Kỳ 2
Tác giả: Pentagon Papers
November 3, 2026

Lời giới thiệu: Tài liệu được trích dịch từ “United States–Vietnam Relations, 1945–1967”, thường được biết đến với tên gọi Pentagon Papers (Hồ sơ Lầu Năm Góc), do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thực hiện. Bản tài liệu gốc mang dấu phân loại TOP SECRET – SENSITIVE (TỐI MẬT – NHẠY CẢM); trên bản PDF lưu trữ có ghi thông tin giải mật theo Sắc lệnh Hành pháp 13526 vào năm 2011.
Bản dịch tiếng Việt do ChatGPT hỗ trợ thực hiện, có hiệu đính cách viết tên riêng và địa danh cho phù hợp với tiếng Việt. Riêng cách gọi tên nhân vật theo lối viết ngắn gọn trong bản gốc tiếng Anh, chẳng hạn Diem, Nhu, Minh…, được giữ nguyên theo nguyên tắc dịch thuật của bản gốc, không tự ý thêm họ hoặc thay đổi cách gọi.
Tài liệu cung cấp góc nhìn từ phía Hoa Kỳ về những diễn biến dẫn đến cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, cho thấy mức độ can dự của Mỹ, những tính toán của giới chức Mỹ và các khác biệt, do dự trong quá trình hoạch định chính sách đối với cuộc đảo chính.
Do tài liệu gốc quá dài, Tạp chí Thế Kỷ Mới chỉ lựa chọn đăng tải một phần, tập trung vào niên biểu tháng cuối cùng của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, giai đoạn cuộc đảo chính chín muồi và diễn biến chính của cuộc đảo chính.
Lưu ý: Đây là bản trích dịch có biên tập về cách trình bày và tên riêng; không nên hiểu là bản dịch toàn văn của toàn bộ hồ sơ Pentagon Papers.
***
CHƯƠNG IV: CUỘC ĐẢO CHÍNH CHÍN MUỒI: TỪ NGÀY 2 THÁNG 10 ĐẾN NGÀY 1 THÁNG 11 NĂM 1963
1. Tình hình miền Nam Việt Nam trong tháng 10
Trong suốt tháng 9, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày càng thường xuyên sử dụng các biện pháp của một nhà nước cảnh sát. Chế độ lúc này nằm dưới sự chi phối của ông Ngô Đình Nhu nhiều hơn bao giờ hết. Thiết quân luật được dỡ bỏ ngày 16 tháng 9, nhưng các biện pháp đàn áp giới tăng lữ Phật giáo vẫn tiếp diễn không hề giảm bớt.
Học sinh, kể cả ở bậc tiểu học, cũng bị bắt và giam giữ chỉ vì những hành động phản đối hết sức nhỏ nhặt. Công chức chịu sức ép phải tránh tiếp xúc với người Mỹ và phải thể hiện lòng trung thành với gia đình cầm quyền. Những tin đồn do chế độ tung ra về các cuộc tấn công của đám đông nhằm vào cơ sở của Hoa Kỳ, cũng như những danh sách ám sát các nhân vật Mỹ nổi tiếng, thường xuyên được lưu truyền.
Sau đó, vào buổi trưa ngày 5 tháng 10, tại khu chợ trung tâm, một nhà sư Phật giáo khác đã tự thiêu. Đây là vụ tự thiêu đầu tiên kể từ sau các cuộc đột kích vào chùa chiền.
Trong bầu không khí căng thẳng ấy, cuộc bầu cử Quốc hội được tổ chức ngày 27 tháng 9, sau một chiến dịch tranh cử mang tính hình thức kéo dài một tuần. Đúng như dự đoán, các ứng cử viên của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giành chiến thắng áp đảo.
Quốc hội mới nhóm họp ngày 7 tháng 10 để nghe Tổng thống Ngô Đình Diệm đọc thông điệp về tình hình đất nước. Ông Diệm chủ yếu nói về những tiến bộ trong quá khứ và hiện tại của miền Nam Việt Nam, hạ thấp mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng chính trị trong nước và chỉ nhắc rất ít đến viện trợ của Hoa Kỳ. Như có thể dự đoán, ông quy trách nhiệm về cuộc khủng hoảng Phật giáo cho những người cộng sản, các phần tử phiêu lưu nước ngoài và báo chí phương Tây.
Cũng trong ngày hôm đó, bà Ngô Đình Nhu đến Hoa Kỳ sau một tháng ở châu Âu, bắt đầu chuyến diễn thuyết kéo dài ba tuần. Bà lập tức mở những cuộc công kích gay gắt nhằm vào Phật giáo và chính sách của Hoa Kỳ, khiến dư luận Mỹ ngày càng bất bình.
Cha bà, nguyên Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ, đi theo bà trong chuyến đi khắp nước Mỹ. Ông đóng vai trò như một người chuyên vạch trần sự thật, chỉ ra những điểm thiếu chính xác và xuyên tạc trong các phát biểu của con gái mình. Phản ứng điềm đạm, chừng mực của chính quyền Mỹ càng làm cho những lời công kích của bà mất uy tín.
Ngày 8 tháng 10, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu quyết định cử một phái đoàn điều tra thực tế đến miền Nam Việt Nam để xem xét những cáo buộc về việc đàn áp Phật tử.
2. Chính sách mới của Hoa Kỳ
Phản ứng ban đầu của Đại sứ Henry Cabot Lodge đối với đường lối chính sách mới rất tích cực. Ông gọi đó là “một chỉ thị tuyệt vời, vạch ra một đường hướng hành động có thể đem lại những kết quả mang tính xây dựng”.
Ngoại trừ quyết định đình chỉ viện trợ, về cơ bản quan điểm của Lodge đã được cả Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara lẫn Tổng thống chấp thuận, bất chấp những lời ca ngợi thường lệ trước công chúng về tiến triển quân sự.
Kế hoạch của Lodge là để việc đình chỉ Chương trình Nhập khẩu Hàng hóa — biện pháp trừng phạt kinh tế lớn nhất và quan trọng nhất — tự bộc lộ tác động mà không cần công khai đề cập đến nó. Đồng thời, bằng cách giữ khoảng cách với các cuộc tiếp xúc chính thức, ông muốn buộc chính quyền Diệm phải chủ động tìm đến phía Mỹ.
Tuy nhiên, ngày 7 tháng 10, Lodge bày tỏ một số nghi ngờ về giá trị thực tế của những nhượng bộ chính trị được nêu trong chỉ thị của Bộ Ngoại giao, nếu mục tiêu thật sự của Hoa Kỳ là loại bỏ ông Nhu. Trong hoàn cảnh lúc đó, khả năng đạt được mục tiêu này cũng rất đáng nghi ngờ.
Trước thái độ ngày càng thù địch của ông Nhu đối với sự hiện diện và ảnh hưởng của Hoa Kỳ, Lodge cho rằng khả năng chính quyền Việt Nam Cộng hòa yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam là hoàn toàn có thể xảy ra.
Cũng trong ngày 7 tháng 10, phản ứng của chế độ đối với việc cắt viện trợ được thể hiện trên đường phố qua những dòng tít lớn trên Times of Vietnam, tờ báo làm cơ quan ngôn luận cho chính quyền: “USOM đóng băng chương trình viện trợ kinh tế”.
