Header Ads

  • Breaking News

    Lại một mùa Xuân nữa sắp trở về

    Lê Nguyễn

    02/08/2026

    Những thập niên qua đánh dấu sự chuyển biến khốc liệt của làng báo nước nhà, nhiều tờ báo in từng là kỷ niệm sâu sắc của nhiều thế hệ cũng đã lụi tàn, nhường chỗ cho thế giới báo mạng miễn phí, với những mảng tin tức thời sự chớp nhoáng, thần tốc, đủ mọi thể loại.

    Thế nhưng, vẫn có một hình thức báo chí tiếp tục tồn tại, duy trì một truyền thống tốt đẹp đã được cha ông xây dựng từ cả trăm năm trước, đó là các báo Xuân. Như mọi năm, khi không khí Tết bắt đầu len lỏi vào những sinh hoạt bộn bề của xã hội, các giai phẩm mùa Xuân lại đến với người đọc vào thượng tuần tháng chạp, như những mảng màu không thể thiếu trong sắc diện mùa Xuân. Đó là những giai phẩm Nhân Dân, Sài Gòn giải phóng, Tuổi Trẻ, Tuổi Trẻ cười, Thanh Niên, Phụ Nữ TPHCM, Pháp Luật, Người Lao Động, Tiền Phong, Thể thao và Văn hóa ... mỗi giai phẩm mang một sắc thái riêng, nhưng tất cả đều ghi dấu những nỗ lực không ngừng của các cây bút trong và ngoài mỗi tòa soạn, nhằm cung ứng cho người đọc những món ăn tinh túy nhất sau một năm đầy biến động.

    Trong dịp này, xin trân trọng giới thiệu với các bạn một bài viết về lễ Tết ngày xưa in trong Giai phẩm Tuổi Trẻ xuân Bính Ngọ 2026 vừa phát hành ngày 29.1 vừa qua.

    LN – 8.2.2026

    ***

    NGƯỜI XƯA VÀ TẾT 

    Thời kỳ quân chủ ở Việt Nam kéo dài hàng ngàn năm, thưởng Tết là một trong những phong tục lâu đời nhất và đến nay vẫn còn tồn tại. Song cách thưởng Tết cũng có những thay đổi theo thời gian, trong đó nổi bật là cách thưởng Tết trong đời sống cung đình.

    Nói về phong tục Tết, bộ sách An Nam chí lược của Lê Tắc soạn vào khoảng thập niên 1330 dưới thời Trần là một trong những tác phẩm cổ nhất, song lại miêu tả những ngày Tết giữa cung đình và trong dân gian một cách chi tiết và thi vị nhất. Mục Phong tục của sách chép rằng cứ mỗi năm, trước Tết hai ngày. Vua nhà Trần đi xe ngự dụng cùng các quan đến tế điện Đế Thích. Ngày cuối năm âm lịch, vua ngồi giữa cửa Đoan củng, các quan làm lễ rồi cùng xem hát múa. Đêm giao thừa, các thầy tu vào cung nội làm lễ “Khu na” (xua đuổi ma quỉ), trong khi dân gian mở rộng cửa nhà, đốt pháo tre, bày cỗ bàn cúng bái.

    Sáng sớm ngày chính đán (mùng một Tết), vua ngồi ở điện Vĩnh Thọ, tôn tử trong hoàng tộc và quan cận thần làm lễ Bái hạ, rồi vào cung Trường Xuân vọng bái các lăng tổ. Sau đó, nhà vua trở về, ngồi trên điện Thiên An, cùng các phi tần nghe tấu nhạc.

    Ngày mùng hai Tết, các quan làm lễ riêng tại nhà. Mùng ba Tết, vua ngồi trên gác Đại Hưng xem tôn tử và các quan nội cung đánh quả cầu thêu. Ngày mùng 5, cung đình làm lễ khai hạ, quan và dân đi lễ các chùa miếu. Đêm nguyên tiêu (rằm tháng giêng), trồng đến hàng vạn ngọn đèn Quảng chiếu trên khoảnh sân rộng, sáng rực cả bầu trời, mặt đất, các thầy tu đi quanh tụng kinh Phật, quan lại lễ bái gọi là “chầu đèn”. (Sách đã dẫn – Viện Đại học Huế - 1961, trang 46-47).

    Càng về sau, cùng với những chuyển biến trong đời sống cung đình cũng như ngoài xã hội, phong tục Tết có nhiều thay đổi. Thời Lê-Trịnh (thế kỷ XVII -XVIII), trước ngày Tết, vào tháng 12 âm lịch (tháng Sửu), triều đình làm lễ Tiến xuân ngưu, nặn con trâu bằng đất, đưa đến một cái đàn dựng sẵn trong kinh thành Thăng Long, các quan phủ huyện dùng cành dâu đánh vào con trâu đất rồi sau đó đưa vào sân điện nhà vua để làm lễ. Mục đích của lễ này là tống khí lạnh cuối năm cho khí trời thêm ấm áp. (Lịch triều hiến chương loại chí – Tập II – NXB Khoa học Xã hội – 1992, trang 70)

    Ngày 25 tháng chạp, các công đường trong và ngoài triều nội làm lễ Hạp ấn, người ta mang ấn lau rửa sạch sẽ rồi bọc trong vải lụa, đem cất kỹ, đợi sang năm mới làm lễ Khai ấn (mở ấn ra sử dụng). Hạp ấn không có nghĩa là mọi việc ở triều đình và các công đường đều bị ngưng chỉ hoàn toàn. Các cơ sở công vẫn giải quyết các việc khẩn cấp và bất thường, song quyết định phải chờ đến sang năm mới đóng dấu. 

