Tác giả: Chu Đông Gia
02/16/2026
(Hình: https://eva.vn/di-dau-xem-gi/khu-cho-ton-tai-hon-tram-nam-giua-long-pho-co-xua-tam-bo-nho-xiu-nay-thanh-ngoi-cho-que-hiem-hoi-con-sot-lai-o-thu-do-c40a615268.html)
Bạn Chi Lan bên nhà nói lên tiếng nói của bà con không có phương tiện để nói về việc “dẹp chợ tự phát hay dẹp luôn lòng dân”. Từ cách nhìn của bạn Chi Lan, việc dẹp chợ tạm không chỉ có mỹ quan đô thị, an toàn giao thông mà còn có hàng vạn mảnh đời đang bám víu vào những sạp hàng tưởng như nhếch nhác đó. Nhưng có những uẩn khuất gì tiềm ẩn bên dưới những mẫu đời thường mà bạn tôi đang ráng gióng lên tiếng nói chính danh cho những người sống “bên lề” xã hội?
Khi tiếng nói ấy vang vọng sang những người sống và làm việc bên ngoài đất nước, những uẩn khuất ấy có cần được khai quật lên hay không? Thay vì viết dông dài trong ngày đầu năm Bính Ngọ khi mọi người đang vui xuân, mời bạn lướt qua ba phần rất ngắn bên dưới.
1. Khoảng cách giữa người sống với luật và người viết luật
Trong mọi chuyện liên quan đến đời sống hàng ngày – từ chợ cóc, vỉa hè, tới trường học, bến xe – có một thực tế ít được gọi tên: những người sống chung với các quy định mỗi ngày thường không phải là người viết ra chúng. Những người bán hàng rong, công nhân đi chợ sau ca làm, cán bộ phường đi kiểm tra hiện trường… là những người hiểu rõ nhất chỗ nào hay ngập, đoạn đường nào dễ kẹt xe, giờ nào công nhân tan ca đổ ra mua đồ. Thế nhưng, tiếng nói và kinh nghiệm của họ hiếm khi bước được vào bàn soạn thảo nghị định.
Đó là một khoảng cách kép. Về tri thức, luật được viết ở nơi xa nhất với đời sống cụ thể: trên bàn giấy của các bộ ngành, dựa trên báo cáo, mẫu biểu, phân loại chợ hạng 1, hạng 2, “bảo đảm vệ sinh, không lấn chiếm lòng lề đường”, hơn là dựa trên những hiểu biết lắt léo, vụn vặt nhưng rất thực của một khu phố.
Về thể chế, quyền quyết định nằm ở cấp cao nhất, còn hậu quả lại dồn xuống cấp thấp nhất: người bán mất chỗ, người mua mất chợ tiện, chính quyền phường – quận kẹt giữa chỉ tiêu từ trên giao và bức xúc từ dưới dội lên.
Khi hai khoảng cách đó chồng lên nhau, ta có một nghịch lý: những người biết rõ nhất và chịu thiệt hại nhiều nhất lại chỉ được mời “chấp hành”. Họ được nghe phổ biến nghị định, được nhắc phải tuân thủ, nhưng hiếm khi được tham gia từ đầu để cùng đặt câu hỏi căn bản: “Với khu phố này, với những con người cụ thể này, nên quản lý chợ ra sao cho vừa trật tự, vừa giữ được kế sinh nhai?”.
2. Cái chợ như một tấm gương soi
Câu chuyện chợ tự phát ở Việt Nam và cách chính quyền Toronto xử lý khu St. Lawrence Market cho thấy sự khác biệt đó rõ hơn bất cứ khái niệm lý thuyết nào.
Ở Việt Nam, một nghị định ở tầm quốc gia được ban hành để “quy định phát triển và quản lý chợ” trên phạm vi cả nước, từ chợ trung tâm thành phố đến chợ tạm bên khu công nghiệp, từ miền núi đến đồng bằng. Cùng một chiếc khuôn pháp lý, cùng một cách nhìn chợ như “đối tượng phải sắp xếp cho gọn, sạch, không lấn chiếm”, áp xuống vô số hoàn cảnh không hề giống nhau.
