Header Ads

  • Breaking News

    Tân Đạo Việt: Đại lộ mới cho Việt tộc trong thế kỷ chuyển đổi

    Kỳ 5, Phần V

    Đinh Hoàng Thắng 

    October 3, 2026

    Sài Gòn/TP.HCM. Photo: DUYTRG TRUONG, pexels.

    PHẦN V 

    TỪ XÂY DỰNG NĂNG LỰC ĐẾN KIẾN TẠO TƯƠNG LAI 

    Đến đây, câu hỏi trung tâm về việc thúc đẩy Tân Đạo Việt không thể chỉ được trả lời bằng cách nhìn lại Việt Nam đã đi qua lịch sử như thế nào, cũng không thể chỉ bằng việc xác định Việt Nam đang đứng ở đâu trong một thế giới đang biến đổi. Biết mình là ai, biết thế giới đang thay đổi và thậm chí biết mình muốn gì vẫn chưa đủ. Câu hỏi tiếp theo là: điều gì giúp chúng ta biến những nhận thức ấy thành năng lực hành động có hiệu quả? 

    Khoảng cách giữa điều một cộng đồng mong muốn trở thành và điều cộng đồng ấy thực sự làm được chính là khoảng cách giữa ước vọng và năng lực. 

    Năng lực, theo nghĩa ấy, không đồng nghĩa với nguồn lực. Một quốc gia có thể đông dân nhưng vốn con người chưa mạnh; có tài nguyên nhưng không làm chủ công nghệ; thu hút nhiều đầu tư nước ngoài nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn quanh quẩn ở những khâu có giá trị gia tăng thấp; có vị trí địa–chiến lược quan trọng nhưng không chuyển hóa được vị thế ấy thành quyền tự chủ và khả năng lựa chọn lớn hơn. Ngược lại, một quốc gia không lớn vẫn có thể tạo ảnh hưởng vượt xa quy mô của mình nếu biết tổ chức con người, tri thức, thể chế và mạng lưới thành năng lực hành động. 

    Vì vậy, nói đến năng lực, cuối cùng là nói đến môi trường cho phép năng lực của con người được phát hiện, sử dụng và cộng hưởng với nhau. Một xã hội không trở nên sáng tạo chỉ vì có nhiều người thông minh; một đất nước cũng không mạnh lên chỉ vì có nhiều cá nhân tài giỏi. Câu hỏi quyết định hơn là: người có năng lực được đặt vào đâu, họ được phép làm gì, điều gì khuyến khích họ nói thật, thử nghiệm, hợp tác và chịu trách nhiệm; và điều gì khiến năng lực của họ bị lãng phí, phải rời bỏ đất nước hoặc co lại chỉ để tồn tại? 

    Phần V này là chặng phân tích cuối cùng về những đòi hỏi chiến lược, trước khi khảo luận trở lại câu hỏi rộng hơn: Việt Nam có thể đi về tương lai bằng những con đường nào? 

    24. Từ sửa sai đến năng lực tự sửa sai 

    Không cá nhân nào luôn luôn đúng. Không một nhà nước, doanh nghiệp hay xã hội nào có thể bảo đảm mọi lựa chọn của mình đều đúng. Trong những thời kỳ biến đổi nhanh, một quyết định hợp lý hôm qua thậm chí có thể trở thành vật cản ngày mai. 

    Bởi vậy, thước đo quan trọng của năng lực không phải là không bao giờ mắc sai lầm, mà là phát hiện sai lầm sớm đến đâu, sửa chữa hiệu quả đến mức nào và học được gì sau mỗi lần sửa. 

    Cần phân biệt sửa một sai lầm với có năng lực tự sửa sai. Một chính sách có thể bị thay đổi khi hậu quả của nó đã không thể che giấu. Đó mới là mức thấp. Cao hơn là xem lại chính cơ chế đã tạo ra quyết định sai để những sai lầm tương tự không lặp lại. Cao hơn nữa là xây dựng những kênh thông tin, phản biện và kiểm chứng đủ mạnh để lời cảnh báo xuất hiện trước khi sai lầm biến thành khủng hoảng. 