Bài báo cáo buộc Hoa Kỳ phá hoại nỗ lực chiến tranh và khẳng định quyết định cắt viện trợ đã được đưa ra từ giữa tháng 9. Bài viết kết luận rằng việc gây sức ép quá đáng chỉ vì những cải cách nhỏ nhặt sẽ đe dọa toàn bộ chương trình cách mạng của chính phủ. Lodge không bình luận về bài báo này.
Giữa tháng 10, Lodge được yêu cầu gửi cho Washington bản đánh giá hằng tuần về những tác động tích cực lẫn tiêu cực của chính sách mới. Trong báo cáo ngày 16 tháng 10, ông tóm tắt tình hình như sau:
“Cho đến nay, dường như những hành động của chúng ta theo điện chỉ thị DEPTEL 534 hầu như chưa tạo ra tác động nào, nhưng chúng ta cũng không thể mong đợi tác động xuất hiện sớm đến thế.”
Những báo cáo khác cho biết chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang chuẩn bị một loạt biện pháp thắt lưng buộc bụng, trong đó có việc giảm lương công chức. Các doanh nhân và ngân hàng người Hoa bắt đầu lo ngại về sự ổn định của đồng tiền. Chính phủ cũng dự định sử dụng dần dự trữ ngoại hối để duy trì mức nhập khẩu, trong bối cảnh Hoa Kỳ cắt nguồn tài trợ cho Chương trình Nhập khẩu Hàng hóa.
Một bản ghi nhớ của CIA kết luận rằng phản ứng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước chính sách mới của Hoa Kỳ — đặc biệt là chiến dịch chống Mỹ dữ dội trên Times of Vietnam, cùng việc giám sát và sách nhiễu người Mỹ cũng như nhân viên của họ — cho thấy ông Diệm và ông Nhu đang chuẩn bị cho một cuộc đối đầu lâu dài và không bị lay chuyển bởi chính sách mới.
Theo chỉ thị của Lodge, ngày 17 tháng 10, Tướng Stillwell thuộc bộ phận tác chiến J-3 của Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV) gặp Bộ trưởng Thuận và thông báo rằng nguồn tài trợ cho Lực lượng Đặc biệt, cả từ Chương trình Viện trợ Quân sự (MAP) lẫn CIA, sắp bị cắt, trừ khi ba đại đội do CIA tài trợ dưới quyền Đại tá Lê Quang Tung được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu và được điều ra chiến trường.
Ông Thuận nói sẽ lập tức trình vấn đề lên ông Diệm. Ngày 18 tháng 10, Tướng Harkins cũng trực tiếp thông báo cho ông Diệm về biện pháp này bằng thư. Tướng Đôn và Đại tá Tung cũng được thông báo riêng, nhưng một lần nữa, không có thông báo công khai nào được đưa ra.
Đến ngày 26 tháng 10, người ta biết rằng ông Tung và Bộ Tổng tham mưu đang soạn kế hoạch điều chuyển lực lượng đặc biệt của ông lên Cao nguyên Trung phần. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, kế hoạch đảo chính đã tiến triển rất xa; vì thế, việc điều chuyển này cần được xem xét trong bối cảnh những âm mưu đang diễn ra.
Về quân sự, trong tháng 10, chính quyền Việt Nam Cộng hòa có thực hiện một vài bước nhỏ theo khuyến nghị của phái đoàn McNamara–Taylor, chẳng hạn đồng ý điều chỉnh ranh giới giữa Quân đoàn III và Quân đoàn IV nhằm tăng cường chú trọng đến chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Tuy vậy, tình hình chiến đấu vẫn tiếp tục xấu đi.
Nhịp độ các cuộc tấn công của Việt Cộng, đặc biệt tại đồng bằng sông Cửu Long, gia tăng. Tỷ lệ tổn thất vũ khí và thương vong trở nên bất lợi hơn; số quân nhân Việt Nam Cộng hòa mất tích cũng tăng lên.
Tại Washington, sự lạc quan trong những báo cáo trước đó bị đặt thêm dấu hỏi sau khi Bộ Ngoại giao công bố một nghiên cứu gây tranh cãi ngày 22 tháng 10. Bản ghi nhớ này phản bác những kết luận tích cực về tiến triển của chiến dịch quân sự vốn được rút ra từ các xu hướng thống kê, đồng thời chỉ ra những xu hướng bất lợi quan trọng cũng thể hiện trong chính các số liệu ấy. Tại Sài Gòn, MACV tiếp tục thúc ép ông Diệm thực hiện thêm các biện pháp nhằm củng cố nỗ lực chiến tranh, nhưng không đạt kết quả.
Trong khi đó, chính sách mới cũng làm gia tăng những căng thẳng nội bộ trong phái bộ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Theo Hilsman, ngay đầu tháng 10, Lodge quyết định rằng việc triệu hồi John Richardson, trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn, sẽ là một biện pháp gây thêm sức ép lên ông Nhu. Richardson vốn có quan hệ gần gũi với ông Nhu trong thời kỳ Đại sứ Nolting tại nhiệm và được biết là người ủng hộ cách tiếp cận mềm mỏng hơn đối với chính quyền Diệm.
Hilsman cho biết, dù hồ sơ hiện có không chứa những bức điện xác nhận việc này, Lodge đã gửi một thông điệp riêng cho Tổng thống và Giám đốc CIA John McCone, đề nghị chuyển Richardson khỏi Sài Gòn. Tổng thống đồng ý, McCone chấp thuận, và Richardson trở về Washington ngày 5 tháng 10.
Dù có thể còn những động cơ khác, trên thực tế Richardson từng trở thành mục tiêu của một bài công kích trên báo chí Mỹ ngày 2 tháng 10. Bài báo cáo buộc ông bất phục tùng và làm lộ danh tính của mình. Trong hoàn cảnh ấy, việc ông bị chuyển đi không phải điều đáng ngạc nhiên. Dù nguyên nhân thực sự là gì, báo chí vẫn diễn giải việc triệu hồi Richardson như một đòn giáng vào chính quyền Diệm — đúng như Hilsman cho rằng Lodge mong muốn.
Đây chỉ là một sự việc trong chuỗi bài báo liên tục của các phóng viên Mỹ về những bất đồng bên trong phái bộ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, quan hệ giữa Lodge và báo chí vẫn rất tốt trong suốt nhiệm kỳ của ông. Ông chủ động vun đắp quan hệ với các phóng viên Mỹ thông qua những bữa ăn trưa riêng, các buổi trao đổi thông tin không chính thức và đôi khi là việc tiết lộ thông tin. Điều này mang lại lợi ích cho cá nhân ông.
Ngược lại, báo chí công kích gay gắt những người trong phái bộ có quan điểm bất đồng với Lodge về chính sách của Hoa Kỳ, chẳng hạn Richardson và Tướng Harkins. Washington bày tỏ lo ngại rằng những bài báo ấy, bất kể bắt nguồn từ đâu, đều làm tổn hại đến hình ảnh thống nhất chính thức mà chính phủ Mỹ đang cố duy trì trong quá trình thực thi một chính sách khó khăn đối với miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, những câu chuyện về bất đồng nội bộ vẫn tiếp diễn, kể cả sau cuộc đảo chính.
