Lê Nguyễn
02/21/2026
“...Hòa ước Thiên Tân 1885 là hậu quả của việc xung đột trầm trọng giữa thực dân Pháp, trên thực tế đã làm chủ toàn bộ Việt Nam, và nhà Thanh, còn muốn tranh giành một vài vùng đất nằm ở phía Bắc Việt Nam. Điều này cũng không nằm trong một ý đồ “xâm lược” nào, chỉ là sự núm níu, giành giật chút quyền lợi và ảnh hưởng cục bộ đã mất.
Những sự kiện trình bày trên rõ ràng là “giấy trắng mực đen” được ghi trong chánh sử, song đến nay, vẫn cỏn có không ít ngộ nhận về chúng!”.
Patenôtre (bìa phải) và Lý Hồng Chương (giữa) trong lễ ký hòa ước Thiên Tân 1885.
Mấy ngày qua, có một chuyện được nhắc lại với nhiều ý kiến khác nhau, đó là chuyện đại ý “trong triều đại nhà Nguyễn, từ năm 1802 đến những năm 1880, Trung Quốc không hề xua quân xâm lược Việt Nam” như đã từng làm với nhiều triều đại trước. Điều này không sai, lại còn có tác dụng phủ định một ý kiến được nêu lên cách đây vài năm là “Trung Quốc từng xâm lược Việt Nam vào thập niên 1880”.
Tuy nhiên, ý kiến trên lại kéo theo một số ý kiến, quan điểm về những vấn đề khác, trong đó có ý kiến cho rằng vào nửa cuối thế kỷ 19, nhà Nguyễn đã buông bỏ miền Bắc cho giặc Cờ Đen và quân Pháp giành nhau; lại cũng có ý kiến cho rằng quân Cờ Đen là một bộ phận của quân nhà Thanh và Lưu Vĩnh Phúc, lãnh tụ của đạo quân này, là một quan lại cơ hữu của nhà Thanh.
Nhân những câu chuyện chưa bao giờ kết thúc các dị biệt và mâu thuẫn vào thời kỳ này, mình xin tóm lược một số sự kiện, hầu hết được thể hiện rõ ràng trong nguồn sử liệu chính thống là bộ Đại Nam Thực Lục vào nửa sau thế kỷ XIX
* VỀ QUAN HỆ VIỆT -THANH TRONG NHỮNG THẬP NIÊN 1860-1880
Trước tiên, xin xác định là một ngộ nhận khi cho rằng sự hiện diện tại miền Bắc của một đạo quân Thanh dưới quyền của Đề đốc Quảng Tây Phùng Tử Tài vào những năm 1868-1869 là một hình thức xâm lược. Trên thực tế, vào những năm giữa thập niên 1860, nền an ninh của miền Bắc nước ta bị đe đọa nghiêm trọng không chỉ bởi ba đạo quân lớn Cờ Đen, Cờ Trắng, Cờ Vàng mà còn bởi nhiều đám phỉ nhỏ xâm nhập riêng lẻ từ biên giới Việt-Trung, và chính Phùng Tử Tài được triều đình nhà Thanh cử sang Việt Nam theo yêu cầu của triều đình Huế để cùng hội tiễu các đám thổ phỉ. Như vậy, quan hệ giữa quân Thanh và quân Việt lúc này là quan hệ phối hợp để tiễu trừ thổ phỉ xuất phát từ lãnh thổ Trung Quốc, không hề có sự bất đồng hay xung đột nào giữa hai lực lượng quân sự Việt-Trung vào thời điểm này.