Ở Toronto, với St. Lawrence Market, phạm vi xử lý chưa bao giờ vượt ra khỏi tầm thành phố, thậm chí là vài khu phố quanh chợ. Thành phố Toronto tổ chức thi thiết kế, tham vấn cộng đồng, xây chợ tạm kiên cố cho tiểu thương hoạt động trước khi phá chợ cũ; rồi dành thời gian cho khảo cổ, bảo tồn di sản dưới nền chợ, sau đó mới xây tòa nhà chợ mới – một công trình đa chức năng vừa là chợ, vừa là tòa án, văn phòng, bãi đỗ xe. Toàn bộ trình tự đó được quyết định ở cấp chính quyền sẽ sống lâu dài với kết quả, chịu trách nhiệm trước cử tri nếu làm hỏng, và hằng ngày đi qua không gian ấy.
Vẫn là câu chuyện “dẹp, xây, sắp xếp lại chợ”, nhưng ở một bên, quyết định được thiết kế sát với nơi nó tác động, dựa vào hiểu biết cụ thể của cư dân và chính quyền đô thị; bên kia, quyết định được thiết kế xa đời sống hơn rất nhiều, rồi mới “xuống” cho các địa phương loay hoay tìm cách thực hiện trong điều kiện chật chội, ngân sách ít ỏi, sinh kế bấp bênh.
3. Một cuộc trò chuyện còn thiếu
Khoảng cách giữa người viết luật và người sống với luật không chỉ là một lỗi kỹ thuật trong việc soạn thảo một nghị định về chợ. Nó phản ánh một cuộc trò chuyện còn thiếu về tri thức và quyền lực: ai có quyền nói thế nào là “trật tự”, ai được quyền quyết định những hi sinh nào là “chấp nhận được” đối với một khu phố nghèo; tiếng nói của người bán thúng bán bưng, của công nhân đi chợ vội, có được xem là tri thức chính đáng hay chỉ là “đối tượng tuyên truyền, vận động”.
Ở những xã hội khác, những câu hỏi đó đã được các nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu mổ xẻ từ nhiều thế hệ: nhà nước biết được những gì, không biết được những gì; chừng nào nên để cộng đồng tự quyết, chừng nào nên dùng tới “cây búa lớn” là nghị định toàn quốc.
Ở Việt Nam, những cuộc tranh luận như vậy chưa được phổ biến rộng rãi, nhưng cảm giác bất an trước những quyết định “từ xa” thì ai cũng có thể nhận thấy qua từng cái chợ bị dẹp, từng vỉa hè bị “lập lại trật tự”. Biết đâu, bắt đầu từ một câu chuyện nhỏ như chợ tạm, chúng ta có thể mở dần cánh cửa cho cuộc trò chuyện còn thiếu ấy.
Nguồn để tìm hiểu thêm:
Chi Lan. Việt Nam Thời Báo – Dẹp chợ tự phát hay dẹp luôn lòng dân. https://vietnamthoibao.org/vntb-dep-cho-tu-phat-hay-dep-luon-long-dan/
F. A. Hayek, “The Use of Knowledge in Society” (1945) – bài viết kinh điển về việc tri thức đời thường phân tán trong xã hội và vì sao trung ương không thể “ôm” hết để lập kế hoạch. Dễ tìm bản PDF miễn phí trên mạng.
F. A. Hayek, The Road to Serfdom – cuốn sách phê phán chủ nghĩa toàn trị và cảnh báo nguy cơ từ việc tập trung quá nhiều quyền lực vào tay một bộ máy lập kế hoạch trung ương. (Có nhiều bản tóm tắt, video giới thiệu ngắn trên mạng.)
James C. Scott, Seeing Like a State (1998) – khảo sát các dự án “quy hoạch cho đẹp, cho khoa học” trên thế giới và vì sao chúng thường thất bại khi coi nhẹ tri thức địa phương và đời sống cụ thể.
“Seeing Like a State: A Conversation with James C. Scott” – bài phỏng vấn tóm lược các ý chính của Scott, dễ đọc hơn sách, có thể tìm trên trang Cato Unbound.
Không có nhận xét nào