Header Ads

  • Breaking News

    Cấu trúc làng xóm và sự tan rã của cộng đồng

    Long Nhat / Nghiên Cứu Lịch Sử 

    30/12/2025

    Mỹ có từng có cộng đồng làng xóm không?

    “...Vậy tại sao việc "chụp mũ 3/" vẫn tồn tại mạnh? Nó phục vụ ba nhu cầu tâm lý và chính trị. Thứ nhất, giải tỏa tâm lý: thay vì đối diện vấn đề thật như tham nhũng hay bất công, gán cho "kẻ ngoài cuộc" thì đỡ đau đầu. Thứ hai, tạo ranh giới đạo đức: ta là yêu nước, nó là phản bội - giúp người dùng cảm thấy mình đứng phe đúng dù không cần hiểu sâu. Thứ ba, che đi sự thật khó chịu: có rất nhiều người yêu nước nhưng bất mãn, có rất nhiều phê phán xuất phát từ trải nghiệm sống thật. Chụp mũ giúp khỏi phải thừa nhận điều đó”.

    Ở Mỹ có từng tồn tại cộng đồng làng xóm gắn bó, nhưng không giống kiểu Việt Nam, và khi xã hội hiện đại hóa thì mức độ gắn bó đó suy giảm rất mạnh.

    Nhiều người hay nghĩ Mỹ sinh ra đã cá nhân chủ nghĩa. Điều này không đúng. Các cộng đồng Puritan ở New England từ thế kỷ 17-18 có cấu trúc xã hội rất chặt. Nhà thờ là trung tâm đời sống. "Town meeting" quyết định mọi việc chung từ thuế đến luật lệ. Ai không đi nhà thờ Chủ nhật bị phạt. Ai ngoại tình có thể bị buộc đứng trên bục với biển "A" (Adultery) cả ngày. Cộng đồng giám sát chặt chẽ đạo đức cá nhân.

    Thị trấn nông nghiệp Trung Tây thế kỷ 19 xây dựng trên hợp tác lao động. "Barn raising" - cả làng góp sức dựng nhà kho cho gia đình mới. Vụ mùa của hàng xóm là việc chung. Nếu nhà ai cháy, làng quyên góp. Nhưng đổi lại, ai không chịu góp sức cho cộng đồng sẽ bị tẩy chay. Cộng đồng biên giới sống theo luật tự vệ. Không có cảnh sát, chỉ có "vigilante committee" - dân làng tự xử. Kẻ trộm ngựa bị treo cổ không cần tòa án. Người ngoài đến làng phải được "chấp nhận" mới ở lại được.

    Về mặt chức năng, làng Mỹ thời đó giống làng Việt: ai làm gì sai là cả cộng đồng biết, sống lệ thuộc nhau để tồn tại, áp lực xã hội rất nặng. Nhưng ở tầng sâu hơn, hai loại cộng đồng này khác nhau từ gốc.

    Làng Việt gắn bằng huyết thống - đa số cùng họ hoặc có quan hệ thông gia. Đất đai thuộc làng, chia theo khẩu, không được tự do mua bán. Mồ mả tổ tiên nằm trong làng, rời làng là "bỏ tổ". Làng tồn tại vài trăm đến vài nghìn năm, nhiều thế hệ chung sống. Quan hệ tình – nghĩa – nể nang – mặt mũi rất phức tạp. Rời làng là mất gốc xã hội, khó hòa nhập nơi khác.

    Làng Mỹ da trắng truyền thống gắn bằng niềm tin tôn giáo (cùng giáo phái) và lợi ích chung (cùng canh tác, cùng phòng thủ). Đất là tài sản tư nhân từ đầu - mua được, bán được, thế chấp được. Không có khái niệm "tổ tiên làng", mộ gia đình riêng lẻ. Chuyển chỗ ở là việc bình thường, người Mỹ di cư liên tục theo cơ hội. Quan hệ dựa trên "covenant" (giao ước) - rõ ràng, văn bản, có thể hủy. Rời làng để tìm đất mới là chuyện thường, không bị coi là "phản bội". Vì vậy độ bền cộng đồng Mỹ thấp hơn nhiều, quan hệ sòng phẳng, ít dây ràng buộc vô hình, dễ tan rã khi điều kiện kinh tế thay đổi.

