Đài Loan: Tấm gương về Dân Chủ qua sức mạnh Kỳ 2
Nguồn gốc và sự Lưu vong của QDĐ
Tài liệu nghiên cứu đặc biệt
2024
Gồm 4 kỳ
Đọc lại kỳ 1:
Đài Loan: Tấm gương về Dân Chủ qua sức mạnh Kỳ 1
https://www.baoquocdan.org/2026/03/ai-loan-tam-guong-ve-dan-chu-qua-suc.html
Trước đầu thế kỷ thứ hai mươi, Trung Quốc đã bị các chế độ triều đại kế tiếp nhau cai trị, triều đại cuối là triều đại nhà Thanh. Các phong trào chống-Thanh nổi lên trong cuối thế kỷ thứ mười chín, lên đỉnh điểm trong sự thoái vị của hoàng đế trong 1912 và sự kết thúc của triều đại cuối cùng; thế chỗ nó, các lực lượng cộng hòa Trung quốc thành lập một chính phủ lâm thời.
QDĐ, mà chính thức được thành lập trong năm 1912, có nguồn gốc của nó trong các phong trào chống-Thanh và sớm nắm quyền kiểm soát. Tuy nhiên QDĐ ban đầu đã không phải là một đảng chính trị mạnh, ngay cả sau khi nó thành lập chính phủ trong năm 1928. Ngay sau sự sụp đổ của nhà Thanh, Trung Quốc đã không thống nhất, và QDĐ đã phải đánh vài trận chiến với những lãnh chúa vùng trong một cố gắng thất bại để củng cố nhà nước-quốc gia Trung quốc. QDĐ đã không có được sự ủng hộ rộng rãi và nội bộ đảng thối nát và đầy các xung đột bè phái. Như một kết quả, bất chấp thiện ý chống-Thanh của nó và lời xác nhận của nó để là nhà cai trị có tính chính danh của Trung Hoa Dân Quốc (Cộng hòa Trung Hoa-ROC) mới sinh, nó đã không có khả năng để thống nhất và mang lại sự ổn định cho Trung Quốc hiện đại.
Sự bất lực của QDĐ để quản trị Trung Quốc đã mở cửa cho sự lên của Đảng Cộng sản Trung quốc (ĐCSTQ), do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Được thành lập ở Thượng Hải trong 1921, ĐCSTQ đã huy động sự ủng hộ ở nông thôn, tập hợp các nông dân xung quanh tầm nhìn về chủ nghĩa xã hội nông nghiệp và một Trung Quốc kiên cường, dân tộc chủ nghĩa có thể đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc nước ngoài. Những người cộng sản Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo có sức thuyết phục của Mao, đã chống lại chủ nghĩa đế quốc Nhật bản trong các năm 1930. Quân đội nông dân của Mao cũng đã chiến đấu một cuộc nội chiến với QDĐ để xác định đảng tiên phong nào sẽ cai trị Trung Quốc.
QDĐ, dưới sự lãnh đạo của Thống chế Tưởng Giới Thạch, cuối cùng đã bị những người cộng sản đánh bại và buộc phải chạy trốn khỏi Trung Hoa đại lục trong cuối các năm 1940, chính phủ ROC thiết lập lại và rút lui về Đài Loan, một hòn đảo cách bờ biển phía đông của đại lục mà, từ 1895 đến 1945, đã dưới sự cai trị thuộc địa Nhật bản. QDĐ, mặc dù được công nhận chính thức như chính phủ hợp pháp của ROC, hay “Trung Quốc tự do,” về cơ bản đã là một đảng suy nhược vào lúc nó đến Đài Loan, nội bộ thối nát và suy tàn về thể chế, với không liên kết nào với xã hội Đài Loan địa phương. Tưởng đã vẫn là lãnh tụ của QDĐ và tổng thống của chính phủ ROC lưu vong.
