02/11/2026
Cán cân thương mại thâm hụt gần 1,8 tỷ USD trong tháng đầu năm
Dương Phương Linh/Tạp chí kinh tế Việt Nam
02/10/2026
Xuất khẩu phục hồi mạnh trong nửa cuối tháng 1/2026 giúp cán cân thương mại chuyển sang trạng thái thặng dư, song cả tháng, vẫn nhập siêu gần 1,8 tỷ USD. Đáng chú ý, khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chi phối cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu…
Cán cân thương mại tháng 1 vẫn thâm hụt gần 1,8 tỷ USD
Theo báo cáo sơ bộ từ Cục Hải quan, trong nửa cuối tháng 1/2026 (từ ngày 16 – 31/1), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam đạt khoảng 48,58 tỷ USD, tăng 23,48% so với kỳ 1 tháng 1/2026 và tăng tới 41,56% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung cả tháng 1/2026, trị giá xuất nhập khẩu đạt 88,16 tỷ USD, tăng 23,48% so với năm 2025.
Xét riêng xuất khẩu, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong 15 ngày cuối tháng 1 đạt 25,08 tỷ USD, tăng 38,94% so với nửa đầu tháng 1/2026. Động lực tăng trưởng chủ yếu vẫn đến từ khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao như điện tử, điện thoại và máy móc, thiết bị.
Tính riêng 3 nhóm hàng chủ lực gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện cùng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của khối FDI. Điều này phản ánh vị thế chi phối của các tập đoàn đa quốc gia trong cơ cấu xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt ở các ngành công nghệ cao, thâm dụng vốn và gắn chặt với chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cụ thể, so với 15 ngày đầu tháng 1/2026, nhóm điện thoại các loại và linh kiện tăng cao nhất lên tới 1,58 tỷ USD (tương đương 77,12%). Theo sau là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 1,13 tỷ USD (tương đương 52,99%).
Cuối cùng là nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 1,09 tỷ USD (tương đương 25,89%). Đây cũng là ba nhóm hàng duy nhất có mức tăng trên 1 tỷ USD, cho thấy cơ cấu xuất khẩu tiếp tục tập trung cao vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, thâm dụng vốn và kỹ thuật.
Mặc dù là ba nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm gần đây, phản ánh vai trò ngày càng lớn của ngành điện tử trong cơ cấu xuất khẩu. Tuy nhiên, trị giá xuất khẩu của nhóm hàng này chủ yếu đến từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI).
Theo đó, trong tháng 1/2026, tổng trị giá xuất khẩu của khu vực FDIchiếm gần 78% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước,đạt33,64tỷ USD, tăng tới43,32% so với tháng 1/2025.
Mức độ đóng góp áp đảo của khu vực FDI đã cho thấy sự phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào khu vực này, với tỷ trọng tới 99% trong các nhóm hàng điện tử, máy tính và điện thoại; kéo theo đó, khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn đứng ngoài các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế, nghiên cứu – phát triển và sản xuất linh kiện cốt lõi.
Tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu trong khu vực FDI trong tháng 1/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Thực tế này đặt ra yêu cầu đẩy nhanh chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, qua đó từng bước nâng tỷ lệ nội địa hóa và giảm rủi ro trước những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nổi bật, xuất khẩu than tăng gần 12 lần so với nửa đầu tháng 1/2026, đạt trị giá 11,9 triệu USD. Đây là nhóm hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong nửa cuối tháng 1/2026. Ngoài ra, nhóm phân bón cũng tăng tới 232,5% và nhóm sắt thép tăng 121,92% so với 15 ngày đầu tháng 1/2026.
Nhìn chung, trong kỳ 2 tháng 1/2026, tất cả các nhóm hàng hoá đều ghi nhận sự cải thiện hơn so với kỳ 1 tháng 1/2026, ngoại trừ ba nhóm hàng hoá liên quan đến nhiên vật liệu như: quặng và khoáng sản khác giảm 23,16%; Clanhke và xi măng giảm 5,99% và xăng dầu giảm tới gần 70%.