    Đến mức ấy, sửa sai không còn là phản ứng miễn cưỡng trước thất bại. Nó trở thành một bộ phận của năng lực quản trị. 

    Điều này đòi hỏi nhiều hơn thiện chí của người lãnh đạo. Dù sáng suốt đến đâu, không một cá nhân nào có thể nhìn thấy toàn bộ xã hội. Thông tin phải có khả năng đi lên mà không bị tô hồng dọc đường. Chuyên gia phải có thể nói với người ra quyết định những điều họ không muốn nghe. Dữ liệu phải kiểm chứng được. Một thử nghiệm thất bại phải để lại tri thức chứ không chỉ để lại một người chịu tội. Và khi thực tế chứng minh một chính sách không còn phù hợp, phải có những con đường đủ rõ để thay đổi nó. 

    Nói cách khác, tập trung quyền quyết định không đồng nghĩa với tập trung trí tuệ. 

    Quyền lực có thể tập trung ở một nơi; tri thức thì không. Nó nằm trong các trường đại học, doanh nghiệp, địa phương, phòng thí nghiệm, báo chí, các cộng đồng nghề nghiệp, trong kinh nghiệm của người dân và nhiều khi ở chính những người đứng ngoài hệ thống quyết định chính thức. Một thể chế càng gạt những nguồn tri thức ấy ra bên lề, người ra quyết định càng dễ trở thành tù nhân của những thông tin đã được lựa chọn chỉ để làm họ yên lòng. 

    Đổi Mới đáng được đọc lại từ góc nhìn này. Nếu chỉ kể đó là một quyết định sáng suốt từ trên xuống, ta sẽ bỏ qua vô số thử nghiệm, va đập và sáng kiến đã xuất hiện trong thực tế trước khi được chính thức thừa nhận. Nhưng nếu kể câu chuyện ngược lại rằng thay đổi chỉ đến từ xã hội hay từ những chuyên gia bên ngoài bộ máy nhà nước, ta cũng làm nghèo đi một quá trình vốn phức tạp hơn nhiều. 

    Điều đáng chú ý nhất là những thời điểm mà kinh nghiệm thực tế, tri thức chuyên môn và quyền ra quyết định tìm được cách gặp nhau. 

    Câu chuyện Nhóm Thứ Sáu ở Thành phố Hồ Chí Minh là một ví dụ nhỏ nhưng gợi nhiều suy nghĩ. Đây không phải một thiết chế chính thức. Nhiều thành viên từng được đào tạo hoặc làm việc trong môi trường miền Nam trước năm 1975. Họ gặp nhau, tranh luận về kinh tế và tìm cách đóng góp trong lúc đất nước phải học lại nhiều quy luật của thị trường. Về sau, một số người như Phan Chánh Dưỡng, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước được mời tham gia nhóm tư vấn hỗ trợ Thủ tướng Võ Văn Kiệt. 

    Điều đáng nói không phải là dựng nên huyền thoại rằng một nhóm trí thức đã “cứu” nền kinh tế. Ý nghĩa nằm ở chỗ khác: tri thức từng đứng ngoài dòng chính vẫn có thể trở thành tài sản chung khi xuất hiện một không gian đủ mở để nó được lắng nghe và sử dụng. 

    Đó cũng là một cách khác để hiểu chuyện dùng người. Không chỉ là tìm vài cá nhân xuất sắc rồi đặt họ vào những vị trí cao. Khó hơn nhiều là tạo ra một môi trường trong đó những con người với năng lực khác nhau đều tìm được chỗ đóng góp, kể cả khi xuất thân, kinh nghiệm và cách suy nghĩ của họ không hoàn toàn giống với những người đang nắm quyền quyết định. 