Trong bản đánh giá hằng tuần ngày 23 tháng 10 về tác động của chính sách mới, Lodge không tỏ ra lạc quan về kết quả đạt được cho đến lúc đó:
“Ông Diệm và ông Nhu dường như hoàn toàn giữ nguyên lập trường, đáp trả sức ép của Hoa Kỳ bằng sức ép ngược lại, đồng thời qua các tuyên bố công khai ngụ ý rằng họ có thể tự mình xoay xở.”
Dẫu vậy, vẫn có một vài dấu hiệu nhỏ cho thấy tình hình có thể thay đổi. Bộ trưởng Thuận báo cáo rằng ông Diệm đang lo lắng và đã chỉ thị cho ông hỏi Lodge xem Washington đã có quyết định nào về vấn đề nhập khẩu thương mại hay chưa. Lodge cũng cảm thấy chính quyền đã thận trọng hơn trong việc thực hiện các biện pháp đàn áp.
Hơn nữa, một số nhà quan sát giàu kinh nghiệm cho rằng chính sách của Hoa Kỳ đang tạo ra những điều kiện thuận lợi cho một cuộc đảo chính, mặc dù Lodge không nhận thấy có ai thật sự nghiêm túc cân nhắc khả năng đó.
Ngày hôm sau khi gửi bản báo cáo trên, Lodge được ông Diệm mời cùng phu nhân đến biệt thự của Tổng thống tại Đà Lạt vào Chủ nhật tuần kế tiếp, tức ngày sau lễ Quốc khánh, sau khi thăm một trạm nông nghiệp và một ấp chiến lược. Lodge lập tức nhận lời. Ông Diệm đã chủ động có bước đi đầu tiên.
Washington chỉ thị Lodge tận dụng chuyến đi để thăm dò xem chính quyền Việt Nam Cộng hòa có sẵn sàng thay đổi lập trường trước bất kỳ yêu cầu nào của Mỹ hay không. Ông cần khéo léo tận dụng những chủ đề do ông Diệm nêu ra để đánh giá mức độ sẵn sàng nhượng bộ của chính phủ và hiệu quả của các biện pháp trừng phạt có chọn lọc của Hoa Kỳ. Nếu ông Diệm không mở ra những cơ hội đối thoại như vậy, Lodge phải chủ động nêu vấn đề.
Cụ thể, ông được yêu cầu hỏi về những thay đổi trong chiến dịch quân sự mà phái đoàn McNamara–Taylor đã khuyến nghị và Tướng Harkins tiếp tục thúc đẩy; đề nghị ông Diệm hợp tác với phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc vừa đến Việt Nam ngày 24 tháng 10, cho phép họ tiếp cận đầy đủ thông tin và những người có liên quan; đồng thời hỏi liệu ông Diệm có cho rằng đã đến lúc chấm dứt chiến dịch chống Mỹ gay gắt trên Times of Vietnam và những phát biểu của bà Nhu hay chưa.
Cuộc gặp giữa Lodge và ông Diệm vào Chủ nhật, ngày 27 tháng 10, một ngày sau lễ Quốc khánh, gây thất vọng trên hầu hết mọi phương diện. Ông Diệm có nêu một vài vấn đề đáng chú ý nhưng không cho thấy mình đã thay đổi lập trường hoặc thái độ đối với Phật giáo và Hoa Kỳ.
Ông Diệm hỏi về việc đình chỉ Chương trình Nhập khẩu Hàng hóa. Lodge đáp lại bằng cách hỏi về việc thả các Phật tử và sinh viên đang bị giam, mở cửa trở lại các trường học và chấm dứt sự phân biệt đối xử với Phật giáo. Như thường lệ, ông Diệm đưa ra những lời giải thích và phàn nàn.
Sau đó, Lodge chủ động phàn nàn rằng các chính sách của ông Diệm đang tạo sức ép lớn lên Tổng thống Hoa Kỳ trước dư luận Mỹ. Ông nêu các vụ tấn công thể xác nhằm vào phóng viên Mỹ và những phát biểu kích động của bà Nhu tại Hoa Kỳ làm ví dụ về những việc mà ông Diệm có thể ngăn chặn, qua đó cải thiện hình ảnh của mình trước công chúng Mỹ và thế giới.
Lodge mô tả đoạn cuối cuộc trò chuyện như sau:
“Khi thấy cuộc nói chuyện gần như đã kết thúc, tôi nói: ‘Thưa Tổng thống, tất cả những đề nghị cụ thể mà tôi đưa ra, ngài đều bác bỏ. Ngài có thể nghĩ ra dù chỉ một việc nằm trong khả năng của mình mà có thể tạo ấn tượng tích cực đối với dư luận Hoa Kỳ hay không?’
“Cũng như những lần trước, khi tôi đặt những câu hỏi tương tự, ông nhìn tôi với vẻ trống rỗng rồi chuyển sang chủ đề khác.”
Dù không nhận thấy bất kỳ chuyển biến nào qua cuộc trò chuyện, Lodge vẫn đề nghị Washington xem xét những hành động nào từ phía ông Diệm có thể được coi là đủ để nối lại Chương trình Nhập khẩu Hàng hóa.
Ngày hôm sau, sau khi Lodge kể lại kết quả đáng thất vọng của cuộc gặp với ông Thuận trong bữa ăn trưa, vị bộ trưởng nhận xét rằng những yêu cầu của Hoa Kỳ thực ra không quá đáng và có lẽ cuộc trò chuyện với ông Diệm là một bước khởi đầu.
Nhìn lại, nhận xét ấy thật mỉa mai: khi cuộc đảo chính chỉ còn cách năm ngày, cuộc gặp ngày 27 tháng 10 trên thực tế là một kết thúc đáng buồn, chứ không phải một khởi đầu đầy hy vọng.
Ở một phương diện khác, sự chú ý lúc này chuyển sang chuyến đi Washington dự kiến của Lodge vào ngày 31 tháng 10. Mục đích chính xác của chuyến đi vẫn còn là điều bí ẩn.
Ngày 30 tháng 10, ông gửi điện về Washington, đề xuất một số bước mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa có thể thực hiện để Washington cân nhắc nối lại Chương trình Nhập khẩu Hàng hóa trong những điều kiện nhất định. Ông hy vọng sẽ thảo luận các đề xuất đó khi đến nơi.
Tuy nhiên, từ đầu tháng 10, Lodge đã gửi một thư riêng cho McGeorge Bundy, đề nghị Tổng thống bố trí để Bundy đến Việt Nam, nhằm thảo luận một vấn đề mà Lodge cảm thấy không thể trao đổi qua bất kỳ kênh liên lạc điện tử nào.
Một đoạn điện tín sau đây, được diễn đạt khá kín đáo, gợi ý rằng vấn đề bí ẩn ấy có thể chính là mục đích chuyến đi Washington cuối tháng 10 của Lodge:
“Về bức điện của tôi, tôi cảm ơn ông đã sẵn lòng cử Bundy đến. Tôi đã không nêu vấn đề này nếu không có một đề xuất mà tôi cho rằng chứa đựng những ý tưởng mới và có thể giúp thay đổi tình hình ở đây theo hướng tốt hơn. Vấn đề không thể được xử lý thích hợp bằng điện tín hay thư từ; cần có cơ hội để tôi trao đổi trực tiếp với Rusk và/hoặc Harriman và/hoặc Bundy.