    Từ sau Thế chiến II, một loạt yếu tố phá vỡ cộng đồng truyền thống Mỹ. Ô tô cá nhân phổ biến từ những năm 1950 thay đổi hoàn toàn cách sống. Trước đây phải sống gần nhau để đi bộ đến nhà thờ, trường học, chợ. Có xe thì sống xa 20-30km vẫn được, không cần hàng xóm gần nữa. Mô hình ngoại ô với nhà riêng biệt, sân rộng, hàng rào cao xuất hiện. Không còn "town square" - không gian chung để gặp nhau. Mọi người đi làm xa, về nhà đóng cửa. Siêu thị thay chợ làng, không còn gặp mặt hàng ngày.

    Truyền hình từ thập niên 1960-70 đưa giải trí vào nhà, không cần đến hội, đoàn, câu lạc bộ. Người Mỹ trung bình đổi nơi ở 11-12 lần trong đời, ở mỗi nơi 5-7 năm rồi chuyển đi, không kịp gắn bó sâu với cộng đồng. Nhà nước phúc lợi và thị trường thay thế vai trò làng - trước kia ốm đau, mất việc phải nhờ làng, giờ có bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp, an sinh xã hội, không còn lệ thuộc hàng xóm để sống sót. Tôn giáo cũng cá nhân hóa theo kiểu "I'm spiritual but not religious", không cần đến nhà thờ mỗi tuần, không còn áp lực cộng đồng tôn giáo.

    Cuốn "Bowling Alone" (2000) của Robert Putnam ghi lại: từ 1950-2000, tỷ lệ người Mỹ tham gia hội đoàn, câu lạc bộ, đoàn thể giảm mạnh. Người ta vẫn đi bowling, nhưng đi một mình, không còn giải đấu đồng đội hay hội bowling nữa. Đây là biểu tượng của sự tan rã "social capital" (vốn xã hội).

    Vậy tại sao Việt Nam còn giữ được cộng đồng làng xóm lâu hơn? Không phải vì đạo đức tốt hơn, mà vì kinh tế chậm hơn nên ít di chuyển, ruộng đất gắn chặt, gia đình nhiều thế hệ, và nhà nước chưa thay thế hoàn toàn vai trò cộng đồng. Nhưng thực tế làng Việt cũng đang tan rất nhanh. Chung cư và khu đô thị mới khiến "nhà sát vách mà không biết tên nhau".

    Năm mô hình làng xóm khác nhau

    Nếu đặt làng Việt, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ cạnh nhau, sẽ thấy rõ mỗi xã hội có một cách tổ chức cộng đồng hoàn toàn khác biệt.

    Làng Việt Nam là cộng đồng cảm tính. Gắn bằng huyết thống, đất đai và mồ mả tổ tiên. Làng tồn tại hàng trăm–nghìn năm với đình làng, hương ước và lệ làng. Quan hệ tình – nghĩa – nể – sợ điều tiếng. Gắn kết cực bền, cứu trợ tự nhiên khi khó khăn, người yếu thế không dễ bị bỏ rơi. Nhưng đóng, cục bộ, phe cánh, đè nặng cá nhân khác biệt và khó cải cách.

    Làng Trung Quốc khác ở chỗ tông tộc là trung tâm. Làng xoay quanh dòng họ lớn. Từ đường quan trọng hơn đình làng. Luật làng gắn chặt với gia phả. Quan hệ theo thứ bậc huyết thống. Nội bộ họ rất chặt, ngoại tộc rất lạnh. Làng dễ phân mảnh thành các họ. Đây là cộng đồng quyền lực dòng họ, không phải cộng đồng làng thuần túy.

    Làng Hàn Quốc chịu Nho giáo cực mạnh với tôn ti và thứ bậc nghiêm ngặt. Làng gắn chặt với nhà nước trung ương. Gia đình phụ quyền rất mạnh. Khác Trung Quốc ở chỗ dòng họ không phân quyền và nhà nước can thiệp sâu. Đây là cộng đồng kỷ luật và thứ bậc.

    Làng Nhật Bản đặc biệt ở chỗ không quá nặng huyết thống. Gắn bằng nghĩa vụ và vai trò. Mỗi người có phần việc trong làng. Áp lực tuân thủ cực lớn. Không đổ rác đúng giờ hay không tham gia lễ có thể bị cả khu cô lập. Làng Nhật là cộng đồng kỷ luật xã hội, không phải tình cảm.

    Làng Mỹ da trắng truyền thống như đã nói, gắn bằng tôn giáo và lợi ích chung. Đất đai là tài sản cá nhân. Di cư là bình thường. Quan hệ sòng phẳng – rõ ràng. Dễ hòa nhập người mới, ít phe cánh truyền đời. Nhưng độ bền thấp, tan nhanh khi không còn lợi ích chung. Đây là cộng đồng hợp đồng tự nguyện.