Trong tháng 1/2026, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt 43,19 tỷ USD, tăng 30,13% so với năm ngoái. Hai nhóm bao gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cũng như máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác dẫn đầu đà tăng trên 1 tỷ USD, tương đương lần lượt 57,92% và 40,52% so với tháng 1/2025.
Ngoài ra, sự cải thiện kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đến từ nhóm ngành thức ăn chăn nuôi và sản phẩm truyền thống, góp phần đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu. Trị giá xuất khấu thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 154,44 triệu USD, tăng 111,75% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ngược lại, gạo, xăng dầu và dầu thô là ba nhóm hàng duy nhất giảm kim ngạch, trong đó xăng dầu và dầu thô giảm lần lượt 67,82% và 81,9% so với năm 2025.
Kim ngạch xuất khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 2 tháng 1/2026 và kỳ 1 tháng 1/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Ngoài các nhóm hàng chủ lực, thị trường nhập khẩu còn ghi nhận mức tăng đột biến ở nhóm đá quý và kim loại quý, với tốc độ tăng trên 480% so với năm 2025. Diễn biến này phản ánh nhu cầu gia tăng không chỉ trong hoạt động chế tác trang sức mà còn từ động thái tích trữ tài sản của người dân và doanh nghiệp nhằm bảo toàn giá trị, khiến lượng nhập khẩu vàng nguyên liệu, bạc và kim loại quý tăng mạnh ngay từ đầu năm.
Xét ở chiều nhập khẩu, trong 15 ngày cuối tháng 1/2026, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 23,5 tỷ USD, tăng 10,38% so với kỳ 1 tháng 1/2026. Động lực tăng trưởng chủ yếu vẫn đến từ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng công nghệ cao như máy vi tính, sản phẩm điện tử, linh kiện và máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhằm phục vụ sản xuất và lắp ráp trong nước.
Cụ thể, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ghi nhận mức tăng gần 600 triệu USD (tương đương 7,42%), đạt 8,55 tỷ USD. Đứng vị trí thứ hai là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, tăng 273,61 triệu USD (tương đương 9,8%), đạt trị giá 3,07 tỷ USD.
Một số mặt hàng nguyên liệu đầu vào và tiêu dùng thiết yếu cũng ghi nhận mức tăng đột biến. Nhập khẩu lúa mì tăng gần 200%, đạt 131,44 triệu USD; nhập khẩu xăng dầu tăng hơn 65%, đạt 451,77 triệu USD.
Tính chung cả tháng 1/2026, nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt 44,97 tỷ USD, tăng 49,61% so với năm ngoái. Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện cũng như máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đều ghi nhận mức tăng trên 1 tỷ USD, tương đương lần lượt 70,82% và 47,11% so với tháng 1/2025.
Kim ngạch nhập khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 2 tháng 1/2026 và kỳ 1 tháng 1/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Tương tự như ở chiều xuất khẩu, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục giữ vai trò chi phối trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam. Tháng 1/2026, khối này đạt kim ngạch nhập khẩu là 32,06 tỷ USD, chiếm khoảng 71,3% tổng trị giá nhập khẩu cả nước và tăng tới 67,27% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động sản xuất của khu vực FDI tiếp tục mở rộng mạnh mẽ, kéo theo nhu cầu lớn về nhập khẩu linh kiện, máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu đầu vào. Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm 50,46%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác chiếm 12,88%.
Tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu trong khu vực FDI trong tháng 1/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Điều này phản ánh cấu trúc chuỗi giá trị hiện nay của Việt Nam, khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp và cung ứng phụ trợ có giá trị gia tăng thấp.