“Tôi điện cho Bundy vì hiện chưa thể rời nơi này ngay lập tức. Nhưng tôi có thể đến Washington trong một ngày làm việc sau ngày Quốc khánh Việt Nam 26 tháng 10 và lễ khánh thành nhà máy năng lượng nguyên tử Việt Nam ngày 28 tháng 10, rồi lập tức quay trở lại. Tôi rất sẵn lòng thực hiện chuyến đi đó.”
Để rút ngắn thời gian Lodge vắng mặt ở Sài Gòn và tạo sự linh hoạt về giờ khởi hành, Tổng thống đã điều một máy bay quân sự đến Sài Gòn để ông sử dụng. Tuy nhiên, khi ngày 31 tháng 10 đến gần, tình hình lại trùng với thời điểm người ta dự đoán các tướng lĩnh có thể hành động.
Lodge hẳn muốn tiếp tục trực tiếp kiểm soát các hành động của Hoa Kỳ trong trường hợp đảo chính, thay vì để Tướng Harkins nắm quyền điều hành như chỉ thị của Washington quy định trong thời gian ông vắng mặt. Vì vậy, ông hoãn chuyến đi của mình.
3. Âm mưu đảo chính được khôi phục
Trong khi ông Diệm phản ứng thù địch trước chính sách cứng rắn mới của Hoa Kỳ, các tướng lĩnh cấp cao của miền Nam Việt Nam, như có thể dự đoán, lại xem chính sách này như một tín hiệu bật đèn xanh cho cuộc đảo chính. Các hoạt động âm mưu được khôi phục gần như ngay lập tức, nếu như chúng thực sự đã từng hoàn toàn ngừng lại.
Ngày 2 tháng 10, đúng ngày phái đoàn McNamara–Taylor báo cáo với Tổng thống, Tướng Trần Văn Đôn tình cờ gặp Trung tá Lucien Conein tại sân bay Tân Sơn Nhất. Conein là đầu mối liên lạc của CIA với nhóm âm mưu đảo chính hồi tháng 8. Ông Đôn đề nghị Conein gặp mình tối hôm đó tại Nha Trang.
Truehart chấp thuận cuộc tiếp xúc và chỉ thị Conein không được khuyến khích cũng không được ngăn cản cuộc đảo chính; nhiệm vụ của ông chỉ là thu thập thông tin.
Tại cuộc gặp, Tướng Đôn cho biết Tướng Dương Văn Minh muốn gặp Conein lúc 8 giờ sáng ngày 5 tháng 10 tại Bộ Tổng tham mưu để trình bày chi tiết kế hoạch của các tướng lĩnh. Ông Đôn nhấn mạnh rằng kế hoạch đã tồn tại, và một yếu tố thiết yếu là phải lôi kéo được Tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh Quân đoàn III, tham gia.
Với sự chấp thuận của Lodge, Conein gặp Tướng Minh ngày 5 tháng 10. Đi thẳng vào vấn đề, Tướng Minh nói rằng ông cần biết lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ đối với khả năng thay đổi chính quyền Việt Nam trong tương lai rất gần.
Theo ông Minh, việc chính quyền mất đi sự ủng hộ của dân chúng đang đe dọa toàn bộ nỗ lực chiến tranh, vốn đã suy yếu nhanh chóng. Ông không mong đợi Hoa Kỳ hỗ trợ cuộc đảo chính, nhưng cần được bảo đảm rằng Mỹ sẽ không cản trở hành động này.
Ông cho biết các Tướng Đôn, Trần Thiện Khiêm và Lê Văn Kim cũng tham gia. Trong ba phương án mà ông Minh đề cập — vốn không loại trừ lẫn nhau — có hai phương án sử dụng lực lượng quân sự để đối phó với các đơn vị trung thành với chính quyền tại Sài Gòn, còn phương án thứ ba là âm mưu ám sát hai anh em Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn, nhưng không nhằm vào ông Diệm.
Conein không cam kết điều gì về sự hỗ trợ của Hoa Kỳ cũng như về các phương án được nêu ra. Tướng Minh bày tỏ nghi ngờ đối với Tướng Khiêm, người mà ông cho rằng có thể đã đóng hai vai trong âm mưu tháng 8. Tuy nhiên, ông Minh nhận định các tướng lĩnh phải hành động sớm, trước khi những sĩ quan cấp thấp hơn tự phát tiến hành một cuộc đảo chính thất bại. Ông hy vọng sẽ sớm gặp lại Conein để trình bày kế hoạch tác chiến chi tiết. Conein tiếp tục giữ thái độ không cam kết, và ông Minh nói rằng mình hiểu điều đó.
Lodge, với sự đồng tình của Tướng Harkins, đề nghị rằng nếu Tướng Minh tiếp tục tìm đến Conein — người mà Lodge lúc này cũng đã bắt đầu nghi ngờ sau những gì xảy ra hồi tháng 8 — thì Conein nên nói rõ ba điểm: Hoa Kỳ sẽ không cản trở kế hoạch của họ; Mỹ sẵn sàng xem xét kế hoạch, ngoại trừ những phương án ám sát; và viện trợ của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục được duy trì.
Trong phản hồi ngày 6 tháng 10 về cuộc gặp Conein–Minh, Washington viện dẫn bức điện gửi ngày hôm trước và bổ sung, theo đề nghị của Lodge, rằng:
“Mặc dù chúng ta không muốn kích động một cuộc đảo chính, chúng ta cũng không muốn tạo ấn tượng rằng Hoa Kỳ sẽ cản trở việc thay đổi chính quyền hoặc từ chối viện trợ kinh tế và quân sự cho một chế độ mới, nếu chế độ đó có vẻ có khả năng nâng cao hiệu quả nỗ lực quân sự, bảo đảm sự ủng hộ của dân chúng để giành chiến thắng trong cuộc chiến và cải thiện quan hệ làm việc với Hoa Kỳ.
“Chúng ta muốn được thông báo về những gì đang được dự tính, nhưng cần tránh để mình bị lôi kéo vào việc xem xét hoặc cố vấn cho các kế hoạch tác chiến, hay tham gia bất kỳ hành động nào khác có thể khiến Hoa Kỳ bị gắn quá chặt với việc thay đổi chính quyền.”
Washington cũng đặc biệt lo ngại về vấn đề bảo mật và khả năng phủ nhận mọi liên quan đến các cuộc tiếp xúc tiếp theo. Chính quyền Mỹ gợi ý với Lodge rằng nếu cần, có thể đưa một người từ bên ngoài Việt Nam vào để tiếp tục liên lạc. Có vẻ Lodge đã không làm theo đề nghị này.
Ở giai đoạn tiếp theo, hồ sơ điện tín hiện có xuất hiện một khoảng trống đáng kể. Theo lời kể của nhà báo Shaplen, ngày 10 tháng 10, một sĩ quan CIA đã gặp Tướng Minh và truyền đạt nội dung lập trường của Hoa Kỳ như được xác định trong điện chỉ thị CAP 14228. Dù ngày tháng này có chính xác hay không, nhiều khả năng một cuộc tiếp xúc tương tự đã diễn ra vào khoảng giữa tháng 10.