    Tóm lại: Việt Nam gắn bằng tình cảm, đất và tổ tiên - độ bền rất cao nhưng tính mở thấp. Trung Quốc gắn bằng dòng họ - cao trong họ, rất thấp ngoài họ. Hàn Quốc gắn bằng tôn ti và nhà nước - độ bền trung cao, tính mở thấp. Nhật Bản gắn bằng nghĩa vụ và kỷ luật - độ bền cao, tính mở rất thấp. Mỹ gắn bằng hợp đồng và niềm tin - độ bền thấp đến trung bình, nhưng tính mở cao.

    Khi Đông Á mất nền tảng: cộng đồng ở hải ngoại

    Khi ra nước ngoài, cộng đồng Đông Á gặp vấn đề chung: cấu trúc làng không được thiết kế để "xuất khẩu". Làng Đông Á cần cùng gốc, cùng lịch sử và cùng áp lực xã hội dài hạn. Ra nước ngoài thì mất hết nền móng. Không có đất, tổ và lịch sử chung thì cộng đồng rỗng.

    Nho giáo tạo người giỏi tự thích nghi, nhẫn và leo thang cá nhân. Nhưng rất yếu trong việc tin người ngang hàng, lập hội không thứ bậc và đấu tranh lợi ích chung. Dễ làm nhân viên xuất sắc, khó làm cộng đồng trưởng thành. Tâm lý "tránh rắc rối" giết cộng đồng: ngại va chạm, ngại đứng ra đại diện, sợ mất hòa khí, sợ bị nói "làm lớn chuyện". Cộng đồng có vấn đề thì ai cũng im, không giải quyết thì tan. Ở hải ngoại, khi khá lên thì chuyển khu khác, con cái hòa nhập xã hội bản địa, cộng đồng cũ chỉ còn người yếu thế. Không có lớp trụ cột lâu dài.

    Nhưng không phải mọi cộng đồng Đông Á đều yếu như nhau. Người Hoa hải ngoại xây được "đế chế kinh tế phi quốc gia". Bang hội, hội quán, tông thân và thương hội kết nối xuyên quốc gia từ thế kỷ 18-19. Kinh tế đi trước chính trị. Tin nhau trong làm ăn dù không thân. Lợi ích chung rõ nên cộng đồng bền. Có tầng lớp "đại ca kinh tế" dẫn dắt. Có tinh hoa, nhưng tinh hoa không nói đạo lý, chỉ nói lợi ích. Độ bền rất cao.

    Người Hàn hải ngoại xây cộng đồng trên doanh nghiệp và nhà thờ. Trụ cột là nhà thờ Tin Lành, doanh nghiệp gia đình và nhà nước Hàn Quốc hỗ trợ mạnh. Kỷ luật cao, phân tầng rõ, đào tạo lớp kế cận. Có tinh hoa trung lưu–thượng lưu mang tính tổ chức. Độ bền cao.

    Người Nhật hải ngoại chọn hòa nhập hoàn toàn. Không cố giữ cộng đồng lớn. Cá nhân hòa nhập sâu vào xã hội bản địa. Doanh nghiệp Nhật là trục chính, không phải hội đồng hương. Ít khu Nhật, ít tranh chấp nội bộ. Nhật không cần tinh hoa hải ngoại vì họ dựa vào quốc gia trong nước. Độ bền trung bình.

    Người Việt hải ngoại nằm ở vị trí yếu nhất. Cộng đồng hình thành muộn do biến động chính trị. Nặng ký ức – lập trường – quá khứ. Hội đoàn nhiều nhưng yếu. Giỏi cá nhân, yếu tổ chức ngang. Tranh chấp biểu tượng (cờ, danh xưng) hơn lợi ích thực. Không có tầng lớp dẫn dắt bền. Độ bền thấp.

    So với Do Thái có tôn giáo, luật riêng và mạng lưới toàn cầu, hoặc Ấn Độ có đẳng cấp, nghề nghiệp và doanh nghiệp gia đình, thì Đông Á (trừ Hoa truyền thống) thiếu cấu trúc cộng đồng xuyên biên giới. Đông Á đào tạo cá nhân tốt, không đào tạo cộng đồng di động. Làng mạnh thì cá nhân bị ép. Ra ngoài thì cá nhân bật lên, cộng đồng rơi rụng.

    Tại sao người Việt không tạo được tinh hoa dẫn dắt?

