy gì khi tri thức có thể được truy xuất gần như tức thời? Ai chịu trách nhiệm khi ngày càng nhiều quyết định có sự tham gia của thuật toán? Và xã hội sẽ phân bổ cơ hội ra sao nếu năng suất tăng lên nhưng thành quả của năng suất ấy ngày càng tập trung vào một số ít người?
Hôm nay chưa ai có câu trả lời đầy đủ.
Chính vì thế, điều cần thiết không phải một giáo điều mới về AI, mà là năng lực học hỏi ngay trong khi tương lai đang hình thành.
Năm năng lực nói trên có thể được vận dụng ở đây mà không biến thành một kiến trúc kinh tế–xã hội cứng nhắc. Xã hội phải kết nối với những trung tâm tri thức mới nhưng vẫn giữ được khả năng phán đoán độc lập và nhân bản; phải mở không gian thử nghiệm nhưng biết nhận diện rủi ro; phải kiến tạo đủ nhanh để không bị bỏ lại phía sau nhưng cũng đủ khôn ngoan để hiểu rằng làm được một việc không có nghĩa là nên làm việc ấy; và phải biết kết hợp nhiều nguồn tri thức, bởi không một thiết chế hay thế hệ nào có thể hiểu hết những thay đổi đang đến.
Thế kỷ XX từng chứng kiến con người trao những quyền năng phán đoán khổng lồ cho các hệ tư tưởng tự nhận đã nắm được quy luật của lịch sử.
Thế kỷ XXI không nên lặp lại sai lầm ấy dưới một hình thức mới: trao quyền phán quyết cuối cùng cho thuật toán chỉ vì nó xử lý được nhiều dữ liệu hơn con người.
AI có thể trở thành một đối tác trí tuệ phi thường. Nó có thể mở rộng năng lực nghiên cứu, giáo dục, y tế, sản xuất và quản trị. Nhưng khả năng tính toán không đồng nghĩa với trách nhiệm đạo đức; cũng như biết được rất nhiều phương án không đồng nghĩa với biết một cộng đồng nên chọn phương án nào.
Quyền phán quyết cuối cùng vì thế phải gắn với con người — không phải vì con người luôn sáng suốt, mà chính vì con người phải chịu trách nhiệm về thế giới mình tạo ra.
Ở đây, khái niệm năng lực có thêm một tầng nghĩa. Năng lực cần cho tương lai không chỉ là khả năng làm được nhiều hơn. Nó còn là khả năng biết điều gì không nên làm; khả năng thay đổi khi điều mình tin không còn đúng; khả năng hợp tác với những người không giống mình; và khả năng giữ lại nhiều lựa chọn khi tương lai chưa thành hình.
Theo nghĩa ấy, một xã hội mạnh không phải là xã hội biết chắc năm mươi năm nữa mình sẽ ở đâu. Không ai có thể biết điều đó.
Đó là xã hội không tự khóa mình vào một khả năng duy nhất.
Giáo dục giữ cho những khả năng mới còn có thể xuất hiện. Khoa học kiểm nghiệm những điều tưởng như chắc chắn. Pháp luật ngăn quyền lực tùy tiện đóng cánh cửa của người khác. Thị trường mở không gian cho thử nghiệm và sáng kiến nhưng cũng cần những giới hạn để quyền lực kinh tế không trở thành một thứ quyền lực không phải giải trình. Văn hóa và ký ức giúp cộng đồng không đánh mất mình trong khi thay đổi. Và những thiết chế có khả năng tự sửa sai giúp xã hội quay lại khi nhận ra con đường đang đi không còn phù hợp.
Nhìn từ đó, năng lực cao nhất có lẽ không phải là khả năng chọn đúng con đường.
Mà là khả năng tạo thêm những con đường có thể lựa chọn và bảo vệ quyền của xã hội được lựa chọn giữa những con đường ấy.