Mặc dù QDĐ bị đánh bại và buộc phải rút lui sang Đài Loan, Tưởng đã không có ý định cho QDĐ để đóng vĩnh viễn ở đó. Ông cũng đã chẳng đoán trước QDĐ sẽ vẫn yếu lâu. Ông đã có những tham vọng lớn để tiếp sinh lực lại và xây dựng lại đảng ở Đài Loan. Sự đày ải của nó sang hòn đảo chỉ là tạm thời, và một khi QDĐ đã trẻ hóa lại mình, Tưởng lập luận, đảng sẽ lấy lại Trung Quốc từ ĐCSTQ phục hồi chính phủ ROC trên đại lục.
Sự rút lui của QDĐ sang Đài Loan đã không trơn tru. Thứ nhất, Đài Loan đã dưới sự cai trị thực dân Nhật bản kể từ 1895, khi Trung Quốc nhượng hòn đảo sau sự thất bại của nó trong Chiến tranh Trung-Nhật. Đài Loan đã không được quản trị bởi bất kể nhà chức trách Trung quốc nào kể từ sự kết thúc của thế kỷ thứ mười chín. Khi QDĐ đến trong cuối các năm 1940, vì thế, người Đài Loan địa phương đã không đặc biệt hoan nghênh cái một số người thấy là một chế độ thuộc địa nữa. QDĐ đã làm cho vấn đề tồi tệ hơn khi, và 27 tháng Hai 1947, các binh lính cộng hòa đã đánh đập dã man một phụ nữ Đài loan, mà đến lượt đã châm ngòi các cuộc bạo loạn lớn [hôm sau], đánh dấu ngày đó như “Sự cố 228” khét tiếng. Các hệ quả của Sự cố 228 đã không tầm thường cho sự phát triển chính trị của Đài Loan. Một bản sắc “Đài loan” mới sinh bắt đầu hình thành: một bản sắc (căn tính) sắc tộc, và cuối cùng chính trị, phân biệt đa số người Đài loan địa phương với thiểu số người đại lục đến với chế độ QDĐ lưu vong.
Một thứ có lợi cho Quốc Dân Đảng, tuy vậy, là QDĐ được cộng đồng quốc tế công nhận như chính phủ hợp pháp của ROC, trên danh nghĩa gồm cả toàn bộ đại lục. Những người cộng sản, trong khi đó, bị xa lánh về mặt quốc tế và bị hầu hết các nước trên thế giới coi như một chế độ phản bội. Logic sau chiến tranh của chính sách ngăn chặn cộng sản đã có lợi cho QDĐ, cũng nhiều như có lợi cho các đảng cầm quyền ở Nhật Bản và Hàn Quốc, bằng việc tìm được Hoa Kỳ như siêu cường bảo trợ của nó. Như chúng ta sẽ thấy, địa chính trị đã đóng một vai trò quan trọng trong sự tiến hóa của QDĐ.
Củng cố QDĐ
Việc củng cố quyền lực của QDĐ ở Đài Loan, để nói ít nhất, đã không phải là nhiệm vụ dễ, đòi hỏi đảng bị yếu để củng cố bản thân mình bên trong và bên ngoài trong các quan hệ của nó với người Đài loan địa phương. Nhiều nhà lãnh đạo bị khai trừ khỏi cơ quan nội bộ cao nhất của đảng, Ban Thường vụ Trung ương, kể cả vài người trong giới thân cận của Tưởng trong khi ở Trung Quốc. Trong tháng Năm 1949 Tưởng tập hợp mười quan chức QDĐ cấp cao, tất cả đều trung thành với ông, để bắt đầu phác họa các cải cách nội bộ của đảng. Muộn hơn trong năm đó, ủy ban lãnh đạo đã phác họa các nguyên tắc hướng dẫn cho sự tổ chức lại QDĐ. Cái không thay đổi, tuy vậy, là sự kỳ vọng tường minh rằng QDĐ sẽ vẫn là quyền lực chính trị tối cao duy nhất ở Đài Loan, và rằng quyền lực phải được thực hành qua đảng theo cách độc đoán. QDĐ đã không sắp dân chủ hóa hay dẫn đầu một quá trình tự do hóa chính trị ở Đài Loan; có thể, chiến dịch tổ chức lại đã có ý định để tăng cường QDĐ độc đoán.