    Một hệ thống chỉ mở cửa đón nhận tri thức khác mình khi khủng hoảng đã xảy ra vẫn có thể sửa được một số sai lầm. Nhưng cái giá thường rất lớn. Năng lực cao hơn là tạo ra những cửa sổ thường trực để sự thật có thể đi vào, để xã hội không phải chờ đến lúc bế tắc mới quay sang lắng nghe những người trước đó mình không muốn nghe. 

    Vì vậy, “tự sửa sai” không thể chỉ là một phẩm chất đạo đức mà một tổ chức tự nhận cho mình. Nó phải được nhìn thấy qua những khả năng rất cụ thể: lời cảnh báo đầu tiên xuất hiện ở đâu? Nó có đến được người có quyền quyết định không? Một chuyên gia bất đồng phải trả giá gì khi nói lên ý kiến của mình? Khi chính sách thay đổi, cơ chế từng tạo ra chính sách sai có được xem xét lại không? Và quan trọng nhất: lần sau, hệ thống có nhận ra vấn đề sớm hơn không? 

    Một đất nước thực sự có năng lực không phải là đất nước luôn chứng minh rằng mình đúng. Đó là đất nước không phải chờ đến khi cái giá của thất bại trở nên quá lớn mới được phép thừa nhận rằng mình có thể đã sai. 

    25. Những năng lực Việt Nam đã từng có 

    Nếu chỉ nhìn vào những thiếu hụt hiện tại, rất dễ đi đến kết luận bi quan rằng Việt Nam thiếu năng lực. Nhưng lịch sử cho thấy một bức tranh khác. Trong những hoàn cảnh rất khác nhau, người Việt nhiều lần chứng tỏ khả năng học hỏi, thích nghi, tổ chức, kinh doanh, chiến đấu, xây dựng cộng đồng, tiếp nhận công nghệ và kết nối với thế giới. 

    Vấn đề có lẽ không đơn giản là Việt Nam có hay không có năng lực. Câu hỏi quan trọng hơn là những năng lực ấy hình thành ở đâu, trong những điều kiện nào, vì sao chúng thường tồn tại rời rạc, và vì sao những điều người Việt có thể làm rất tốt trong một môi trường lại khó trở thành năng lực chung của cả đất nước. 

    Sự chia cắt Việt Nam trong thế kỷ XX tạo nên những trường hợp rất khác nhau. Trong điều kiện chiến tranh khắc nghiệt, miền Bắc phát triển mạnh khả năng huy động con người và vật lực, tổ chức tập trung, chịu đựng gian khổ và dồn nguồn lực vào những mục tiêu được coi là sống còn. Không thể hiểu kết quả của các cuộc chiến nếu bỏ qua năng lực tổ chức và huy động ấy. 

    Ở miền Nam, trong những điều kiện chính trị, kinh tế và quốc tế rất khác, những loại năng lực khác đã hình thành: đời sống đô thị và thương mại, các ngành nghề chuyên môn, kinh nghiệm kinh tế thị trường, các thiết chế giáo dục và y tế, báo chí, kinh doanh và những mối liên hệ khá rộng với thế giới bên ngoài. 

    Những năng lực ấy không biến Việt Nam Cộng hòa thành một mô hình không có khuyết điểm. Chiến tranh, bất ổn chính trị, sự lệ thuộc lớn vào Hoa Kỳ và những hạn chế về quản trị đều là những phần không thể bỏ qua của bức tranh. Nhưng những hạn chế đó cũng không phải lý do để phủ nhận nguồn vốn con người và xã hội đã được tạo dựng ở miền Nam. 

    Đặt hai kinh nghiệm ấy cạnh nhau không nhằm phán xét bên nào “tốt hơn”. Câu hỏi ấy vừa quá lớn vừa không phục vụ mục đích của khảo luận này. 

    Câu hỏi hữu ích hơn là: vì sao cũng là người Việt Nam, nhưng trong những môi trường tổ chức khác nhau, lại có thể hình thành những loại năng lực khác nhau? 

    Điều đó đưa chúng ta tới một điểm nhạy cảm nhưng không thể né tránh: năng lực không chỉ nằm trong con người. Nó còn phụ thuộc vào không gian mà trong đó con người được phép sử dụng khả năng của mình. 