Tân Đạo Việt vì thế không dự báo Việt Nam sẽ trở thành cái gì. Nó cũng không thể viết sẵn bản thiết kế cho những thế hệ chưa sinh ra. Tham vọng khiêm nhường hơn là đặt một câu hỏi: Việt Nam cần chuẩn bị những năng lực nào để khi tương lai đến khác với những gì hôm nay ta hình dung, người Việt vẫn không đánh mất quyền tự mình trả lời câu hỏi họ muốn trở thành ai?
Đạo Việt phải được nuôi dưỡng từ những gì riêng có của người Việt — từ truyền thống đạo lý và niềm tự hào của một cộng đồng — để chuyển những phẩm chất ấy thành năng lực phù hợp và hữu ích cho hôm nay, rồi tiếp tục tái tạo năng lực ấy hết lần này đến lần khác trong tương lai.
Đến đây, câu hỏi về năng lực đã đi tới giới hạn của nó. Phần còn lại trở về với câu hỏi đã âm thầm đi cùng toàn bộ khảo luận: nếu không có một con đường duy nhất được viết sẵn bởi định mệnh hay áp đặt bởi một hệ tư tưởng; nếu lịch sử không có sẵn tấm bản đồ cuối cùng; và nếu mỗi thế hệ đều phải tự chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình, thì liệu những con đường khác nhau vẫn có thể gặp nhau trong hòa hợp ở một chân trời chung?
TỔNG KẾT CHUNG
“TÂN ĐẠO VIỆT: ĐỒNG QUY NHI THÙ ĐỒ”
Đi qua năm phần của Tân Đạo Việt, người đọc có quyền đặt câu hỏi: nếu có thể có một “Tân Đạo Việt”, liệu cũng có thể có một con đường mới của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay những cộng đồng khác? Và nếu mỗi dân tộc đều có thể tìm đường riêng, liệu Tân Đạo Việt cuối cùng có trở thành một thứ chính thống mới, khép kín trong tính địa phương của chính mình?
Câu trả lời phải bắt đầu từ chính giới hạn của khảo luận này.
Tân Đạo Việt không có tham vọng tìm ra một “chính thống mới” cho khu vực hay thế giới, càng không tự coi mình là con đường đã được định sẵn cho tương lai Việt Nam. Tân Đạo Việt đặt lại vấn đề về mọi niềm tin vào một “con đường duy nhất”. Bởi vậy, nếu cuối cùng chính nó lại tự nhận mình là “con đường duy nhất” cho Việt Nam, nó sẽ tự phủ định tiền đề của chính mình.
Trần Quốc Vượng từng gợi ra một cách nhìn mà khảo luận này nhiều lần muốn trở lại: đặt “giọt Việt Nam” trong đại dương lịch sử nhân loại, đồng thời nhìn thấy đại dương ấy trong chính giọt Việt Nam.
Hình ảnh ấy giúp tránh hai cực đoan.
Một là coi Việt Nam đặc biệt đến mức kinh nghiệm và bài học của thế giới không còn ý nghĩa. Hai là coi Việt Nam chỉ như một quân cờ nhỏ trên bàn cờ các cường quốc, với số phận chủ yếu do những lực lượng bên ngoài quyết định.
Cả hai đều làm nghèo lịch sử.
Việt Nam chưa bao giờ tồn tại bên ngoài khu vực và thế giới. Phật giáo, Nho giáo, văn minh Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ, Công giáo, tư tưởng Khai sáng, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa Marx, kinh tế thị trường, Internet và giờ đây là trí tuệ nhân tạo — tất cả đã hoặc đang đi vào đời sống Việt Nam.
Nhưng mỗi khi đi qua Việt Nam, chúng cũng được lựa chọn, biến đổi, thích nghi, chống lại hoặc Việt hóa. Cái từ bên ngoài đi vào trở thành một phần của bên trong; còn chính cái bên trong cũng không ngừng thay đổi qua những lần gặp gỡ với thế giới.
Tân Đạo Việt vì vậy không đi tìm một “ngoại lệ Việt Nam”. Nó cũng không tìm một mô hình nước ngoài để Việt Nam sao chép.