Khi tỷ trọng linh kiện và thiết bị nhập khẩu vẫn ở mức cao, giá trị gia tăng thực tế được giữ lại trong nước còn hạn chế, trong khi rủi ro từ đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động tỷ giá và chính sách thương mại quốc tế có thể nhanh chóng lan sang hoạt động sản xuất trong nước.
Trong nửa cuối tháng 1/2026, đà phục hồi của xuất khẩu đã giúp cán cân thương mại chuyển sang trạng thái thặng dư 1,58 tỷ USD. Tính chung cả tháng, cán cân thương mại vẫn thâm hụt 1,78 tỷ USD do chưa đủ bù đắp mức nhập siêu lớn trong nửa đầu tháng, phản ánh áp lực từ đà tăng mạnh của nhập khẩu tư liệu sản xuất và linh kiện phục vụ hoạt động chế biến, chế tạo ngay từ đầu năm.
Nếu không tính khu vực FDI thì cán cân thương mại trong nước tiếp tục rơi vào tình trạng nhập siêu với 1,38 tỷ USD trong nửa cuối tháng 1/2026. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nhu cầu nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện từ khu vực FDI tăng mạnh. Do đó, dù cán cân thương mại tổng thể được cải thiện trong ngắn hạn nhờ xuất khẩu của khu vực FDI, rủi ro nhập siêu mang tính cơ cấu vẫn hiện hữu, khiến nền kinh tế trong nước chưa giữ lại được nhiều giá trị gia tăng.
Mười Hai Giờ Chiến Dịch Hút Máu Việt Kiều Dưới Danh Nghĩa An Ninh
Cong Pham / Chuyện Thiên Hạ
02/10/2026
Quy định buộc người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải khai báo tạm trú trong vòng mười hai giờ sau khi nhập cảnh, kèm theo mức phạt có thể lên đến hai mươi triệu đồng, đang cho thấy nhiều dấu hiệu của một nước cờ kinh tế được tính toán kỹ lưỡng. Nếu chỉ nhìn bề mặt, đây là một biện pháp quản lý hành chính nhằm bảo đảm an ninh trật tự. Nhưng khi đặt nó vào bối cảnh thực tế và cách thức thực thi, khó có thể không đặt câu hỏi liệu đây có phải là một hình thức tận thu ngoại tệ được khoác lên chiếc áo pháp lý hay không.
Điều đáng chú ý là quy định này gần như chỉ tạo ra áp lực đáng kể đối với Việt kiều, những người mang theo nguồn tài chính mạnh hơn mặt bằng chung trong nước. Nó không giống một biện pháp quản lý dân cư thông thường, mà giống một loại phí vô hình đánh vào cảm xúc gắn bó với quê hương, một thứ thuế dựa trên nỗi nhớ và sự cả tin.
Khi sự mệt mỏi bị biến thành mỏ vàng
Con số mười hai giờ không phải ngẫu nhiên. Sau một chuyến bay dài xuyên lục địa, cộng thêm lệch múi giờ và thủ tục nhập cảnh, phần lớn người trở về đều trong trạng thái kiệt sức và thiếu tỉnh táo. Đây chính là khoảng thời gian con người dễ sơ suất nhất. Gia đình chỉ cần chậm trễ hoặc không nắm rõ quy định, là ngay lập tức đối diện với một biên bản xử phạt có giá trị bằng cả tháng, thậm chí nhiều tháng thu nhập của người trong nước.
Cách làm này không khác gì tận thu trên sự sơ hở. Niềm vui đoàn tụ sau nhiều năm xa cách bị phủ bóng bởi nỗi lo bị theo dõi, bị kiểm tra, bị xử phạt bất cứ lúc nào. Từ chỗ về quê để nghỉ ngơi và hàn gắn tình thân, Việt kiều buộc phải sống trong tâm thế cảnh giác cao độ ngay từ những giờ đầu tiên đặt chân xuống sân bay.