    Một kỹ sư có thể tài giỏi như nhau ở hai nơi nhưng tạo ra những kết quả rất khác nếu một môi trường cho phép thử nghiệm còn môi trường kia tưởng thưởng cho sự an toàn. Một nhà khoa học vẫn có trí tuệ ấy nhưng lượng tri thức tạo ra sẽ khác tùy vào quyền tự chủ nghiên cứu, nguồn lực và khả năng đối thoại. Một doanh nhân có thể rất năng động nhưng lại phải dành phần lớn tài năng cho việc xây dựng quan hệ nếu luật chơi khiến quan hệ quan trọng hơn đổi mới. 

    Vì vậy, có lẽ câu hỏi “Người Việt có năng lực hay không?” đã được đặt sai. 

    Nên hỏi: những điều kiện nào giải phóng tốt nhất năng lực của người Việt, và những điều kiện nào khiến các năng lực ấy ngủ yên? 

    Đó cũng là lý do thống nhất quốc gia không tự động dẫn đến hợp lưu năng lực. 

    Một đường ranh giới có thể biến mất khỏi bản đồ trong một ngày. Nhưng những hệ thống giáo dục và kinh tế, ký ức lịch sử, quan hệ xã hội và thói quen nghề nghiệp được hình thành qua nhiều thập niên không thể hòa nhập chỉ bằng một quyết định hành chính. 

    Sau chiến tranh, logic thắng–thua, sự khác biệt về mô hình tổ chức xã hội, chính sách đối với những người từng gắn với chế độ cũ, các làn sóng di cư, rồi chiến tranh biên giới, cấm vận và khó khăn kinh tế càng khiến quá trình hợp lưu ấy trở nên phức tạp. Trong hoàn cảnh đó, một phần vốn con người của miền Nam được sử dụng lại; một phần thích nghi với trật tự mới; một phần rời khỏi đất nước; và một phần bị mất đi. 

    Ở đây cần phân biệt thống nhất lãnh thổ với hợp lưu năng lực. 

    Thống nhất một đất nước là một sự kiện chính trị. Hợp nhất những năng lực đã được hình thành trong các không gian lịch sử khác nhau là một quá trình lâu dài hơn nhiều. 

    Việt Nam hoàn thành việc thứ nhất hơn nửa thế kỷ trước. 

    Việc thứ hai có lẽ vẫn còn dang dở. 

    Câu chuyện Nhóm Thứ Sáu vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài bản thân nhóm. Những người từng đứng ở một vị trí khác trong lịch sử có thể trở thành cộng sự trong việc giải quyết một vấn đề chung khi quá khứ không còn là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá năng lực của họ. 

    Điều đó không xóa lịch sử. Nó chỉ gợi ra rằng một cộng đồng trưởng thành có thể làm được một việc khó hơn: biến những di sản từng thuộc về những phía khác nhau thành vốn chung cho tương lai. 

    Sau năm 1975, lịch sử lại tạo ra một không gian Việt Nam khác trong cộng đồng toàn cầu: người Việt ở nước ngoài. 

    Nếu chỉ nhìn giá trị của cộng đồng này qua lượng kiều hối gửi về mỗi năm, ta mới thấy phần đóng góp dễ đo nhất. Qua nhiều thập niên, cộng đồng người Việt ở nước ngoài còn tích lũy tri thức, kinh nghiệm kinh doanh, chuyên môn khoa học–công nghệ, kinh nghiệm quản trị và các mạng lưới nghề nghiệp tại nhiều trung tâm phát triển lớn trên thế giới. 

    Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cộng đồng hải ngoại có thể chuyển giao nhiều hơn tiền bạc: tri thức, công nghệ, quan hệ và kinh nghiệm thể chế. Ngay tại Việt Nam, một dự án khoa học–công nghệ được Ngân hàng Thế giới hỗ trợ đã thu hút hơn một trăm chuyên gia nước ngoài, trong đó có các chuyên gia người Việt ở nước ngoài, đồng thời tạo ra nhiều hoạt động chuyển giao công nghệ với các viện và trường đại học trong nước. Những khuyến nghị phát triển gần đây cũng tiếp tục xem sự tham gia của chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài vào đại học và nghiên cứu trong nước như một nguồn lực quốc gia quan trọng. 