Điều nó tìm kiếm khiêm nhường hơn: đặt kinh nghiệm Việt Nam vào dòng lịch sử chung của nhân loại mà không từ bỏ quyền của người Việt được tự suy nghĩ và tự chịu trách nhiệm về tương lai của mình.
Từ Chu kỳ đến Năng lực
Nếu phải tìm một sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ khảo luận này, có lẽ đó không phải một học thuyết mà là một chuỗi câu hỏi.
Chu kỳ bắt đầu từ nhận thức về tính hữu hạn. Không một trật tự lịch sử nào tồn tại mãi chỉ vì nó đã tồn tại lâu. Không một thiết chế nào đứng ngoài sự bào mòn của thời gian. Và không thế hệ nào có thể mặc nhiên coi hoàn cảnh mình đang sống là hình thái cuối cùng của lịch sử.
Nhưng nhận ra tính hữu hạn của các trật tự lịch sử lại dẫn đến một câu hỏi khác: điều gì khiến một cộng đồng vẫn nhận ra mình sau chiến tranh, chia cắt, xâm lược, di cư và những biến đổi rất lớn về văn hóa, thể chế và đời sống thường nhật?
Từ đó xuất hiện câu hỏi về Trường tồn.
Nhưng trường tồn chưa đủ. Một cộng đồng có thể tồn tại rất lâu mà vẫn mang theo những giới hạn khiến các cuộc khủng hoảng cũ lặp lại dưới những hình thức mới. Sức bền vì thế phải chuyển thành khả năng nhìn lại mình, nghe những sự thật khó nghe, sống cùng những ký ức khác nhau và sửa những gì không còn hiệu quả.
Đó là chuyển động từ Trường tồn đến Trưởng thành.
Nhưng một cộng đồng trưởng thành không sống trong chân không. Nó tồn tại giữa các cường quốc, thị trường, mạng lưới công nghệ, dòng vốn, chuỗi cung ứng và những không gian văn minh ngày càng đan xen. Giữ mình không còn đồng nghĩa với khép mình; tự chủ không có nghĩa là đứng ngoài thế giới.
Trưởng thành vì thế phải dẫn tới Khai mở.
Và Khai mở vẫn có thể chỉ là một ước vọng nếu cộng đồng không có khả năng biến lựa chọn thành hành động. Vì vậy, khảo luận cuối cùng đi tới Năng lực: không chỉ là người tài, nguồn lực hay cơ hội, mà là những điều kiện để tài năng được sử dụng, nguồn lực được chuyển hóa, sai lầm được sửa chữa và những khả năng khác nhau có thể cộng hưởng.
Nhìn như vậy, Chu kỳ – Trường tồn – Trưởng thành – Khai mở – Năng lực không phải năm bậc thang mà lịch sử bắt buộc phải lần lượt bước qua.
Lịch sử không ngay ngắn đến thế.
Một xã hội có thể trưởng thành ở lĩnh vực này nhưng thụt lùi ở lĩnh vực khác; rất mở với thị trường nhưng lại đóng cửa với tư tưởng; có năng lực tổ chức cực lớn nhưng năng lực tự sửa sai rất hạn chế.
Năm khái niệm ấy chỉ là năm góc nhìn vào cùng một hệ vấn đề:
Một cộng đồng làm thế nào vừa giữ được mình, vừa vượt qua chính mình để bước vào tương lai?
Không con đường nào có quyền trở thành vĩnh viễn.
Một trong những cám dỗ lý tính lớn của thời hiện đại là niềm tin rằng lịch sử có một hướng đi tất yếu. Nếu đã khám phá được quy luật của lịch sử thì việc còn lại chỉ là xác định đúng con đường rồi kiên trì đi theo.
Niềm tin ấy từng tạo ra sức mạnh phi thường. Nó giúp con người chịu đựng hy sinh, tổ chức những phong trào lớn và theo đuổi những mục tiêu vượt khỏi đời sống của một thế hệ.
Nhưng thế kỷ XX cũng phơi bày “mặt trái của tấm huân chương”: khi một con đường được đồng nhất với chân lý lịch sử, quyền đặt câu hỏi về con đường ấy rất dễ bị coi thành chống lại chính lịch sử.
