Header Ads

  • Breaking News

    Chuyện đánh giá tác động nhân quyền của doanh nghiệp: từ cương lĩnh tới đời thực còn rất xa

    Đan Thanh /Tạp chí Luật Khoa

    18/7/2025


    Chuyện đánh giá tác động nhân quyền của doanh nghiệp: từ cương lĩnh tới đời thực còn rất xa. Ảnh: JethuynhCan. Nguồn ảnh: The Guardian.

    Ảnh: JethuynhCan. Nguồn ảnh: The Guardian.

    Lời nói đầu, tôi kính cảm ơn Tổng biên tập Trịnh Hữu Long với bài viết “Nhân quyền và lợi ích doanh nghiệp” đã cho tôi một góc nhìn về một vấn đề mà tôi hằng bận tâm đã lâu. Tại đây, tôi cũng có vài băn khoăn muốn mở rộng như sau.

    Nhằm giúp độc giả dễ tiếp cận, tôi xin phép chia bài viết của tác giả Trịnh Hữu Long ra một vài luận điểm để tiện trao đổi. 

    Luận điểm 1: Khái niệm “nhân quyền” vẫn còn mới mẻ, huống hồ là chuyện đánh giá tác động nhân quyền của doanh nghiệp ở Việt Nam

    Tôi vô cùng đồng ý với tác giả dưới góc nhìn là người sống ở Việt Nam đã lâu. Mặc dù trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) cùng với các văn kiện Đại hội 11, 12 và 13, đảng cộng sản luôn khẳng định tầm quan trọng của việc bảo đảm hạnh phúc, phát triển tự do và toàn diện cho con người. Đồng thời, đảng còn nhấn mạnh yêu cầu tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, cũng như nghiêm túc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. 

    Tuy nhiên, từ cương lĩnh bước ra đời thực vẫn còn rất xa. Xét riêng trong hoạt động doanh nghiệp, “tác động nhân quyền của doanh nghiệp” (business-related human rights impacts) đề cập đến ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực mà một doanh nghiệp có thể gây ra đối với quyền con người của các cá nhân hoặc cộng đồng liên đới bởi hoạt động của doanh nghiệp đó. Theo đó, một doanh nghiệp có thể trực tiếp gây ra, hoặc liên đới phần nào với các hành vi vi phạm quyền con người, ví dụ: lao động cưỡng bức, bóc lột, trả lương thấp, phân biệt đối xử trong tuyển dụng và nơi làm việc, xâm phạm quyền riêng tư của người dùng (đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ), v.v. Và đó chính xác là những hiện tượng thường xuyên được thấy ở Việt Nam, đặc biệt với tầng lớp dân lao động thấp cổ bé họng. 

    Đơn cử một hiện tượng như sau: tại Việt Nam, anh Thành, 31 tuổi, nạn nhân, là một cộng tác viên giao hàng theo hệ thống xếp hạng ưu tiên của công ty, mất hơn 10 tiếng đòi số tiền nợ 375.000 đồng từ khách, sau tất cả, không những không đòi lại được tiền mà còn phải nhận đánh giá một sao, dẫn tới sẽ bị công ty phạt 500.000 đồng. Nếu thu được anh chỉ nhận có 4.000 tiền công. Nhưng tệ hơn, từ mâu thuẫn rất nhỏ này, anh bị mất mạng, bỏ lại sau lưng cả một gia đình.

    Những câu chuyện như thế cứ xảy ra hằng hà sa số trên mảnh đất Việt Nam. Bất cứ những đánh giá một sao nào cũng sẽ đánh thẳng vào thu nhập của tài xế công nghệ (chứ không hề trừ vào tiền thưởng). Nhấn mạnh rõ ở đây là thu nhập chứ không phải lương cứng. Vì sao? Những tài xế công nghệ không được bảo vệ bởi Bộ luật Lao động 2019 vì mối quan hệ giữa họ và doanh nghiệp chỉ được coi là đối tác kinh doanh chứ không phải người lao động. Tuy nhiên, trong thế cờ đó, doanh nghiệp đẩy những “đối tác kinh doanh” vào một luật chơi chỉ có lợi cho phía doanh nghiệp mà thôi – một hợp tác bất bình đẳng.

    Trong khi đó, cũng là câu chuyện mối quan hệ lao động giữa tài xế và hãng xe công nghệ, tại Anh quốc, Tòa Tối cao Vương quốc Anh đã có phán quyết những tài xế khởi kiện Uber (không phải tất cả tài xế) dứt khoát là những người lao động, từ chính hệ thống đánh giá sao của Uber áp dụng lên những tài xế này. Một diễn biến khác xảy ra tại Pháp, Tòa Tối cao tại Paris công nhận 28.000 tài xế Uber đang trong “mối quan hệ lao động (2020). 

    Một ví dụ nhỏ và dễ hiểu cho thấy tại Việt Nam, nếu nhân quyền và lợi ích doanh nghiệp đứng chung một ván cờ thì dường như phần thắng đã nằm hẳn về một bên. Điều này phản ánh một thực trạng rằng quyền con người, dù được thừa nhận về mặt nguyên tắc, vẫn chưa có đủ cơ chế bảo vệ thực chất để tạo ra đối trọng hiệu quả với các ưu tiên kinh tế.