    Thời Lê-Trịnh, lễ Hạ điền là một nghi lễ khá độc đáo với sự tham gia của cả vua Lê và chúa Trịnh. Lễ này được miêu tả bởi giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes từng đến Đàng Ngoài từ năm 1627 và ở lại đó tới năm 1630. De Rhodes từng chứng kiến những ngày Tết ở kinh thành Thăng Long, ông cho biết là vào ngày mùng ba Tết hàng năm, các quan lại tập trung đông đủ tại cung điện để cùng vua Lê, chúa Trịnh đi hành lễ Hạ điền tại một địa điểm ở ngoại thành. Vua ngồi trên ngai vàng do binh lính khiêng trên vai, còn chúa thì ngồi trên xe thếp vàng, theo sau là các Tiến sĩ, Cử nhân tại địa phương. Khi đám rước dừng lại trên một cánh đồng ở ngoại thành, nơi nhiều người dân đã có mặt từ sớm để chờ giờ hành lễ, nhà vua bước xuống ngai, làm lễ tế Trời Đất, rồi đi xuống ruộng, tay cầm cày, mở một luống cày trên cánh đồng nhằm khuyến khích dân chúng siêng năng cày cấy để mùa màng tươi tốt, lúa gạo đầy sân.

    Đến thời nhà Nguyễn, sự hiện diện của người phương Tây, nhất là người Pháp, đã khá đông, ngày lễ Tết cũng có những nét mới. Một trong những người từng miêu tả cái Tết thời Gia Long khá chi tiết là Michel Đức Chaigneau, người có hai dòng máu Pháp-Việt, con của Jean Baptiste Chaigneau, từng làm quan với tên Việt Nguyễn Văn Thắng và bà Benoite Hồ Thị Huề. Trong tác phẩm Souvenirs de Hué (Hồi ức về Huế) xuất bản tại Paris năm 1867, Đức Chaigneau cho biết đến thập niên 1810, lễ Hạp ấn vẫn được duy trì, thường là vào ngày 25 tháng chạp (tháng 12 âm lịch). Trong dân gian, người ta thăm viếng mộ người thân, quét dọn nhà cửa, lau rửa vật dụng thường dùng.

    Cũng theo Đức Chaigneau, dưới thời vua Gia Long, tặng quà cho nhau là những nét độc đáo mà các thời vua trước không có. Đầu tiên là nhà vua tặng quà cho các đại thần. Quà thường là vải vóc hay quần áo bằng vải vóc do Trung Quốc sản xuất, đựng trong một chiếc hộp sơn màu vàng, do lính trong cung mang đến tận nhà người được tặng quà. Để tăng thêm tính trang trọng cho nghi thức này, triều đình còn cắt cử một người lính khác cầm lọng đi theo người lính mang quà.

    Tập quán tặng quà cho nhau cũng tồn tại trong hàng quan lại, theo cách thức các viên quan nhỏ tặng quà cho người chỉ huy trực tiếp của mình. Quà của họ giản dị hơn, thường gồm một cặp gà hay vịt, một giỏ cam, kèm theo mấy phong pháo. Trong khi nhà vua tặng quà để biểu lộ sự quan tâm dành cho những người từng đồng cam cộng khổ với mình thì việc quan chức cấp thấp tặng quà cho quan chức cao hơn chỉ nhằm biểu lộ lòng tôn trọng của họ. Trong quân ngũ, do binh lính đông nên quà của họ dành cho các võ quan chỉ huy họ nhiều về khối lượng, cao về chất lượng, thường là gạo nếp và một con lợn sống nhốt trong lồng mang đến giữa công đường.

    Tại nhà cư dân, dưới thời Nguyễn, Tết là dịp để gia nhân biểu lộ lòng biết ơn và tôn kính các chủ nhân lớn tuổi trong gia đình. Nếu nhà có nhiều gia nhân, họ sẽ góp tiền mua biếu chủ nhà một con heo sống, một giỏ trái cây hay một thúng gạo. Trong gia đình, con cái cũng có lệ tặng quà cho cha mẹ, có lẽ chỉ là những món tượng trưng cho lòng hiếu kính của phận làm con.

    Những việc trên thường diễn ra vào mấy ngày cuối năm, những ngày đầu năm mới lại là dịp để chủ nhân và các quan lại chúc tụng và tặng tiền cho gia nhân hay các binh sĩ thuộc quyền.