    Nhưng cũng như câu chuyện Bắc–Nam, vấn đề không đơn giản là “mời người tài trở về”. Một nhà khoa học trở về mà thiếu tự chủ nghiên cứu thì khó phát huy năng lực. Một doanh nhân mang theo kinh nghiệm quốc tế nhưng gặp luật chơi thiếu ổn định sẽ phải tiêu hao năng lượng để thích nghi với luật chơi. Một chuyên gia được mời tư vấn nhưng chỉ được phép nói những điều người mời muốn nghe thì tri thức quốc tế cuối cùng chỉ còn là đồ trang trí. 

    Câu hỏi về người Việt ở nước ngoài vì thế lại quay về câu hỏi căn bản: một xã hội có đủ rộng để dung chứa những loại năng lực khác nhau hay không? 

    Nhìn như vậy, vấn đề lớn hơn cả hòa giải Bắc–Nam. Việt Nam thế kỷ XXI đồng thời tồn tại trong và ngoài biên giới quốc gia, trong những ký ức khác nhau, những hệ thống giáo dục khác nhau và những mạng lưới nghề nghiệp trải khắp thế giới. 

    Nhiệm vụ không phải là làm cho mọi người Việt Nam suy nghĩ giống nhau. 

    Nếu phải giống nhau rồi mới có thể hợp tác, cái giá của đoàn kết sẽ là sự nghèo đi của chính cộng đồng. 

    Thách thức lớn hơn là làm sao những người khác nhau vẫn có thể cùng tạo ra giá trị chung. 

    Từ con người chuyển sang kinh tế, chúng ta lại gặp chính vấn đề ấy. Việt Nam có vị trí địa lý đặc biệt, nằm cạnh Trung Quốc và gần những tuyến thương mại lớn của châu Á; có quan hệ kinh tế sâu rộng với nhiều trung tâm lớn, thu hút lượng đáng kể vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và ngày càng tham gia sâu vào các chuỗi sản xuất toàn cầu. 

    Nhưng trước hết, đó mới là những điều kiện. Chúng chưa phải năng lực. 

    Một nhà máy đặt trên lãnh thổ Việt Nam không có nghĩa công nghệ của nhà máy ấy thuộc về Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu lớn không tự động cho biết doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị. Có khoáng sản dưới lòng đất không có nghĩa đã có một nền công nghiệp vật liệu. Có vị trí được các cường quốc coi trọng không đồng nghĩa với có tự chủ chiến lược. 

    Các đánh giá gần đây của Ngân hàng Thế giới về con đường tiến tới thu nhập cao của Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh năng lực nghiên cứu, liên kết đại học–doanh nghiệp, thương mại hóa công nghệ, phát triển nhân tài và những dòng lưu chuyển tri thức linh hoạt hơn. 

    Nói cách khác, vấn đề đang chuyển dần từ có thêm nguồn lực sang làm được gì với những nguồn lực đã có. 

    Có thể cô đọng sự phân biệt ấy như sau: 

    • Tài nguyên chưa phải năng lực;  

    • FDI chưa phải năng lực;  

    • Vị trí địa lý chưa phải năng lực;  

    • Quan hệ với các cường quốc cũng chưa phải năng lực.

    Chúng chỉ trở thành sức mạnh khi xã hội có khả năng chuyển hóa chúng thành tri thức, công nghệ, kỹ năng, giá trị gia tăng và cuối cùng là nhiều lựa chọn hơn cho chính mình. 