Tân Đạo Việt bắt đầu từ một tiền đề khác:
Không một thế hệ nào có quyền lựa chọn thay cho các thế hệ kế tiếp.
Một lựa chọn có thể từng đúng trong một hoàn cảnh cụ thể nhưng không vì thế trở thành chân lý vĩnh viễn. Một thiết chế từng giúp xã hội vượt qua khủng hoảng có thể trở thành lực cản khi hoàn cảnh thay đổi. Một tư tưởng từng mở đường cho con người cũng có thể hóa thành giáo điều nếu nó không còn cho phép con người đặt câu hỏi về chính hệ tư tưởng ấy.
Tự do sâu xa của một cộng đồng vì thế không chỉ nằm ở quyền lựa chọn giữa những khả năng đang có.
Nó còn nằm ở khả năng không đóng kín tương lai, để những thế hệ sau vẫn có quyền tìm kiếm và lựa chọn những con đường mà hôm nay chúng ta chưa thể hình dung.
Có lẽ đó là một trong những ý nghĩa sâu nhất của Khai mở:
Không phải mở một cánh cửa để tất cả mọi người phải bước qua, mà là không khóa những cánh cửa mà các thế hệ tương lai có thể cần mở.
Khi những tác nhân mới bước vào tương lai
Câu hỏi ấy càng cấp thiết khi chúng ta bước vào một thế giới mà chính cấu trúc của lao động, tri thức và quyền lực đang thay đổi.
Nhiều nền tảng của kinh tế học và chính trị hiện đại được xây dựng trong thời đại mà con người vẫn là chủ thể trung tâm của lao động trí óc, sáng tạo và ra quyết định. Máy móc có thể thay thế sức lực, nhưng phân tích, phán đoán và tạo ra tri thức về cơ bản vẫn thuộc về con người.
AI đang dịch chuyển ranh giới ấy.
Vấn đề không chỉ là AI sẽ xóa bao nhiêu việc làm hay tạo ra bao nhiêu nghề mới. Câu hỏi sâu hơn là: điều gì xảy ra với một xã hội khi năng lực tạo ra tri thức, phân tích thông tin và tham gia quyết định không còn thuộc riêng con người?
Nếu năng suất trí tuệ tăng nhanh hơn nhiều so với khả năng tạo ra việc làm truyền thống, quan hệ giữa lao động và thu nhập sẽ thay đổi thế nào? Nếu ngày càng nhiều của cải được tạo ra với ngày càng ít lao động trực tiếp của con người, xã hội sẽ dựa vào nguyên tắc nào để phân phối cơ hội và thành quả? Nếu máy móc tạo câu trả lời nhanh hơn con người, giáo dục còn phải dạy điều gì? Và nếu thuật toán tham gia ngày càng sâu vào những quyết định ảnh hưởng đến đời sống con người, ai sẽ chịu trách nhiệm khi quyết định ấy sai?
Hôm nay chưa ai có câu trả lời đầy đủ.
Chính sự thiếu vắng câu trả lời ấy mới đáng suy nghĩ.
Nó nhắc rằng tương lai sắp tới có thể không đơn giản là một phiên bản nhanh hơn, giàu hơn và nhiều công nghệ hơn của hiện tại. Một số tiền đề mà kinh tế học, khoa học chính trị và triết học hiện đại lâu nay coi là hiển nhiên có thể sẽ phải được xem xét lại.
Và Tân Đạo Việt trở lại đúng điểm xuất phát của mình: không đi tìm một câu trả lời cuối cùng, mà chuẩn bị năng lực để tiếp tục đặt câu hỏi khi những câu trả lời cũ không còn đủ nữa.
Chuẩn bị cho điều chưa biết
Nếu lịch sử thực sự hữu hạn, câu hỏi nghiêm túc đối với bất kỳ xã hội nào không phải là trật tự hiện tại sẽ tồn tại được bao lâu. Không ai biết chắc điều đó.