Thông điệp ngầm gửi ra ngoài biên giới
Trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, không ít người tin rằng quy định này phản ánh một tư duy quản lý mang tính chọn lọc lợi ích. Nhà nước muốn dòng tiền, nhưng không thực sự muốn con người đi kèm với dòng tiền đó.
Việc hành chính hóa sự phiền hà bằng thủ tục gấp gáp và hình phạt nặng nề khiến nhiều người cảm thấy nản lòng. Thông điệp ngầm dường như rất rõ ràng: hãy gửi tiền về, nhưng đừng về quá nhiều. Sự hiện diện trực tiếp của Việt kiều bị xem là rắc rối hơn là nguồn lực.
Song song với đó, mỗi chủ hộ gia đình trong nước bị biến thành một cánh tay nối dài của bộ máy xử phạt. Vì sợ bị phạt, họ buộc phải giám sát người thân của chính mình, thúc ép đi khai báo ngay cả khi vừa đặt lưng xuống giường sau chuyến đi dài. Tình cảm gia đình, vốn là nền tảng thiêng liêng, bị kéo vào guồng máy pháp lý và vô tình trở thành công cụ tạo nguồn thu.
Về quê ăn Tết mà tâm thế chẳng khác nào người lẩn trốn, vừa rời sân bay đã phải tất tả chạy ra phường để tránh bị xử phạt. Cảm giác bị rình rập và đề phòng này để lại dư vị cay đắng, khiến nhiều người tự hỏi liệu lựa chọn an toàn nhất có phải là ở yên nơi xứ người và chỉ chuyển tiền về từ xa.
Nếu đúng như vậy, thì quy định mười hai giờ không chỉ là một biện pháp hành chính. Nó là một tín hiệu chính sách lạnh lùng, góp phần giữ chân Việt kiều ở lại hải ngoại, nơi họ tiếp tục lao động, tích lũy và gửi ngoại tệ về quê nhà, trong khi bản thân họ ngày càng xa rời mảnh đất mà họ từng coi là chốn quay về.
Kiến không ngủ
Tổng Bí thư: Đầu tư hạ tầng để TP HCM đi sân bay Long Thành chỉ 30 phút
Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, cần đầu tư hạ tầng đồng bộ để đi từ TP HCM xuống sân bay Long Thành, Thủ Dầu Một (Bình Dương cũ) còn 30 phút, thay vì hai tiếng như hiện nay.
Yêu cầu trên được Tổng Bí thư Tô Lâm nêu tại buổi thăm, chúc Tết Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP HCM sáng 9/2. Dự buổi gặp mặt có lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và TP HCM qua các thời kỳ, đại diện gia đình chính sách, người có công.
Phát biểu chúc Tết, Tổng Bí thư cho biết năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt với nhiều dấu mốc lịch sử quan trọng của đất nước và TP HCM, đồng thời là năm bản lề để bước vào giai đoạn phát triển mới. Điều này đòi hỏi thành phố phải có những chuyển động mạnh mẽ, thực chất và hiệu quả hơn, xứng đáng vai trò đầu tàu, đi trước - làm mẫu.
Dành nhiều thời gian phân tích các điểm nghẽn kéo dài, Tổng Bí thư nhấn mạnh ùn tắc giao thông là vấn đề nghiêm trọng nhất và cần sớm giải quyết. Theo ông, dù TP HCM có nhiều lợi thế, song tình trạng kẹt xe khiến hàng hóa khó lưu thông, du khách e ngại, làm suy giảm sức cạnh tranh của đô thị.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi thăm, chúc Tết Đảng bộ, chính quyền, nhân dân TP HCM, sáng 9/2. Ảnh: An Phương
Tổng Bí thư yêu cầu TP HCM rà soát, hoàn thiện quy hoạch giao thông theo hướng kết nối đồng bộ các cửa ngõ và liên vùng, đặc biệt là các trục đi miền Tây, phía Bắc và hướng Đông.