    Từ đây có thể trở lại paradigm mà tác giả đã hình thành từ nhiều năm trước. Hệ hình P&DOWN – Partnership, Democratization, Organizing, Wisdom, Networking – ban đầu được hình dung như một cách suy nghĩ về những năng lực Việt Nam cần có. Tân Đạo Việt không cần lặp lại nguyên dạng hệ hình ấy. Nhưng hạt nhân của nó có thể được tái cấu trúc thành năm năng lực phục vụ việc kiến tạo tương lai Việt Nam — 5K. 

    Kết hợp với “đối tác” trước hết là khả năng tạo sức mạnh từ hợp tác và khác biệt. Một xã hội chỉ huy động được những người giống nhau sẽ luôn sử dụng ít hơn tổng năng lực mà nó thực sự có. Kết hợp vì vậy không chỉ là hợp tác quốc tế. Đó còn là khả năng để nhà nước và xã hội, khoa học và doanh nghiệp, người trong nước và người Việt ở nước ngoài, những con người mang các ký ức lịch sử khác nhau có thể cùng làm việc. 

    Khai mở là khả năng giải phóng những sáng kiến đang bị giữ lại trong con người. “Dân chủ hóa” đòi hỏi không gian cho phản biện, thử nghiệm và cả những ý tưởng chưa được số đông chấp nhận. Khai mở không bảo đảm mọi ý tưởng mới đều đúng; nhưng nó cho xã hội nhiều cơ hội hơn để tìm ra cái đúng và loại bỏ cái sai. 

    Kiến tạo là “khả năng tổ chức” biến ý tưởng thành hiện thực. Việt Nam không thiếu những lời kêu gọi hấp dẫn, những mục tiêu lớn hay những cá nhân có sáng kiến. Khoảng trống thường nằm giữa ý tưởng và tổ chức, giữa nghị quyết và thực thi, giữa mô hình thí điểm và khả năng nhân rộng. Kiến tạo là năng lực biến cái có thể thành cái có thật. 

    Khôn ngoan (minh triết) khác với thông minh. Một người rất thông minh vẫn có thể lựa chọn sai nếu không nhìn thấy hậu quả dài hạn, không hiểu giới hạn tri thức của mình hoặc không biết đặt lợi ích riêng trong tương quan với lợi ích cộng đồng. Một quốc gia cũng vậy. Công nghệ, của cải và quyền lực càng lớn thì càng cần sự khôn ngoan. Năng lực thiếu phán đoán đôi khi chỉ giúp người ta đi nhanh hơn trên một con đường sai. 

    Cuối cùng là “Kết nối”: networking người với người, địa phương với quốc gia, Việt Nam với thế giới, tri thức với nhu cầu thực tế, quá khứ với tương lai. Trong một thế giới ngày càng vận hành bằng mạng lưới, đứng ngoài mạng lưới có thể đồng nghĩa với mất cơ hội; nhưng chỉ tham gia ở những mắt xích có giá trị thấp nhất cũng chưa phải tận dụng được lợi ích của kết nối. 

    Năm chữ K ấy không phải năm bậc của một chiếc thang, càng không phải một công thức phát triển. Chúng có thể nâng đỡ nhưng cũng có thể kiềm chế lẫn nhau. 

    Kết nối thiếu Khôn ngoan có thể tạo thêm lệ thuộc. Kiến tạo thiếu Khai mở có thể thực hiện rất hiệu quả một lựa chọn sai. Khai mở mà thiếu năng lực Kiến tạo có thể dừng lại ở tranh luận. Kết hợp mà thiếu những nguyên tắc chung có thể chỉ còn là sự dàn xếp lợi ích. 

    Điều quan trọng vì thế không nằm ở từng chữ K riêng lẻ, mà ở khả năng cộng hưởng giữa chúng. 

    Đến đây có thể trở lại câu hỏi đầu tiên: người Việt có thiếu năng lực không? 

    Một câu trả lời thận trọng hơn có lẽ là: trong những môi trường khác nhau, người Việt nhiều lần chứng minh rằng họ không thiếu khả năng. Điều Việt Nam còn phải xây dựng là những điều kiện để các năng lực ấy không triệt tiêu nhau, không phải tồn tại cô lập và có thể trở thành tài sản chung của quốc gia. 