Câu hỏi quan trọng hơn là:
Khi những gì hôm nay tưởng như cố định không còn cố định nữa, cộng đồng ấy đã chuẩn bị đủ để vẫn sống cùng nhau và kiến tạo một trật tự khác hay chưa?
Lịch sử Việt Nam nhiều lần phải trả giá khi thay đổi đến nhanh hơn khả năng chuẩn bị của đất nước. Những khoảng trống như vậy rất dễ được lấp bằng một mô hình nhập khẩu, một chân lý tuyệt đối mới, một cường quốc bảo trợ hoặc một nhóm người tự nhận rằng mình đã biết trước hướng đi của lịch sử.
Tân Đạo Việt không thể viết trước hình hài của một Việt Nam tương lai. Làm như vậy chính là lặp lại điều khảo luận này muốn đặt thành vấn đề.
Điều có thể làm là chuẩn bị những điều kiện để khi lịch sử mở ra những khả năng mới, người Việt không một lần nữa phải vội bám lấy một chân lý làm sẵn và trao tương lai của mình cho nó.
Đó cũng là lý do câu hỏi về thể chế cuối cùng không thể tách khỏi câu hỏi về con người. Một trật tự thể chế tốt không phải là trật tự có thể bảo đảm rằng người lãnh đạo luôn sáng suốt.
Quan trọng hơn là tương lai của cả cộng đồng không phải phụ thuộc vào sự sáng suốt của một vài cá nhân.
Con người có thể sai. Người tài có thể sai. Số đông cũng có thể sai.
Nhưng một xã hội còn giữ được nhiều nguồn tri thức, nhiều kênh phản biện và nhiều khả năng sửa sai thì ít nhất có cơ hội không sai quá lâu.
Đồng quy nhi thù đồ
Đến đây, một câu văn cổ có thể mang một ý nghĩa mới:
Thiên hạ hà tư hà lự? Thiên hạ đồng quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự.
Có thể hiểu gần nghĩa rằng: thiên hạ hà tất phải quá ưu tư? Đường đi có thể khác mà vẫn cùng hướng tới một nơi; trăm mối suy tư vẫn có thể gặp nhau ở một lẽ chung.
Tinh thần ấy không có nghĩa mọi con đường đều đúng.
Có những con đường dẫn đến nô dịch, bạo lực và hủy hoại phẩm giá con người. Những lựa chọn lịch sử phải được kiểm nghiệm bằng chứng cứ và phán xét qua hậu quả của chúng. “Thù đồ” — khác đường — không phải lời mời gọi chủ nghĩa tương đối, càng không phải cách xóa nhòa ranh giới đúng sai.
*
LỜI CUỐI CỦA TÁC GIẢ:
Năm phần của khảo luận “Tân Đạo Việt: Đồng quy nhi thù đồ” tạm khép lại ở đây, sau nhiều tháng đón nhận những câu hỏi, phản biện, bình luận và suy ngẫm từ đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước. Trong mấy lời cuối này, tác giả không thể nhắc hết tên từng người. Chỉ xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả những ai đã đọc, góp ý, bổ sung và cùng tranh luận — kể cả những người không đồng tình với một số, hay nhiều, luận điểm của khảo luận.
Chính những trao đổi ấy càng khiến tôi tin rằng việc suy nghĩ về và thúc đẩy một Tân Đạo Việt không nên dừng lại cùng khảo luận này. Trước sự hưởng ứng rộng rãi và mối quan tâm học thuật quý báu ấy, tôi mong sẽ tiếp tục theo đuổi chủ đề trong một khuôn khổ rộng hơn, với nhiều chứng cứ, đối thoại và nghiên cứu điển h hơn. Tôi cũng sẽ trở lại với bạn đọc khi Dự án Việt–Mỹ bước sang những chặng phát triển mới.
Bởi vậy, những gì được trình bày ở đây chỉ nên được xem như một cuộc thăm dò — một bước thử đầu tiên trên hành trình tìm đường.