    Triều Gia Long, hàng ngũ giáo sĩ và thương nhân nước ngoài cũng tham gia thưởng Tết và tặng quà Tết. Trong Souvenirs de Hué, Đức Chaigneau có nhắc đến Giám mục de Véren phụ trách khu vực quanh kinh thành Huế, hàng năm, ông ngồi kiệu đến cung điện, mang theo hai chai nước thơm Eau de Cologne bằng thủy tinh xinh xắn để dâng tặng cho nhà vua. Có năm ông được nhà vua tiếp, có năm ông trao quà qua một viên quan trong nội các của nhà vua. Đức cũng cho biết là vua Gia Long rất thích món nước thơm Eau de Cologne này.

    Cái Tết ở triều vua Đồng Khánh độc đáo theo một hướng khác. Đó có lẽ là một trong những lần hiếm hoi mà thần dân được thỏa thuê nhìn long nhan bậc Thiên tử. Ít ai ngờ rằng chuyện này bắt nguồn từ một tin đồn. Vào những tháng trước Tết, bỗng nhiên người ta đồn rùm lên là vua Đồng Khánh bị người Pháp giam lỏng trong cung điện. 

    Cần nhớ là vào đầu năm 1886, lúc nhà vua đã ngồi ấm chỗ trên ngai vàng thì người em cùng cha khác mẹ với ông là cựu hoàng Hàm Nghi đang ở đâu đó trên thượng nguồn sông Gianh, mà lời hịch Cần vương đang làm nức lòng mọi người. Vì thế trước tin đồn tai hại trên, một trong những người ưu tư nhiều nhất là tướng Prudhomme (còn được gọi là Général X), tư lệnh quân đội Pháp tại Trung Kỳ. 

    Theo lời kể lại của Đại úy Charles Gosselin, tác giả quyển L’empire d’Annam (tạm dịch: Đế chế An Nam) xuất bản tại Paris năm 1904, trong lúc lo nghĩ đến tin đồn bất lợi đang lan rộng trong công chúng, tướng Prudhomme bỗng nảy ra một “sáng kiến”, đó là thuyết phục vua Đồng Khánh chịu xuất hiện trên đường phố trong ngày Tết để mọi người biết là ông vẫn không bị giam lỏng trong cung điện như tin đồn. 

    Và chuyến xuất hành đầu năm Bính Tuất, nhằm ngày 4.2.1886, của vua Đồng Khánh, đã diễn ra theo “kịch bản” mà Prudhomme đã soạn thảo. Nó hoàn chỉnh đến mức trở thành, nếu không là lần duy nhất thì cũng là lần thật hiếm hoi mà công chúng được nhìn mãn nhãn long nhan của đấng thiên tử, một điều hầu như cấm kỵ từ trước.

    Ngày mùng một năm Bính Tuất đó khác với mọi năm, không có những nghi lễ thông thường ở triều nội. Hôm đó, vua Đồng Khánh dành ngày nguyên đán để tiếp tướng Prudhomme, các viên chức và sĩ quan Pháp thuộc tòa Khâm sứ Huế. Người ra tận sân điện tiếp đón viên tướng Pháp là quan Kinh lược Nguyễn Hữu Độ, cũng là nhạc phụ của nhà vua, cùng hai vị Thượng thư trong triều. Vua Đồng Khánh ngồi trên ngai vàng, mặc hoàng bào bằng lụa vàng, thêu chỉ vàng, đội mũ dát châu ngọc. Hai bên trao đổi những lời chúc tụng, khách bằng bài diễn văn có người dịch lại, nhà vua bằng lời đáp từ chậm rãi. Buổi lễ kết thúc với phần công bố ban thưởng huân chương cho các viên chức chỉ huy quân sự và dân sự của Pháp. Những huân chương này sau đó được người mang đến tòa Khâm sứ với những nghi thức long trọng.

    Buổi chiều ngày mùng một Tết, tướng Prudhomme cùng đoàn tùy tùng hộ tống vua Đồng Khánh xuất hành ra các đường phố Huế. Để công chúng nhìn thấy mặt rồng, ông ngồi trên một chiếc kiệu sơn son thếp vàng không rèm che, theo sau là các hoàng thân, các thượng thư và nhiều quan lại khác. Trên đường đoàn xa giá đi qua, đàn sáo nổi lên inh ỏi, chùa treo đèn và cờ, dân chúng quỳ xuống, bày tỏ niềm vui bằng sự reo hò náo nhiệt...

    Tối ngày mùng một Tết, vua Đồng Khánh tổ chức tiệc chiêu đãi tướng Prudhomme, quyền Tổng Trú sứ Hector cùng nhiều sĩ quan, viên chức Pháp. Bữa ăn được phục vụ theo kiểu Tây trong âm thanh của dàn nhạc cung đình. Đêm vui mùng một Tết kết thúc bằng màn bắn pháo hoa sáng rực cả bầu trời.

    Đó là một trong những cái Tết cung đình đáng nhớ nhất ở những năm cuối thế kỷ XIX, tiếp theo đó là quãng thời gian mà nhiều cuộc kháng chiến chống Pháp nổi lên, báo hiệu một thế kỷ XX với nhiều chuyển biến quan trọng./.

    Lê Nguyễn


    Không có nhận xét nào