    Đó không thể là công việc của một thế hệ, càng không thể phó thác cho vài cá nhân xuất chúng. Không quốc gia nào có thể đặt tương lai dài hạn của mình vào hy vọng rằng lúc nào cũng may mắn tìm được những nhà lãnh đạo kiệt xuất. 

    Năng lực chỉ trở nên bền vững khi kết quả tốt không còn hoàn toàn phụ thuộc vào người tình cờ đứng trên đỉnh quyền lực, mà được nuôi dưỡng bởi những luật lệ và thiết chế cho phép những người có năng lực ở nhiều vị trí khác nhau cùng đóng góp cho lợi ích chung. 

    Có lẽ chính ở đây hiện ra ranh giới giữa một đất nước có người tài và một đất nước có năng lực chung. 

    (còn nữa)

    Đinh Hoàng Thắng

    …………….

    Tài liệu tham khảo cho PHẦN V và TỔNG KẾT KHẢO LUẬN  

    “TÂN ĐẠO VIỆT: ĐỒNG QUY NHI THÙ ĐỒ” 

    1. Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa-văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998. Nguồn Việt Nam nền tảng cho cách nhìn một cộng đồng vừa có chiều sâu lịch sử riêng vừa nằm trong những không gian rộng hơn của khu vực và nhân loại; đặc biệt quan trọng cho chiếc cầu từ Trường tồn sang chủ thể kiến tạo. 

    2. Trần Ngọc Vương, các công trình về “thực thể Việt”, lịch sử tư tưởng và con người Việt Nam. Tôi muốn giữ ông ở Part V vì câu hỏi không còn đơn thuần “Việt Nam tồn tại thế nào?” mà là thực thể lịch sử ấy sẽ trở thành cái gì trong một thời đại mới. 

    3. Phan Châu Trinh, đặc biệt Đạo đức và luân lý Đông Tây và các trước tác về khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Đây là một tiền đề Việt Nam đặc biệt thích hợp cho TĐV: thay đổi quốc gia không chỉ bằng giành quyền lực mà bằng thay đổi năng lực của con người và xã hội. 

    4. Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié: Hanoi 1954–1991, procès d’un intellectuel. Một chứng ngôn quan trọng về trí thức, quyền nói sự thật và cái giá phải trả khi một hệ thống không đủ khả năng tiếp nhận phản biện. Nguồn này bổ trợ trực tiếp cho luận đề thể chế hóa năng lực tự sửa sai. 

    5. Nguyễn Khắc Viện, các trước tác về Việt Nam, văn hóa và hiện đại hóa. Ông rất đáng có mặt ở đây như một tiếng nói từ miền Bắc, từng sống sâu trong cả hai không gian Việt–Pháp, Marxist nhưng không đóng kín trước nhu cầu tự xét lại; hữu ích cho chính tinh thần không phủ định sạch quá khứ để bắt đầu từ số không. 

    6. Bùi Văn Nam Sơn, bài giảng và trao đổi về Jacques Lacan, đặc biệt phần giải thích Le Grand Autre, ham muốn và sinthome mà ta vừa sử dụng. Nguồn này chỉ đóng vai trò gợi mở triết học, không phải cơ sở cho một lý thuyết chính trị: chủ thể trưởng thành khi không còn đòi một thẩm quyền tuyệt đối cung cấp sẵn ý nghĩa cho mình. 

    7. Hoàng Đức Nhã – Đinh Quang Anh Thái, Khát Vọng Chưa Thành. Đây là tiếng nói từ phía Việt Nam Cộng hòa/hải ngoại mà tôi muốn giữ trong danh sách để bibliography không tự tái tạo lịch sử một phía. Giá trị chính đối với Part V là kinh nghiệm về quốc gia, phụ thuộc cường quốc, thất bại, ký ức và những khát vọng chưa hoàn tất. 