Bên cạnh đó, thành phố cần hoàn thiện quy hoạch giao thông gắn với ba cực tăng trưởng, trong đó ưu tiên cải thiện kết nối khu vực Bình Dương cũ với trung tâm TP HCM. "Phải tính toán sao cho từ Thủ Dầu Một về trung tâm TP HCM không quá 30 phút. Giải quyết được việc này rất quan trọng", Tổng Bí thư nói.
Nhắc tới kết nối sân bay Long Thành, người đứng đầu Đảng nhấn mạnh thời gian di chuyển từ TP HCM không thể kéo dài hai tiếng như hiện nay mà cần rút xuống khoảng 30 phút. "Xây sân bay là rất quan trọng nhưng kết cấu hạ tầng giao thông phải đi trước một bước", ông nói.
Kết nối giữa TP HCM và sân bay Long Thành hiện chủ yếu dựa vào đường bộ, trong đó trục chính là cao tốc TP HCM - Long Thành - Dầu Giây, thường xuyên quá tải. Quãng đường từ trung tâm TP HCM đến sân bay dài khoảng 40 km, trong khi các tuyến cao tốc mở rộng, metro kết nối chưa hoàn thiện. Một số tuyến như Vành đai 3, Quốc lộ 51, tỉnh lộ 25B, 25C đang được xây dựng, nâng cấp nhưng chưa đồng bộ, khiến nguy cơ ùn tắc vẫn hiện hữu khi sân bay đi vào khai thác.
Ngoài giao thông, Tổng Bí thư yêu cầu TP HCM phát triển đô thị thông minh, nâng cao chất lượng sống cho người dân. Theo ông, thành phố muốn hạn chế xe máy thì phải phát triển hệ thống giao thông công cộng nhanh, đúng giờ, thuận tiện. Khi đó, người dân sẽ tự bỏ xe máy, không cần biện pháp cấm đoán. "Nếu không tập trung giải quyết, vài năm nữa thành phố sẽ tiếp tục tắc nghẽn", Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Tổng Bí thư Tô Lâm chúc Tết gia đình chính sách, có công ở TP HCM, sáng 9/2. Ảnh: Lê Tuyết
Tại buổi làm việc, Tổng Bí thư cũng lưu ý TP HCM trong việc lựa chọn nhà đầu tư khi lựa chọn nhà đầu tư các dự án hạ tầng, dự án trọng điểm, bởi đây là khâu quyết định chất lượng phát triển đô thị và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Theo Tổng Bí thư, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư không chỉ dừng ở "rẻ nhất, nhanh nhất" theo nghĩa đơn thuần. Giá thành thấp và tiến độ nhanh chỉ có ý nghĩa khi đặt trong khuôn khổ quy hoạch và tiêu chuẩn chất lượng. Nhà đầu tư phải chứng minh đầy đủ năng lực tài chính thực chất, năng lực tổ chức triển khai và khả năng thực hiện dự án theo đúng quy hoạch được duyệt.
"Trường hợp chỉ là 'cò', đóng vai trò trung gian, xin dự án rồi bán lại, không có năng lực thực tế thì phải kiên quyết loại bỏ", Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Đối với các dự án đô thị, ông yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng, không thể chỉ xây nhà để bán mà thiếu trường học, cơ sở y tế, công viên, cây xanh, bãi đỗ xe và hệ thống chống ngập, gây quá tải và bất ổn cho đời sống người dân.
Về đầu tư công, Tổng Bí thư lưu ý cần thay đổi tư duy từ "chạy theo giải ngân" sang đánh giá hiệu quả đồng vốn. Mỗi dự án, dù quy mô 1.000 hay 10.000 tỷ đồng, đều phải tính toán rõ thời gian thu hồi vốn, mức đóng góp cho tăng trưởng GDP và cải thiện đời sống người dân. Các dự án kéo dài nhiều năm, lỗ vốn, không phát huy hiệu quả là biểu hiện của lãng phí, cần được kiểm soát chặt chẽ.
Lê Tuyết
Không có nhận xét nào