    Xuất phát điểm của cộng đồng Việt hải ngoại là "cộng đồng chấn thương". Ra đi vì chiến tranh và biến động. Mất mát, đứt gãy, cay đắng. Không có thời gian xây nền kinh tế – thể chế. Cộng đồng hình thành từ nỗi đau, không từ dự án chung. Điều này tạo ra một động lực ban đầu mạnh nhưng không bền vững về lâu dài.

    Người Việt giỏi ở hải ngoại là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, doanh nhân vừa. Nhưng khi đủ mạnh thì rút khỏi sinh hoạt cộng đồng, con cái hòa nhập xã hội bản địa, không quay lại dẫn dắt. Tinh hoa biến mất khỏi cộng đồng. Không phải vì họ phản bội hay vô tình, mà vì cộng đồng không tạo ra không gian để tinh hoa tồn tại, không có lý do để tinh hoa ở lại, không có cấu trúc để tinh hoa dẫn dắt.

    Hội đoàn Việt dựa trên cá nhân. Không kế nhiệm rõ ràng. Không minh bạch tài chính. Dễ tan khi người sáng lập rút. So với bang hội Hoa có luật, quỹ, tài sản và nhà thờ Hàn có hệ thống đào tạo, người Việt không xây được cái vượt cá nhân. Văn hóa "bình quân cảm xúc" làm nặng thêm vấn đề: ai nổi bị nghi ngờ, ai dẫn dắt bị soi động cơ, "nó hơn mình à?". Người có năng lực không muốn đứng ra. Người thích đứng ra thường không đủ năng lực.

    Chính trị biểu tượng kéo dài hàng chục năm, chia rẽ thế hệ, không tạo giá trị mới. Tinh hoa không muốn đốt đời vào chuyện không sinh lợi. Người Việt không thiếu người giỏi. Muốn thay đổi phải bỏ "tình đồng hương" mơ hồ, xây cộng đồng trên kinh tế – giáo dục – lợi ích dài hạn, chấp nhận phân tầng thay vì đòi "ai cũng ngang nhau".

    Thế hệ 2-3: biến hình hay tan rã?

    Cộng đồng Việt thế hệ 2–3 không "tan hẳn", mà sẽ biến hình rất mạnh – và phần lớn những gì thế hệ 1 gọi là "cộng đồng Việt" sẽ biến mất. Nếu cứ giữ mô hình cũ, nó chết chắc. Nếu chấp nhận đổi cấu trúc, nó sống nhưng mang hình dạng khác hẳn.

    "Cộng đồng đồng hương – ký ức" sinh hoạt quanh quá khứ chiến tranh, biểu tượng chính trị thế hệ 1, hội ái hữu theo tỉnh và làng sẽ tan. Thế hệ 2–3 không có ký ức đó nên không gánh. "Giữ tiếng Việt bằng cảm xúc" kiểu dạy "vì con là người Việt" mà không gắn với lợi ích nghề nghiệp hay xã hội sẽ thất bại. Sang thế hệ 3, tỷ lệ nói được tiếng Việt rơi rất mạnh. Ngôn ngữ mất thì cộng đồng kiểu cũ sụp. Hội đoàn dựa vào cá nhân lớn tuổi, chủ tịch là người sáng lập, không chuyển giao quyền lực, không có tài sản chung - khi thế hệ 1 rút, tổ chức chết theo.

    Nhưng một số thứ sẽ biến hình để tồn tại. Bản sắc Việt sẽ tinh gọn và chọn lọc. Không còn "phải giữ hết" mà là ẩm thực, một phần ngôn ngữ và một vài giá trị gia đình. Việt tính trở thành "một lớp trong căn cước", không phải căn cước chính. Cộng đồng sẽ chuyển sang theo lợi ích và nghề nghiệp. Thế hệ 2–3 kết nối qua tech, y khoa, kinh doanh và nghệ thuật. Vietnamese Professionals Network, founder và VC gốc Việt, hội sinh viên gốc Việt elite. Cộng đồng nhỏ nhưng chất, không đại trà. Vai trò "cầu nối" thay vì "đồng hương" - người Việt thế hệ sau là cầu nối Việt Nam với thị trường quốc tế, Đông Á với phương Tây. Không cần cộng đồng đông, chỉ cần mạng lưới đúng người.

    So với Do Thái giữ rất tốt nhờ tôn giáo và thể chế, Hoa giữ khá nhờ kinh tế và bang hội, Hàn giữ trung bình nhờ nhà thờ và nhà nước, thì Việt giữ thấp và đang chuyển dạng. Câu hỏi không phải "Con cháu có còn là người Việt không?" mà là "Cộng đồng Việt có tạo ra giá trị gì cho đời sống của chúng không?" Nếu chỉ nói đạo lý, chỉ nói quá khứ, chỉ kêu gọi hy sinh thì thế hệ 2–3 bỏ đi. Nếu giúp sự nghiệp, tạo network thật, tạo cơ hội học tập – đầu tư thì chúng ở lại, dù không gọi đó là cộng đồng Việt.