    8. Đinh Hoàng Thắng, công trình về hệ hình P&DOWN (“Bí Đao”). Đây phải là nguồn gốc được ghi nhận minh bạch cho Partnership – Democratization – Organizing – Wisdom – Networking. Trong TĐV, nó không được sử dụng như “công thức năm bước”, mà như một hệ quy chiếu về năng lực kiến tạo đã được hình thành từ trước khảo luận này. 

    9. Karl R. Popper, The Open Society and Its Enemies, 1945. Quan trọng không phải để TĐV trở thành Popperian, mà cho nguyên tắc chống lại những học thuyết tự nhận đã nắm được quy luật cuối cùng của lịch sử và cho tinh thần thể chế phải cho phép nhận ra và sửa sai. 

    10. Albert O. Hirschman, Exit, Voice, and Loyalty: Responses to Decline in Firms, Organizations, and States, Harvard University Press, 1970. Đặc biệt “đắt” cho §24: khi một tổ chức xuống cấp, ngoài exit còn có voice — khả năng lên tiếng từ bên trong để sửa đổi nó. Google Books 

    11. Douglass C. North, Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, 1990. Tôi muốn đưa North vào thay vì thêm một tác giả thời thượng: thể chế nối quá khứ–hiện tại–tương lai, và lịch sử thể chế mang tính tích lũy chứ hiếm khi bắt đầu trên trang giấy trắng. Điều này rất gần với luận điểm của ta: cái mới không nhất thiết phải phá sạch cái cũ. Cambridge University Press 

    12. Amartya Sen, Development as Freedom, Oxford University Press, 1999. Sen giúp Part V tránh đồng nhất phát triển với GDP hay sức mạnh quốc gia: phát triển cuối cùng phải mở rộng năng lực thực sự của con người để sống và lựa chọn. Đây là chiếc cầu đẹp giữa phát triển, tự do và “năng lực kiến tạo”. 

    13. Václav Havel, The Power of the Powerless, 1978. Một nguồn Đông–Trung Âu rất hợp cho đoạn cuối về những xã hội bước ra khỏi một hệ thống ý thức hệ: chuyển đổi sâu xa không chỉ là thay người cầm quyền mà còn là khôi phục trách nhiệm của con người đối với sự thật và đời sống chung. 

    14. Jacques Lacan, Écrits và các Séminaires, đặc biệt những phần liên quan đến désir, le Grand Autre và sinthome. Đây là nguồn gốc lý thuyết cho gợi ý mà ta tiếp nhận qua Bùi Văn Nam Sơn; nên có nguồn gốc bên cạnh nguồn diễn giải để tránh biến Lacan thành một ẩn dụ chính trị quá dễ dãi. 

    15. Arnold J. Toynbee, A Study of History. Ta đã sử dụng Toynbee từ trước, nhưng ở Part V ông có một chức năng khác: văn minh không chỉ tồn tại vì chống chịu được thử thách mà còn tùy thuộc vào chất lượng của sự đáp ứng trước thử thách. Nó nối rất tự nhiên Trường tồn → Kiến tạo. 

    16. Tô Văn Trường, “AI: Nỗi lo của thế giới giàu, cơ hội của Việt Nam?”, Bauxite Việt Nam, 2026. Một case study Việt Nam đương đại, không phải nguồn lý thuyết trung tâm. Điều ta thấy là nghịch lý: công nghệ có thể mở rộng năng lực nhưng cũng có thể tạo phụ thuộc mới; do đó năng lực sử dụng AI phải đi cùng khả năng làm chủ và phán đoán. 

    17. Hannah Arendt, The Human Condition, University of Chicago Press, 1958. Tôi chủ ý  để tác giả đứng cuối bibliography. Arendt giúp ta đưa câu chuyện trở lại con người hành động trong một thế giới chung, thay vì kết thúc khảo luận bằng những trừu tượng như “dân tộc”, “thể chế” hay “công nghệ”. Tương lai cuối cùng vẫn được tạo nên bởi những con người có khả năng suy nghĩ, phán đoán và hành động cùng nhau. 


    Không có nhận xét nào