Nhà vật lý thiên văn Trịnh Xuân Thuận từng chọn một hình ảnh rất đẹp làm nhan đề cho cuốn sách L’Infini dans la paume de la main — Cái vô hạn trong lòng bàn tay. Con người càng hiểu biết, càng nhận ra thế giới rộng lớn hơn những gì mình đã biết.
Theo nghĩa ấy, ĐẠO không nhất thiết là một con đường đã được vạch sẵn, càng không phải một chân lý buộc tất cả mọi người phải cùng đi trên một lối. ĐẠO bắt đầu từ nhận thức rằng con người sống trong một trật tự tự nhiên và lịch sử lớn hơn chính mình — một trật tự mà ta có thể không ngừng khám phá, nhưng không bao giờ có thể tự nhận đã nắm giữ chân lý cuối cùng của nó.
Nhưng nhận ra ĐẠO vẫn chưa đủ.
Điều con người phải tự tìm lấy là ĐỨC: chúng ta sống với nhau như thế nào, tổ chức xã hội ra sao, sử dụng quyền lực, tri thức và công nghệ thế nào để những năng lực mới do chính mình tạo ra cuối cùng không quay lại thống trị con người.
Câu hỏi ấy càng trở nên cấp thiết trong “thời đại AI”.
Khi máy móc ngày càng có khả năng tính toán, học hỏi, sáng tạo và tham gia vào những quyết định từng chỉ thuộc về con người, vấn đề không còn đơn giản là AI sẽ trở nên mạnh đến đâu. Câu hỏi quan trọng hơn là: con người phải tổ chức xã hội như thế nào để vẫn giữ được vai trò chủ thể chịu trách nhiệm đối với thế giới mà chính mình đang tạo ra?
Công nghệ có thể mở rộng năng lực của chúng ta. Nhưng công nghệ không thể trả lời thay con người rằng những năng lực ấy nên được dùng để làm gì và phục vụ ai.
Có lẽ cũng chính từ đây Tân Đạo Việt phải tiếp tục cuộc tìm đường của mình.
Không phải để tìm ra một con đường duy nhất mà Việt Nam bắt buộc phải đi, mà để góp phần chuẩn bị con người, thể chế và năng lực sao cho khi những con đường mới xuất hiện, người Việt vẫn giữ được tự do lựa chọn — lựa chọn những con đường có thể đem lại cho mình phẩm giá, thành đạt và hạnh phúc.
Khảo luận dừng lại ở đây.
Cuộc tìm đường thì chưa.
Những con đường có thể khác nhau.
Đồng quy nhi thù đồ.
Nhưng đi những con đường khác nhau cũng không nhất thiết phải trở thành kẻ thù.
Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh từng khác nhau sâu sắc về phương cách cứu nước. Lịch sử Việt Nam sau họ còn chứng kiến những bất đồng lớn hơn nhiều, có những bất đồng được giải quyết bằng chiến tranh và để lại vết thương qua nhiều thế hệ.
Nhưng nếu lịch sử cuối cùng chỉ còn là cuộc tranh giành để chứng minh đường của mình đúng và đường của người khác sai, một dân tộc rất có thể thắng được quá khứ mà đánh mất tương lai.
Cùng hướng về một chân trời chung vì vậy không có nghĩa tất cả phải đi tới cùng một mô hình chính trị, cùng một học thuyết hay cùng một quan niệm về đời sống tốt đẹp.
Có thể còn một tầng sâu hơn để gặp nhau: phẩm giá con người; quyền của mỗi thế hệ được tham gia lựa chọn tương lai của mình; khả năng sống chung trong khác biệt; và trách nhiệm không trao số phận cộng đồng cho bất kỳ chân lý tuyệt đối nào.
Nếu sau tất cả những lập luận của khảo luận này Tân Đạo Việt muốn giữ lại một ý tưởng, có lẽ đó là điều ấy.
Lịch sử Việt Nam đã nhận nước từ rất nhiều nguồn. Có những dòng bắt đầu ngay trên mảnh đất này; có những dòng đến từ rất xa. Có dòng gặp nhau, có dòng tách nhánh, có dòng bị chặn và có dòng phải tự tìm một lối khác.