    Điều tôi thực sự bận lòng: tại sao cùng một câu chuyện tài xế – hãng xe công nghệ thì trong sân chơi toàn cầu, quyền của người lao động Việt Nam vẫn thua thiệt rất nhiều. Họ làm việc nhiều giờ, thu nhập thấp, ít tiếng nói và gần như không có sự bảo vệ độc lập nào ngoài chính hệ thống họ phải phụ thuộc? Nếu ví quyền lao động quốc tế là một mặt bằng phẳng, thì người lao động Việt Nam vẫn đang bước đi trên địa hình gập ghềnh, chưa bao giờ được bước lên “sân khấu chính” của cuộc đối thoại về quyền con người.

    Luận điểm 2: Trên thế giới, đánh giá tác động nhân quyền là một thông lệ phổ biến

    Với luận điểm này, tôi xin phép không dám đưa ra bất cứ quan sát cá nhân nào, vì so với tác giả, tôi chỉ đáng tuổi con cháu, chưa có cơ hội lẫn trải nghiệm bước ra thế giới nhiều để đúc kết toàn bộ. Rất đáng mừng nếu tồn tại việc đánh giá tác động nhân quyền như một thủ tục quen thuộc trong hoạt động lập pháp, triển khai dự án, và hoạt động doanh nghiệp như tác giả đề cập, gồm các bên tham gia đánh giá: bản thân doanh nghiệp, đối tác, và các tổ chức độc lập.

    Sự hiện diện của cơ chế này thể hiện một bước tiến trong tư duy quản trị hiện đại, nơi các quyết định kinh tế và chính sách công không thể tách rời khỏi trách nhiệm nhân quyền. Việc có nhiều bên cùng tham gia đánh giá, từ bản thân doanh nghiệp, các đối tác cho đến các tổ chức độc lập, không chỉ giúp bảo đảm tính minh bạch và đa chiều của quá trình đánh giá, mà còn góp phần kiểm soát quyền lực doanh nghiệp – điều đặc biệt quan trọng trong bối cảnh kinh tế tư nhân ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội.

    Tuy nhiên, tôi cũng có một chút băn khoăn rằng: để việc đánh giá tác động nhân quyền thực sự có ý nghĩa và tránh sáo rỗng về mặt hình thức, thì cần có các tiêu chuẩn rõ ràng, cơ chế giám sát độc lập và điều kiện để các tổ chức xã hội dân sự có thể tham gia một cách bình đẳng và không bị cản trở. Đặc biệt, trong bối cảnh ở Việt Nam, nơi mà các tiếng nói phê bình còn bị đàn áp và vai trò của xã hội dân sự còn bị hạn chế thì đúng như lời tác giả nhận định: “chuyện này ở ta thì còn lâu mới có”. Việc áp dụng và nội địa hóa các chuẩn mực quốc tế về đánh giá nhân quyền đòi hỏi quyết tâm chính trị và quan trọng hơn hết chính là sự chuyển biến trong nhận thức về vai trò của nhân quyền.

    Luận điểm 3: Vì sao doanh nghiệp không có động lực để coi trọng nhân quyền, nhất là trong bối cảnh như Việt Nam?

    Muốn tạo nên chuyển biến trong nhận thức về vai trò của nhân quyền đối với quần chúng lẫn doanh nghiệp Việt Nam là vấn đề rất khó, thậm chí mối quan hệ nhạy cảm với các chính quyền độc tài khiến cho các công ty công nghệ toàn cầu như Facebook và Google gần như không thể tiếp xúc với các tổ chức xã hội dân sự. Các công ty công nghệ lớn như Facebook (nay là Meta), Google thường muốn duy trì sự hiện diện tại các thị trường lớn, trong đó có nhiều quốc gia có chế độ chính trị độc tài nơi mà nhà cầm quyền luôn kiểm soát gắt gao tự do ngôn luận, Internet, và các tổ chức xã hội dân sự; cũng như thường xuyên yêu cầu các nền tảng công nghệ gỡ bỏ nội dung “nhạy cảm”, chia sẻ dữ liệu người dùng, hoặc hạn chế truy cập một số nội dung. Các công ty công nghệ chọn cách giữ khoảng cách với xã hội dân sự, dù điều này vốn vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc về quyền tự do biểu đạt và quyền riêng tư.

    Từ quan sát của tôi ở Việt Nam, đúng rằng đang tồn tại sự thỏa hiệp của các công ty công nghệ với chính quyền độc tài và việc giới hạn nhận thức của người dân Việt Nam về nhân quyền. 

    Việc các công ty công nghệ lớn lựa chọn giữ khoảng cách với các tổ chức xã hội dân sự – những chủ thể có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền con người – càng khiến cho môi trường thông tin ở Việt Nam trở nên phiến diện, thiếu đối thoại và kém đa chiều. Người dân, thay vì được tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền và được khuyến khích đặt câu hỏi về quyền của chính mình, lại bị giới hạn trong một không gian mạng bị kiểm soát và đánh lạc hướng sự chú ý sang những tin tức giải trí tầm phào. Điều này dẫn đến một vòng luẩn quẩn: khi nhận thức về nhân quyền chưa được hình thành một cách căn bản trong xã hội, thì các vi phạm nhân quyền lại càng dễ bị bỏ qua, còn các nỗ lực cải cách trở nên thiếu lực đẩy từ phía công chúng.