Ngày 20 tháng 10, Đại tá Khương tại Bộ Tổng tham mưu liên lạc với một người đồng cấp Mỹ và báo cáo về một âm mưu đảo chính có sự tham gia của các Tướng Minh, Khiêm, Kim, một vị tướng thứ tư chưa xác định danh tính cùng một số đại tá. Ông Khương tìm kiếm sự bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ sau cuộc đảo chính.
Không có cuộc tiếp xúc nào khác được báo cáo cho đến ngày 23 tháng 10, khi Conein lại gặp Tướng Đôn theo đề nghị của vị tướng này.
Trong trạng thái kích động, ông Đôn cho biết cuộc đảo chính từng được dự kiến tiến hành nhằm tận dụng kỳ nghỉ lễ Quốc khánh ngày 26 tháng 10. Tuy nhiên, ngày 22 tháng 10, Tướng Harkins đã gặp ông Đôn, đề cập đến việc Đại tá Khương liên lạc với người Mỹ và khuyên ông không nên tiến hành đảo chính.
Ông Đôn còn cho biết phủ Tổng thống đã phát hiện những động thái tiếp xúc của Khương, qua đó ngụ ý rằng Harkins là người phải chịu trách nhiệm. Theo ông Đôn, chính quyền đã hành động để bảo đảm hai đơn vị chủ lực quan trọng là Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7 sẽ ở xa Sài Gòn.
Ông Đôn yêu cầu Conein nói rõ thái độ của Hoa Kỳ đối với một cuộc đảo chính. Conein nhắc lại chỉ thị của Washington. Có vẻ được trấn an, ông Đôn đề nghị Conein bảo đảm với Lodge rằng Khương không thuộc ban chỉ huy đảo chính và sẽ bị trừng phạt. Ông cũng cho biết các tướng lĩnh đã tránh tiếp xúc trực tiếp với Lodge tại một buổi tiệc ngày 18 tháng 10 vì có nhân viên của Harkins hiện diện.
Conein sau đó yêu cầu bằng chứng cho thấy nhóm đảo chính và kế hoạch của họ thực sự tồn tại. Ông Đôn nói rằng nếu hai bên gặp nhau vào ngày hôm sau, ông sẽ trao cho Conein bản kế hoạch tổ chức chính trị, chỉ để Lodge đọc.
Trong cuộc trao đổi tiếp theo với Harkins, Lodge báo cáo rằng Harkins xác nhận đã gặp và khuyên can ông Đôn vào ngày 22 tháng 10. Sau khi cùng xem lại điện chỉ thị CAP 74228, Harkins nói rằng mình đã hiểu sai chính sách và hy vọng không làm xáo trộn những sắp xếp nhạy cảm nào. Ông Harkins cho biết sẽ thông báo với ông Đôn rằng những phát biểu trước đó của mình không phản ánh chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.
Theo lời giải thích của Harkins, ông không vi phạm chỉ thị của Washington trong cuộc trò chuyện với ông Đôn. Ông chỉ muốn ngăn các sĩ quan Việt Nam tìm đến những người đồng cấp Mỹ để bàn về các âm mưu đảo chính, bởi những hoạt động này chỉ làm sao nhãng nỗ lực chiến tranh. Hơn nữa, ông khẳng định ông Đôn chưa bao giờ đề cập với mình về việc chuẩn bị đảo chính.
Harkins kết luận về việc các tướng lĩnh tái khởi động âm mưu:
“Mặc dù tôi không tìm cách ngăn cản việc thay đổi chính quyền, tôi cho rằng chúng ta cần xem xét thật kỹ những đề xuất của nhóm này để xác định liệu họ có đủ khả năng nâng cao hiệu quả nỗ lực quân sự hay không. Có quá nhiều nhóm đảo chính lên tiếng đe dọa. Nếu không bao gồm các thành phần của tất cả những nhóm ấy, tôi e rằng sẽ còn những nỗ lực liên tục nhằm lật đổ bất kỳ ai giành được quyền kiểm soát, và tình trạng đó sẽ cản trở nỗ lực chiến tranh trong một thời gian dài.”
Sự việc một lần nữa cho thấy sự khác biệt trong cách nhìn nhận giữa Đại sứ Lodge và bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Việt Nam, đồng thời bộc lộ tình trạng thiếu phối hợp chặt chẽ giữa họ. Đáng tiếc, sự việc không giúp cải thiện tình hình. Các tướng lĩnh Việt Nam nghi ngờ Harkins vì cho rằng ông quá gắn bó với ông Diệm. Trong khi đó, vì hiểu rõ mối quan tâm sâu sắc của họ đối với vấn đề bảo mật, Lodge có xu hướng giữ thông tin về các cuộc tiếp xúc và kế hoạch đảo chính cho riêng mình.
Trước cuộc tiếp xúc của ông Đôn, Washington chủ yếu lo ngại rằng ông có thể đang hành động thay mặt phủ Tổng thống, nhằm dẫn dụ phía Mỹ đi sai hướng. Như đã hứa, sáng ngày 24 tháng 10, ông Đôn liên lạc với Conein, nhưng không đưa ra kế hoạch đã hứa.
Ông cho biết tối hôm trước Harkins đã nói chuyện với mình và đính chính những phát biểu trước đó về việc không mong muốn thay đổi chính quyền. Ông Đôn còn nói rằng mình có cuộc hẹn với Lodge vào tối hôm đó — điều Lodge phủ nhận — và kế hoạch đảo chính lúc này đã tiến rất xa, dự kiến diễn ra trước ngày 2 tháng 11. Ông đề nghị gặp Conein vào buổi chiều để thảo luận chi tiết.
Trong một bức điện riêng, Harkins phản bác một số điểm trong cách Lodge diễn giải cuộc trao đổi giữa ông với Đôn. Harkins nói rằng ông đã từ chối đề nghị của Đôn về việc gặp lại để thảo luận kế hoạch đảo chính: “Tôi nói với Đôn rằng tôi sẽ không thảo luận những cuộc đảo chính không thuộc phạm vi trách nhiệm của mình, mặc dù tôi đã nghe đồn về nhiều âm mưu như vậy.”
Tướng Maxwell Taylor lập tức trả lời: “Quan điểm của chúng tôi là hành động của ông khi rút khỏi cuộc thảo luận về đảo chính là đúng, và ông nên tiếp tục tránh mọi sự can dự.”
Trong cuộc gặp Conein tối ngày 24 tháng 10, ông Đôn cho biết mình đã hiểu nhầm Harkins và chưa từng gặp Lodge. Ông nói ban chỉ huy đảo chính từ chối cung cấp kế hoạch vì lo ngại những vi phạm an ninh. Tuy nhiên, ông hứa sẽ giao cho Conein bản kế hoạch tác chiến chi tiết và dự kiến về chính phủ kế nhiệm để Lodge xem xét, hai ngày trước khi cuộc đảo chính diễn ra. Ông nhắc lại rằng cuộc đảo chính sẽ được tiến hành trước ngày 2 tháng 11.
Từ thời điểm này, tính chất trao đổi giữa Lodge và Nhà Trắng bắt đầu thay đổi.