Nhưng một dòng sông sống không cần biết trước từng khúc quanh của mình.
Nó cần còn đủ nước để chảy, đủ rộng để nhận thêm những phụ lưu và đủ sức để không dừng lại trước những địa hình chưa từng gặp.
Biển ở phía trước cũng không phải một điểm đến đã được vẽ sẵn trên bản đồ.
Tân Đạo Việt vì vậy không phải tên của con đường Việt Nam bắt buộc phải đi. Nó chỉ là một lời mời gọi người Việt giữ lấy quyền tự tìm đường của mình — đủ trưởng thành để biết mình có thể sai, đủ khai mở để lắng nghe những tiếng nói khác mình, và đủ năng lực để không trao quyền lựa chọn tương lai cho người khác.
NHỮNG CON ĐƯỜNG CÓ THỂ KHÁC NHAU. NHƯNG ĐỒNG QUY NHI THÙ ĐỒ!
Đinh Hoàng Thắng
Phiên bản Anh ngữ của Kỳ 5 và Tổng kết chung:
https://www.cauxroundtable.org/2026/09/30/part-v-from-building-capacity-to-shaping-the-future/
—————
Tài liệu tham khảo cho PHẦN V và TỔNG KẾT KHẢO LUẬN
“TÂN ĐẠO VIỆT: ĐỒNG QUY NHI THÙ ĐỒ”
Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa-văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998. Nguồn Việt Nam nền tảng cho cách nhìn một cộng đồng vừa có chiều sâu lịch sử riêng vừa nằm trong những không gian rộng hơn của khu vực và nhân loại; đặc biệt quan trọng cho chiếc cầu từ Trường tồn sang chủ thể kiến tạo.
Trần Ngọc Vương, các công trình về “thực thể Việt”, lịch sử tư tưởng và con người Việt Nam. Tôi muốn giữ ông ở Part V vì câu hỏi không còn đơn thuần “Việt Nam tồn tại thế nào?” mà là thực thể lịch sử ấy sẽ trở thành cái gì trong một thời đại mới.
Phan Châu Trinh, đặc biệt Đạo đức và luân lý Đông Tây và các trước tác về khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Đây là một tiền đề Việt Nam đặc biệt thích hợp cho TĐV: thay đổi quốc gia không chỉ bằng giành quyền lực mà bằng thay đổi năng lực của con người và xã hội.
Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié: Hanoi 1954–1991, procès d’un intellectuel. Một chứng ngôn quan trọng về trí thức, quyền nói sự thật và cái giá phải trả khi một hệ thống không đủ khả năng tiếp nhận phản biện. Nguồn này bổ trợ trực tiếp cho luận đề thể chế hóa năng lực tự sửa sai.
Nguyễn Khắc Viện, các trước tác về Việt Nam, văn hóa và hiện đại hóa. Ông rất đáng có mặt ở đây như một tiếng nói từ miền Bắc, từng sống sâu trong cả hai không gian Việt–Pháp, Marxist nhưng không đóng kín trước nhu cầu tự xét lại; hữu ích cho chính tinh thần không phủ định sạch quá khứ để bắt đầu từ số không.
Bùi Văn Nam Sơn, bài giảng và trao đổi về Jacques Lacan, đặc biệt phần giải thích Le Grand Autre, ham muốn và sinthome mà ta vừa sử dụng. Nguồn này chỉ đóng vai trò gợi mở triết học, không phải cơ sở cho một lý thuyết chính trị: chủ thể trưởng thành khi không còn đòi một thẩm quyền tuyệt đối cung cấp sẵn ý nghĩa cho mình.
Hoàng Đức Nhã – Đinh Quang Anh Thái, Khát Vọng Chưa Thành. Đây là tiếng nói từ phía Việt Nam Cộng hòa/hải ngoại mà tôi muốn giữ trong danh sách để bibliography không tự tái tạo lịch sử một phía. Giá trị chính đối với Part V là kinh nghiệm về quốc gia, phụ thuộc cường quốc, thất bại, ký ức và những khát vọng chưa hoàn tất.