    Cộng đồng Việt sẽ nhỏ lại, ít treo cờ, ít khẩu hiệu. Nhưng nếu chuyển đổi đúng hướng thì ảnh hưởng có thể lớn hơn trước. Tinh hoa sẽ xuất hiện theo mạng lưới nghề nghiệp và lợi ích, không theo mô hình hội đồng hương truyền thống.

    Bóng ma chính trị

    Trên mạng xã hội Việt Nam có kiểu những ai nói gì bất lợi cho đảng thì người ủng hộ đảng hay đối lập với họ thường gọi là "3/" – ám chỉ cách gọi lóng người VNCH xưa thua trong chiến tranh và qua Mỹ. Việc đó có hai dạng: một là cố tình chụp mũ để công kích như một chiêu trò trong tranh luận, hai là có một số người tưởng như vậy thật. Nhưng thực tế là hầu hết người bị gọi "3/" trên mạng không phải người VNCH hay con cháu họ.

    Người VNCH thế hệ trực tiếp nay đa số 70–90 tuổi, quan tâm sức khỏe, gia đình và sinh hoạt cộng đồng địa phương, không ngồi cãi nhau với thanh niên trong nước trên Facebook hay TikTok. Con cháu họ thế hệ 2–3 phần lớn không rành tiếng Việt, không theo dõi chính trị Việt Nam, không gắn cảm xúc với "thắng–thua 1975". Với họ, Việt Nam giàu hay nghèo không ảnh hưởng trực tiếp. Không có động lực "đấu tranh" kiểu trên mạng VN.

    Người tranh luận trên mạng dùng tiếng Việt rất trôi chảy, biết chi tiết đời sống trong nước, bức xúc chuyện lương, giá nhà, giáo dục và y tế. Đó là người đang sống trong nước, không phải hải ngoại xa rời thực tế. Vậy "3/" thực chất là gì? Một nhãn chính trị dùng để triệt tiêu tranh luận.

    Có hai nhóm sử dụng nhãn này. Nhóm cố tình chụp mũ - họ biết rõ người đối diện là người trong nước, không liên quan VNCH, nhưng vẫn gán nhãn vì không cần phản biện nội dung, chuyển tranh luận từ đúng–sai sang ta–địch. Kỹ thuật cổ điển: "Nếu mày là kẻ thù, thì mày sai mặc định." Nhóm thực sự tin như vậy thường là người trẻ, ít tiếp xúc người Việt hải ngoại thật, nhận thông tin qua meme và clip ngắn. Trong đầu họ: ai nói xấu chế độ là "3/", "3/" sống ở Mỹ, cay cú và phá hoại. Đây là sản phẩm của tuyên truyền giản lược.

    Điểm mấu chốt là người "mất gốc" không còn động cơ chính trị với Việt Nam. Không gắn ngôn ngữ thì mất kênh cảm xúc. Không gắn lịch sử thì mất ký ức chung. Không sống trong hệ thống thì không chịu hậu quả. Kết quả: Việt Nam nghèo họ nghĩ "ok, not my problem", Việt Nam giàu họ nghĩ "good for them". Không có động cơ để bất mãn hay đấu tranh. Nghịch lý: người tranh luận gay gắt nhất về Việt Nam lại chính là người đang sống trong Việt Nam, không phải người Việt hải ngoại như nhiều người tưởng.

    Vậy tại sao việc "chụp mũ 3/" vẫn tồn tại mạnh? Nó phục vụ ba nhu cầu tâm lý và chính trị. Thứ nhất, giải tỏa tâm lý: thay vì đối diện vấn đề thật như tham nhũng hay bất công, gán cho "kẻ ngoài cuộc" thì đỡ đau đầu. Thứ hai, tạo ranh giới đạo đức: ta là yêu nước, nó là phản bội - giúp người dùng cảm thấy mình đứng phe đúng dù không cần hiểu sâu. Thứ ba, che đi sự thật khó chịu: có rất nhiều người yêu nước nhưng bất mãn, có rất nhiều phê phán xuất phát từ trải nghiệm sống thật. Chụp mũ giúp khỏi phải thừa nhận điều đó.

    Nghiên Cứu Lịch Sử


    Không có nhận xét nào