    Thế hệ sinh sau năm 2000 như tôi cảm nhận rất rõ ràng sự kiểm duyệt chặt chẽ diễn ra ghê gớm đến mức nào và các thông tin giải trí tầm phào đã bóp chết một thế hệ ra sao. Theo đúc kết từ Neil Postman trong cuốn sách Giải trí cho đến chết của ông, thì khi người dân bị cuốn vào những câu chuyện tầm thường, khi đời sống văn hóa bị giản lược thành chuỗi giải trí vô tận không lối ra, và khi các cuộc thảo luận nghiêm túc bị xem là ngây ngô, thì xã hội bắt đầu trượt dốc. Một khi công chúng chỉ còn là khán giả thụ động, còn hoạt động cộng đồng bị biến thành những màn trình diễn mua vui, quốc gia đó đang đối diện với hiểm họa – nơi mà nền văn hóa chỉ có thể thoi thóp bên bờ sụp đổ.

    Nói cách khác, sự thỏa hiệp giữa các công ty công nghệ và chính quyền trong môi trường kiểm duyệt không chỉ là vấn đề đạo đức kinh doanh mà còn góp phần tạo ra một rào chắn vô hình ngăn cản người dân tiếp cận với nhận thức đúng đắn và đầy đủ về quyền con người – điều kiện tiên quyết để thúc đẩy một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. 

    Cuối cùng, luận điểm mà tác giả đề cập cũng là điều tôi hằng bận lòng đã lâu: nhân quyền thường bị xem là vấn đề thứ yếu trong kinh doanh. Dù các quốc gia, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp có tuyên bố đề cao quyền con người, nhưng trong thực tiễn, đặc biệt trong những tình huống xung đột giữa quyền con người và lợi ích kinh tế – nhất là lợi ích của các tập đoàn lớn hay chính phủ – thì nhân quyền thường bị gạt sang một bên. Một sự thật phổ quát rằng: lợi nhuận, quyền lực, và sự phát triển kinh tế vẫn là động lực chính của các quyết sách. Chính điều đó đặt ra sự hoài nghi trong lòng tôi về hiệu quả thực tế của các cơ chế đánh giá nhân quyền, nó có thực sự đảm bảo rằng doanh nghiệp sẽ thay đổi hành vi, nhất là những công ty khổng lồ như Facebook (Meta), vốn có ảnh hưởng kinh tế và chính trị rất lớn?

    Tôi luôn băn khoăn rằng: nhân quyền có thực sự có “chỗ đứng” trong doanh nghiệp nếu nó trở thành một phần của lợi ích kinh tế, thương hiệu, hoặc chiến lược tăng trưởng? Hay nói cách khác, nhân quyền sẽ luôn bị đặt sau lợi ích kinh tế trừ khi bản thân nhân quyền được định nghĩa lại như một phần của lợi ích đó.

    Từ những suy ngẫm trên, tôi ngày càng tin rằng: nếu không thay đổi cách nhìn nhận, nhân quyền sẽ mãi chỉ là một khẩu hiệu đạo đức, chứ không thể trở thành lực đẩy thực chất cho sự phát triển bền vững. Tại Việt Nam, việc thúc đẩy nhân quyền trong lĩnh vực kinh doanh vẫn còn là con đường dài với nhiều trở ngại, nhưng không phải là không thể. Điều tối quan trọng không chỉ là cải cách thể chế hay cam kết chính trị, mà chính nằm ở cuộc chuyển hóa nhận thức sâu sắc trong cộng đồng.

    Tôi không phủ nhận thực tế rằng lợi ích kinh tế luôn là ưu tiên hàng đầu đối với các doanh nghiệp. Nhưng cũng chính vì thế, cách tiếp cận “gắn nhân quyền với lợi ích” mà tác giả Trịnh Hữu Long đề cập, lại là một hướng đi vô cùng thực tế và đáng suy ngẫm. Chừng nào doanh nghiệp còn thấy việc tôn trọng nhân quyền là gánh nặng, thì chừng đó nó vẫn chỉ là vấn đề đạo đức; nhưng một khi họ hiểu rằng việc bảo vệ nhân quyền cũng là cách để bảo vệ chính mình – thương hiệu, nhân sự, sự bền vững – thì chừng đó nhân quyền mới có chỗ đứng thật sự.

    Tôi băn khoăn về ngày mà Việt Nam hoàn toàn có thể tiến tới một mô hình phát triển trong đó lợi ích kinh tế và quyền con người không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau như hai mặt của một xã hội văn minh.

    https://luatkhoa.com/2025/07/chuyen-danh-gia-tac-dong-nhan-quyen-cua-doanh-nghiep-tu-cuong-linh-toi-doi-thuc-con-rat-xa/


    Không có nhận xét nào