Năm 1876, theo lệ cống hàng năm, vua Tự Đức cử Hữu Thị lang bộ Lễ là Bùi Ân Niên làm Chánh sứ sang triều cống nhà Thanh. Sử không ghi thêm chi tiết nào về chuyến đi này, song khi Bùi Ân Niên trở về nước vào tháng 3 AL 1878 thì ĐNTL ghi rằng ngoài một vài báo cáo thông thường, lại có câu “lại phê hỏi nhiều khoản, Ân Niên lại mật tâu để trả lời” (ĐNTL tập 8 – NXB Giáo Dục 2007, trang 283). Chi tiết sau cùng này vẫn không được chánh sử bạch hóa sau đó, nó buộc người đọc phải suy diễn theo nhiều hướng khác nhau, song có lẽ chủ yếu là hướng ngầm cầu viện với nhà Thanh
* VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BA ĐẠO QUÂN CỜ ĐEN, CỜ TRẮNG, CỜ VÀNG VỚI TRIỀU ĐÌNH HUẾ; GIỮA QUÂN CỜ ĐEN VÀ NHÀ THANH
- Cho đến nay, vẫn còn nhiều người đồng nhất hóa ba đạo quân trên trong suốt những thập niên 1860 – 1880. Đó là một ngộ nhận phổ biến cần được làm rõ. Trên thực tế, vào năm 1868, với nỗ lực của quan chức triều đình, tiêu biểu là đại thần Hoàng Tá Viêm, Lưu Vĩnh Phúc, lãnh tụ đạo quân Cờ Đen, đã hàng phục quân triều đình. Từ năm 1869 đến giữa thập niên 1870, các trận chiến đã diễn ra giữa một bên là quân triều đình, quân Thanh của Phùng Tử Tài, quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc và một bên là hai đạo quân Cờ Trắng của Bàn Văn Nhị và Cở Vàng của Hoàng Sùng Anh. Nhờ sự hợp lực này mà đến giữa thập niên 1870, hai đạo quân Cờ Trắng và Cờ Vàng đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
- Từ cuối thập niên 1860 đến giữa thập niên 1880, Lưu Vĩnh Phúc và đạo quân Cờ Đen chưa bao giờ thống thuộc triều đình nhà Thanh. Trái lại, trong khoảng thời gian này, quân Cờ Đen được đặt dưới sự điều động của quan quân triều Nguyễn, Lưu Vĩnh Phúc chính thức là một quan lại triều Nguyễn, leo từ chức Phó Lãnh binh và Lãnh binh vào năm 1874 đến chức cao nhất vào năm 1883 là Đề đốc, “được ban mũ áo chánh nhị phẩm”, ngang với hàng Thượng thư (sau hai đại công tiêu diệt hai sĩ quan cao cấp Pháp là Đại úy Francis Garnier và Đại tá Henri Rivière)
Những chi tiết trên được ghi rõ trong ĐNTL đã phủ nhận những thông tin cho rằng Lưu Vĩnh Phúc và đạo quân Cờ Đen thống thuộc nhà Thanh trong thời gian này, và cũng phủ nhận luôn sự đánh đồng ba tổ chức Cờ Đen, Cờ Trắng, Cờ Vàng.
Chỉ sau hòa ước Quý Mùi 1883 (Việt-Pháp) và hòa ước Thiên Tân (Pháp-Thanh) 1885, đạo quân Cờ Đen mới bị triều đình Huế từ bỏ theo cam kết với Pháp, Lưu Vĩnh Phúc trở về Trung Quốc, lần đầu tiên được triều đình nhà Thanh trọng dụng và lập được nhiều công.
Năm 1884, trước lễ ký hòa ước Giáp Thân năm 1884 công nhận sự chiếm hữu toàn bộ đất Nam Kỳ và sự bảo hộ của Pháp ở miền Bắc Việt Nam (thực chất là hoàn toàn thuộc Pháp), Phụ chánh Nguyễn Văn Tường đã cùng đại diện phía Pháp nấu chảy ấn phong vương của nhà Thanh, như sự từ bỏ chính thức mọi quan hệ với Bắc Kinh từ đấy.
Hòa ước Thiên Tân 1885 là hậu quả của việc xung đột trầm trọng giữa thực dân Pháp, trên thực tế đã làm chủ toàn bộ Việt Nam, và nhà Thanh, còn muốn tranh giành một vài vùng đất nằm ở phía Bắc Việt Nam. Điều này cũng không nằm trong một ý đồ “xâm lược” nào, chỉ là sự núm níu, giành giật chút quyền lợi và ảnh hưởng cục bộ đã mất.
Những sự kiện trình bày trên rõ ràng là “giấy trắng mực đen” được ghi trong chánh sử, song đến nay, vẫn cỏn có không ít ngộ nhận về chúng!
Lê Nguyễn
22.2.2026
Không có nhận xét nào