Đinh Hoàng Thắng, công trình về hệ hình P&DOWN (“Bí Đao”). Đây phải là nguồn gốc được ghi nhận minh bạch cho Partnership – Democratization – Organizing – Wisdom – Networking. Trong TĐV, nó không được sử dụng như “công thức năm bước”, mà như một hệ quy chiếu về năng lực kiến tạo đã được hình thành từ trước khảo luận này.
Karl R. Popper, The Open Society and Its Enemies, 1945. Quan trọng không phải để TĐV trở thành Popperian, mà cho nguyên tắc chống lại những học thuyết tự nhận đã nắm được quy luật cuối cùng của lịch sử và cho tinh thần thể chế phải cho phép nhận ra và sửa sai.
Albert O. Hirschman, Exit, Voice, and Loyalty: Responses to Decline in Firms, Organizations, and States, Harvard University Press, 1970. Đặc biệt “đắt” cho §24: khi một tổ chức xuống cấp, ngoài exit còn có voice — khả năng lên tiếng từ bên trong để sửa đổi nó. Google Books
Douglass C. North, Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, 1990. Tôi muốn đưa North vào thay vì thêm một tác giả thời thượng: thể chế nối quá khứ–hiện tại–tương lai, và lịch sử thể chế mang tính tích lũy chứ hiếm khi bắt đầu trên trang giấy trắng. Điều này rất gần với luận điểm của ta: cái mới không nhất thiết phải phá sạch cái cũ. Cambridge University Press
Amartya Sen, Development as Freedom, Oxford University Press, 1999. Sen giúp Part V tránh đồng nhất phát triển với GDP hay sức mạnh quốc gia: phát triển cuối cùng phải mở rộng năng lực thực sự của con người để sống và lựa chọn. Đây là chiếc cầu đẹp giữa phát triển, tự do và “năng lực kiến tạo”.
Václav Havel, The Power of the Powerless, 1978. Một nguồn Đông–Trung Âu rất hợp cho đoạn cuối về những xã hội bước ra khỏi một hệ thống ý thức hệ: chuyển đổi sâu xa không chỉ là thay người cầm quyền mà còn là khôi phục trách nhiệm của con người đối với sự thật và đời sống chung.
Jacques Lacan, Écrits và các Séminaires, đặc biệt những phần liên quan đến désir, le Grand Autre và sinthome. Đây là nguồn gốc lý thuyết cho gợi ý mà ta tiếp nhận qua Bùi Văn Nam Sơn; nên có nguồn gốc bên cạnh nguồn diễn giải để tránh biến Lacan thành một ẩn dụ chính trị quá dễ dãi.
Arnold J. Toynbee, A Study of History. Ta đã sử dụng Toynbee từ trước, nhưng ở Part V ông có một chức năng khác: văn minh không chỉ tồn tại vì chống chịu được thử thách mà còn tùy thuộc vào chất lượng của sự đáp ứng trước thử thách. Nó nối rất tự nhiên Trường tồn → Kiến tạo.
Tô Văn Trường, “AI: Nỗi lo của thế giới giàu, cơ hội của Việt Nam?”, Bauxite Việt Nam, 2026. Một case study Việt Nam đương đại, không phải nguồn lý thuyết trung tâm. Điều ta thấy là nghịch lý: công nghệ có thể mở rộng năng lực nhưng cũng có thể tạo phụ thuộc mới; do đó năng lực sử dụng AI phải đi cùng khả năng làm chủ và phán đoán.
Hannah Arendt, The Human Condition, University of Chicago Press, 1958. Tôi chủ ý để tác giả đứng cuối bibliography. Arendt giúp ta đưa câu chuyện trở lại con người hành động trong một thế giới chung, thay vì kết thúc khảo luận bằng những trừu tượng như “dân tộc”, “thể chế” hay “công nghệ”. Tương lai cuối cùng vẫn được tạo nên bởi những con người có khả năng suy nghĩ, phán đoán và hành động cùng nhau.
Không có nhận xét nào