Ngày 25 tháng 10, Lodge gửi một bức điện dài cho McGeorge Bundy, phản đối sự dè dặt của Harkins đối với cuộc đảo chính và lập luận rằng Hoa Kỳ nên theo đuổi chính sách “không cản trở”. Lodge cho rằng không chính phủ kế nhiệm nào có thể điều hành cuộc chiến tệ hơn ông Diệm; hơn nữa, nếu ngăn chặn việc thay đổi chính quyền, Hoa Kỳ sẽ tự nhận lấy “trách nhiệm quá mức trong việc duy trì những người đang nắm quyền”.
Trong thư trả lời, Bundy bày tỏ nỗi lo của Nhà Trắng rằng Hoa Kỳ sẽ bị đổ lỗi nếu cuộc đảo chính thất bại:
“Chúng tôi đặc biệt lo ngại nguy cơ một cuộc đảo chính thất bại, dù chúng ta có thận trọng đến đâu để tránh trực tiếp tham gia, vẫn sẽ bị dư luận ở hầu như khắp nơi quy trách nhiệm cho Hoa Kỳ. Vì vậy, mặc dù đồng ý với ông rằng chúng ta không nên ở vào vị trí cản trở cuộc đảo chính, chúng tôi muốn giữ quyền đánh giá và cảnh báo về bất kỳ kế hoạch nào có triển vọng thành công thấp. Chúng tôi hiểu rằng đây là một yêu cầu rất khó khăn, nhưng Tổng thống muốn ông biết rõ mối quan ngại của chúng tôi.”
Cuộc tranh luận này chi phối các bức điện giữa Lodge và Nhà Trắng cho đến ngày đảo chính. Washington quan tâm đến kế hoạch chi tiết và khả năng thành công, trong khi Lodge nhấn mạnh rằng sự can dự của Hoa Kỳ đã trở nên không thể đảo ngược.
Không có thêm cuộc tiếp xúc nào với nhóm đảo chính cho đến ngày sau cuộc gặp không đem lại kết quả giữa Lodge và ông Diệm. Thứ Hai, ngày 28 tháng 10, Lodge và ông Diệm rời Sài Gòn đi Đà Lạt để dự lễ khánh thành nhà máy năng lượng nguyên tử Việt Nam. Tại sân bay, trước khi khởi hành, Tướng Đôn táo bạo kéo Lodge sang một bên và hỏi liệu Conein có được phép đại diện cho ông hay không.
Lodge xác nhận rằng Conein được ủy quyền. Ông Đôn nói cuộc đảo chính phải hoàn toàn do người Việt Nam tiến hành và Hoa Kỳ không được can thiệp. Lodge đồng ý, đồng thời nói rằng Hoa Kỳ không muốn tạo ra những chính quyền lệ thuộc, nhưng cũng sẽ không cản trở một cuộc đảo chính. Khi Lodge hỏi về thời điểm, ông Đôn trả lời rằng các tướng lĩnh vẫn chưa sẵn sàng.
Tối hôm đó, theo sắp xếp của ông Đôn, Conein gặp ông lần nữa. Khi Conein nhắc đến chuyến đi Washington dự kiến ngày 31 tháng 10 của Lodge và nói rằng Đại sứ cần xem kế hoạch đảo chính trước khi lên đường, ông Đôn trả lời rằng kế hoạch có thể chỉ được cung cấp trước cuộc đảo chính bốn giờ. Ông thúc giục Lodge không thay đổi lịch trình, vì điều đó có thể khiến phía phủ Tổng thống sinh nghi. Ông Đôn nói sẽ không có chuyện gì xảy ra trong 48 giờ tiếp theo, nhưng hàm ý rõ ràng rằng cuộc đảo chính sẽ diễn ra trước khi Lodge rời Sài Gòn.
Khi được hỏi chi tiết, ông Đôn cho biết trong ban chỉ huy, Tướng Minh phụ trách kế hoạch quân sự, Tướng Kim phụ trách kế hoạch chính trị, còn bản thân ông làm đầu mối liên lạc với người Mỹ. Các tướng lĩnh đã bố trí những người ủng hộ đảo chính bao quanh Tướng Đính để vô hiệu hóa ông nếu cần. Các Tướng Trần Văn Trà và Nguyễn Khánh cũng tham gia công tác chuẩn bị. Tướng Khiêm vẫn hành động thận trọng vì đang bị phủ Tổng thống nghi ngờ. Một số chi tiết nhỏ của kế hoạch và danh sách các đơn vị ủng hộ đảo chính cũng được thảo luận.
Những cuộc tiếp xúc riêng biệt cùng thời điểm xác nhận rằng một số nhân vật dân sự đối lập quan trọng, trong đó có Phan Huy Quát, Bùi Diễm và Trần Trung Dung, đang liên lạc với các tướng lĩnh và dự kiến tham gia chính phủ hậu đảo chính. Theo báo cáo, chính phủ mới sẽ do Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ đứng đầu.
Trong bức điện tổng kết tình hình gửi cùng ngày, Lodge bày tỏ một số lo ngại rằng các sĩ quan cấp thấp có thể hành động quá sớm. Tuy nhiên, ông nhìn chung tin tưởng vào các tướng lĩnh, dù lấy làm tiếc rằng vì lý do bảo mật, họ không muốn cung cấp chi tiết kế hoạch.
Ông kết luận:
“Tóm lại, có vẻ như một cuộc đảo chính do nhóm tướng lĩnh tiến hành sắp xảy ra. Dù cuộc đảo chính thất bại hay thành công, Chính phủ Hoa Kỳ phải chuẩn bị chấp nhận rằng chúng ta sẽ bị đổ lỗi, dù điều đó bất công đến đâu. Cuối cùng, không có hành động tích cực nào của Chính phủ Hoa Kỳ có thể ngăn chặn một cuộc đảo chính, ngoại trừ việc thông báo cho ông Diệm và ông Nhu, với tất cả những hệ quả tai hại mà hành động ấy kéo theo.
“Cũng cần lưu ý lời ông Đôn rằng chúng ta chỉ được báo trước bốn giờ. Điều đó loại trừ khả năng tôi tham khảo ý kiến của quý vị trong khoảng thời gian từ lúc biết cuộc đảo chính sắp diễn ra đến khi nó bắt đầu. Điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ không thể gây ảnh hưởng đáng kể đến diễn biến sự việc.”
Quan điểm của Lodge rất rõ ràng: Hoa Kỳ đã dấn sâu vào tình hình và đã quá muộn để đổi ý. Hơn nữa, khi cuộc đảo chính bắt đầu, ông không nghĩ mình sẽ có thời gian tham khảo Washington. Ông dự kiến — và có lẽ cũng muốn — tự mình điều hướng diễn biến sự việc.
Trước tình hình ngày càng xấu đi, Đô đốc Harry Felt, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (CINCPAC), được chỉ thị bố trí một lực lượng đặc nhiệm ngoài khơi bờ biển Việt Nam, sẵn sàng sơ tán thân nhân quân nhân và thường dân Mỹ nếu tình hình đòi hỏi. Đây là sự tái diễn một biện pháp báo động tương tự trong cuộc đảo chính bất thành hồi tháng 8.
Tại Washington, McNamara và Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân ngày càng lo ngại trước những quan điểm khác nhau giữa Lodge và Harkins về đường lối hành động đúng đắn của Hoa Kỳ. Quan trọng hơn, họ báo động trước dấu hiệu đổ vỡ trong liên lạc và phối hợp giữa Đại sứ quán và MACV. Các bức điện tạo nên hình ảnh về một mối quan hệ thiếu chiều sâu và tính liên tục cần thiết để xử lý hoàn cảnh phức tạp ở Sài Gòn.
Harkins được yêu cầu đề xuất cách cải thiện quan hệ làm việc với Lodge. Sau cuộc họp Hội đồng An ninh Quốc gia ngày 29 tháng 10, Nhà Trắng cũng bày tỏ quan ngại và chỉ thị Lodge cho Harkins xem những bức điện liên quan, đồng thời bảo đảm rằng ông nắm đầy đủ các sắp xếp về cuộc đảo chính. Lý do là trong thời gian Lodge vắng mặt tại Washington, Harkins sẽ chịu trách nhiệm chung về hoạt động của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Hai bức điện này châm ngòi cho một loạt phản ứng gay gắt giữa Lodge và Harkins. Sau khi được thông báo muộn về những cuộc tiếp xúc gần đây giữa Conein và Đôn, cũng như những đánh giá và khuyến nghị của Lodge, Harkins phản đối mạnh mẽ kết luận của Đại sứ trong ba bức điện riêng ngày 30 tháng 10.
Ông đặc biệt bất bình trước những đánh giá bi quan độc lập của Lodge về tình hình chiến tranh, vốn trái ngược trực tiếp với quan điểm của ông. Đây chính là những đánh giá mà Harkins đã cung cấp cho Lodge để đưa vào các báo cáo hằng tuần gửi Washington. Về chính sách đối với đảo chính, Harkins tức giận vì Lodge đã loại ông khỏi các cuộc trao đổi thông tin và tham vấn liên quan đến những cuộc tiếp xúc đang tiếp diễn với các tướng lĩnh.
Cốt lõi của bất đồng là cách diễn giải chính sách của Hoa Kỳ đối với một cuộc đảo chính theo các chỉ thị từ Washington.
Trong bức điện gửi Taylor ngày 30 tháng 10, Harkins viết:
“Dường như có một khác biệt căn bản giữa cách suy nghĩ của Đại sứ và của tôi về việc diễn giải chỉ thị trong CAP 63560 ngày 6 tháng 10 và những ý kiến bổ sung — tôi nhấn mạnh, chỉ là những ý kiến bổ sung — trong điện CAS Washington 74228 ngày 9 tháng 10.
“Tôi hiểu CAP 63560 là chỉ thị cơ bản của chúng ta; còn CAS 74228 không thay đổi chỉ thị ấy, theo đó chúng ta không nên chủ động thực hiện bất kỳ hành động bí mật tích cực nào nhằm khuyến khích đảo chính. Đại sứ cho rằng điện 74228 đã thay đổi điện 63560, rằng chúng ta mong muốn thay đổi chính quyền và, như ông nêu trong điện CAS Saigon 1964, đảo chính là con đường duy nhất để đạt được điều đó.
“Tôi không phản đối việc thay đổi chính quyền. Tuy nhiên, tôi thiên về quan điểm rằng lúc này cần thay đổi phương pháp điều hành hơn là thay toàn bộ nhân sự. Tôi chưa thấy nhóm đảo chính nào đưa ra danh sách nhân sự dự kiến. Theo tôi, chúng ta cần xem xét thật kỹ bất kỳ danh sách nào trước khi đưa ra quyết định. Trong những cuộc tiếp xúc tại đây, tôi chưa thấy ai có phẩm chất và bản lĩnh như ông Diệm, ít nhất là trong cuộc chiến chống cộng sản. Theo đánh giá của tôi, không có vị tướng nào đủ tư cách tiếp quản.
“Tôi không phải là người tuyệt đối ủng hộ ông Diệm. Tôi thấy rõ những khuyết điểm trong tính cách của ông. Nhưng tôi có mặt ở đây để ủng hộ nhà lãnh đạo của 14 triệu người dân Việt Nam vào thời điểm này.
“Tôi đề nghị chúng ta đừng vội thay ngựa giữa dòng. Hãy tiếp tục sử dụng các biện pháp thuyết phục để khiến những người đang cầm quyền thay đổi đường hướng và phương pháp hành động. Hãy giành thắng lợi quân sự càng nhanh càng tốt, rồi để họ tự quyết định mọi thay đổi mà họ muốn.
“Dù đúng hay sai, chúng ta đã ủng hộ ông Diệm suốt tám năm dài và đầy gian khó. Theo tôi, thật khó hiểu nếu giờ đây chúng ta lại hạ bệ, làm nhục và loại bỏ ông. Kể từ khi ông nhậm chức, Hoa Kỳ vừa đóng vai người bảo trợ tinh thần vừa là người giải tội cho ông, và ông đã dựa rất nhiều vào chúng ta.”
Bức điện đầu tiên Washington gửi Lodge ngày 30 tháng 10 cho thấy nỗi lo của Nhà Trắng về khả năng cuộc đảo chính thất bại đã tăng lên. Trước đó, mối lo này đã thể hiện trong điện CAP 63590 ngày 25 tháng 10. Đánh giá của CIA về tương quan lực lượng khiến người ta nghi ngờ liệu nhóm đảo chính có đủ sức giành thắng lợi quyết định hay không.
Với những lo ngại đó, Washington không thể chấp nhận nhận định của Lodge rằng không có hành động tích cực nào của Chính phủ Hoa Kỳ có thể ngăn chặn một cuộc đảo chính. Quan điểm của Nhà Trắng là:
“Thái độ của chúng ta đối với nhóm đảo chính vẫn có thể tạo ảnh hưởng quyết định đến những lựa chọn của họ. Chúng ta tin rằng những gì chúng ta nói với nhóm này có thể khiến họ trì hoãn cuộc đảo chính; việc tiết lộ kế hoạch của họ cho ông Diệm không phải là cách duy nhất để ngăn chặn cuộc đảo chính.”
Trong bức điện trả lời dài — mà Harkins không đồng tình — Lodge cố gắng giải thích rằng ông không có khả năng ngăn chặn điều vốn về cơ bản là một công việc nội bộ của người Việt Nam, trừ khi tiết lộ kế hoạch cho phủ Tổng thống.
Ông viết:
“Tất nhiên, chúng ta phải có đánh giá tốt nhất có thể về khả năng thành công của cuộc đảo chính, và đánh giá ấy phải ảnh hưởng đến suy nghĩ của chúng ta. Nhưng đừng cho rằng chúng ta có quyền lực để trì hoãn hay làm nản lòng một cuộc đảo chính. Ông Đôn đã nhiều lần nói rõ rằng đây là công việc của người Việt Nam.
“Về lý thuyết, chúng ta có thể chuyển cho ông Diệm những thông tin được cung cấp cho chúng ta một cách bí mật. Điều đó chắc chắn sẽ ngăn chặn cuộc đảo chính và biến chúng ta thành những kẻ phản bội. Vì vậy, trên thực tế, tôi cho rằng chúng ta có rất ít ảnh hưởng đối với một vấn đề về cơ bản thuộc về người Việt Nam.
“Hơn nữa, hành động như vậy sẽ đẩy các tướng lĩnh, những người ủng hộ dân sự của họ và các sĩ quan quân đội cấp dưới vào tình thế nguy hiểm, qua đó hy sinh một phần đáng kể lực lượng lãnh đạo dân sự và quân sự cần thiết để đưa cuộc chiến chống Việt Cộng đến thắng lợi. Sau những nỗ lực không cản trở cuộc đảo chính và sau sự thay đổi lập trường này, chúng ta sẽ tự khép lại mọi khả năng thay đổi chính quyền Việt Nam Cộng hòa theo hướng tốt hơn.”
Lodge cũng bảo vệ những người âm mưu đảo chính, cho rằng không thể đòi hỏi bằng chứng nào rõ ràng hơn việc họ sẵn sàng liều mạng và không tìm kiếm lợi ích cá nhân. Ông nói mình cảm nhận được sự chân thành và quyết tâm qua nét mặt của Tướng Đôn trong cuộc gặp buổi sáng. Ông đồng ý rằng một tính toán sai lầm có thể đe dọa vị thế của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, nhưng nhấn mạnh rằng việc không hành động cũng đem lại những rủi ro to lớn.
Không rõ Lodge thực sự tin rằng mình bất lực trong việc can thiệp hay chỉ sử dụng lập luận đó để tránh xem xét khả năng trì hoãn hoặc ngăn chặn một cuộc đảo chính mà ông cho là không đáng ủng hộ. Tuy nhiên, cách ông bảo vệ những người âm mưu và ủng hộ mục tiêu của họ trong cuộc trao đổi điện tín với Washington cho thấy rõ thiên hướng cảm tính của ông nghiêng về phía đảo chính. Ở một đoạn khác, Lodge phản đối việc chỉ định Harkins làm người đứng đầu phái bộ nếu đảo chính xảy ra trong thời gian ông vắng mặt.
Giọng điệu và nội dung những bức điện song song của Lodge và Harkins càng làm Nhà Trắng lo ngại, đồng thời khiến người ta đặt câu hỏi về tính khách quan của hai quan chức Mỹ chủ chốt đang theo dõi tình hình Việt Nam.
Để làm rõ bất đồng, xác định lại chính sách và phân định vai trò, trách nhiệm trong phái bộ, cuối ngày 30 tháng 10, Nhà Trắng gửi thêm một bức điện cho Sài Gòn.
Bức điện nhấn mạnh:
“Chúng tôi không chấp nhận quan điểm cho rằng Hoa Kỳ không có khả năng trì hoãn hoặc làm nản lòng một cuộc đảo chính. Trong đoạn 12, ông nói rằng nếu tin chắc cuộc đảo chính sẽ thất bại, ông đương nhiên sẽ làm mọi việc có thể để thuyết phục các thủ lĩnh đảo chính ngừng lại hoặc trì hoãn bất kỳ chiến dịch nào mà theo đánh giá tốt nhất của ông không có triển vọng thành công cao.
“Chúng tôi chưa bao giờ xem việc phản bội các tướng lĩnh bằng cách tiết lộ kế hoạch cho ông Diệm là một lựa chọn; điện 79109 của chúng tôi đã bác bỏ rõ ràng phương án đó. Chúng tôi hiểu nguy cơ bị xem là thù địch với các tướng lĩnh, nhưng tin rằng lập trường của chúng ta phải dựa trên cơ sở vững chắc nhất có thể. Vì vậy, chúng ta không thể giới hạn mình trong quan điểm rằng chỉ khi tin chắc cuộc đảo chính sẽ thất bại mới có lý do can thiệp.
“Nếu kết luận rằng cuộc đảo chính không có triển vọng thành công cao, ông cần truyền đạt sự nghi ngờ ấy cho các tướng lĩnh theo cách có thể thuyết phục họ từ bỏ kế hoạch, ít nhất cho đến khi cơ hội thành công tốt hơn. Trong cuộc trao đổi đó, ông nên sử dụng trọng lượng của những lời khuyên tốt nhất từ Hoa Kỳ và nói rõ rằng chúng ta không phản đối mục tiêu của các tướng lĩnh vì ưu tiên chế độ hiện tại.
“Chúng ta cần lưu ý cách các tướng lĩnh diễn giải vai trò của Hoa Kỳ trong cuộc đảo chính năm 1960. Người đại diện của ông phải duy trì sự phân biệt rõ ràng giữa lời khuyên mạnh mẽ, chân thành của một người bạn và sự phản đối mục tiêu của họ.”
Lodge cũng được yêu cầu khẩn trương thu thập thông tin chi tiết hơn về thành phần lực lượng mà các thủ lĩnh đảo chính dự kiến có thể huy động, nhằm đánh giá chính xác hơn triển vọng thành công.
Về khả năng Lodge vắng mặt, chỉ thị quy định rằng Truehart sẽ phụ trách, trừ khi đảo chính xảy ra; trong trường hợp đó, Harkins sẽ đứng đầu phái bộ. Tuy nhiên, Washington nhấn mạnh sự cần thiết phải có Lodge tại chỗ khi cuộc đảo chính diễn ra và khuyến khích ông hoãn chuyến đi nếu thấy cuộc đảo chính sắp xảy ra.
Washington cũng đưa ra bốn chỉ thị thường trực về lập trường của Hoa Kỳ nếu đảo chính nổ ra:
a. Các cơ quan Hoa Kỳ sẽ từ chối những yêu cầu can thiệp trực tiếp từ cả hai phía. Máy bay và các nguồn lực do Hoa Kỳ kiểm soát sẽ không được sử dụng giữa các chiến tuyến hoặc để hỗ trợ bất kỳ bên nào nếu chưa được Washington cho phép.
b. Nếu cuộc giao tranh chưa ngã ngũ, các cơ quan Hoa Kỳ có thể tùy nghi đồng ý thực hiện những việc mà cả hai bên cùng chấp thuận, chẳng hạn đưa các nhân vật chủ chốt ra khỏi khu vực hoặc chuyển tiếp thông tin. Tuy nhiên, trong mọi hành động như vậy, các cơ quan Mỹ phải hết sức tránh tạo ấn tượng rằng họ gây sức ép lên bất kỳ bên nào. Chính phủ Hoa Kỳ không muốn trở thành, hoặc bị xem là, công cụ của chính quyền hiện tại hay của phe đảo chính.
c. Nếu cuộc đảo chính sắp thất bại hoặc đã thất bại, các cơ quan Hoa Kỳ có thể tùy nghi cấp quy chế tị nạn cho những người mà Hoa Kỳ có nghĩa vụ rõ ràng hoặc ngầm định phải bảo vệ. Tuy nhiên, chúng ta cho rằng trong trường hợp ấy, việc những người xin tị nạn tìm kiếm sự bảo vệ tại các đại sứ quán khác ngoài đại sứ quán Mỹ có thể có lợi cho cả họ lẫn Hoa Kỳ. Nếu cần, điểm này phải được nhấn mạnh rõ ràng.
d. Tuy nhiên, một khi cuộc đảo chính do những người lãnh đạo có trách nhiệm phát động và vẫn nằm trong các giới hạn nêu trên, thì việc cuộc đảo chính thành công là phù hợp với lợi ích của Chính phủ Hoa Kỳ.
Dù có chỉ thị d, không có hành động cụ thể nào nhằm hỗ trợ hoặc bảo đảm thành công cho cuộc đảo chính được cho phép. Đây là chỉ thị cuối cùng mà Lodge nhận được từ Washington trước khi cuộc đảo chính bắt đầu.
(còn nữa)
Không có nhận xét nào