Chiến dịch xây dựng lại Đảng bắt đầu trong 1950 và được Ban (tái) Tổ chức Trung ương giám sát. Ủy ban đã gồm những người trung thành do Tưởng chọn, tất cả đều có xuất xứ đại lục. Chiến dịch đã có vài mục tiêu. Quan trọng nhất, QDĐ ở Đài Loan ngay lập tức bắt đầu tập trung hóa quyền lực bên trong đảng. Tưởng cảm thấy đảng đã bị làm yếu từ nội bộ trong nội chiến, cho phép tham nhũng và chủ nghĩa bảo trợ lan tràn khắp và cuối cùng làm xói mòn khả năng cai trị của đảng.2 Chiến dịch đã nhắm để loại bỏ chủ nghĩa bè phái bên trong đảng, một nguồn được cảm nhận khác của sự yếu kém của đảng và một nguyên nhân hàng đầu của việc QDĐ thua những người cộng sản.
Một mục tiêu khác của ủy ban là để tạo ra các cơ chế thể chế mới nhúng đảng vào bên trong xã hội. Sau khi suy ngẫm, QDĐ thừa nhận ĐCSTQ đã làm công việc tốt hơn để giành được sự ủng hộ cấp cơ sở giữa giai cấp nông dân Trung quốc, tỏ ra có tính quyết định trong việc huy động những người cộng sản chống lại QDĐ. Tưởng và ban lãnh đạo QDĐ lập luận rằng nếu QDĐ muốn quản trị hữu hiệu và tạo ra sự ủng hộ dân chúng ở Đài Loan—và cuối cùng ở Trung Quốc—đảng cần các cơ chế cho phép nó thực hiện quyền lực từ trên xuống trong khi tạo ra sự phản hồi từ dưới lên cho đảng.
Nó hoàn thành việc này bằng nhiều cách. Thứ nhất, QDĐ thấm vào tất cả các định chế chính quyền qua các mạng lưới chi bộ đảng, các nhóm nhỏ gồm các đảng viên trung thành. Vào lúc kết thúc chiến dịch tổ chức lại trong 1952, hơn 2.700 cán bộ đảng được tổ chức thành gần 300 chi bộ đảng trong các nhánh chính phủ trung ương khác nhau. Văn phòng Tổng thống và nhánh hành pháp đã có gần 1.500 cán bộ đảng hoạt động trong 155 chi bộ. Các chính trị gia QDĐ trong nhánh lập pháp cũng được tổ chức tương tự thành các chi bộ đảng. Các cơ quan hành chính nhà nước, như Viện Hành pháp (nội các) và Viện Tư pháp, được “các nhóm nhỏ” chính trị thâm nhập, chịu trách nhiệm với Ban (tái) Tổ chức Trung ương của đảng. Vào lúc kết thúc chiến dịch tổ chức lại, tỷ lệ của các đảng viên trên thành viên trong bộ máy chính phủ trung ương đã là 5 trên 1. Hơn một phần ba quan chức chính quyền địa phương cũng đã là các đảng viên.
Thứ hai, đảng cầm quyền đã thiết lập sự kiểm soát chặt của nó đối với quân đội. Trong tháng Tư 1950 Tưởng Giới Thạch đã chỉ định con trai ông, Tưởng Kinh Quốc, đứng đầu Tổng cục Chính trị trong quân đội. Tưởng trẻ đã tái lập hệ thống chính ủy bị bãi bỏ trong các năm 1920 khi QDĐ vẫn ở đại lục. Qua hệ thống chính ủy, đảng đã thiết lập các chi bộ bên trong đội ngũ quân đội và áp đặt kỷ luật đảng nghiêm ngặt giữa các binh lính, cụ thể qua các chương trình giáo dục chính trị. Những người bị nghi là cộng sản cũng bị xử lý, hoặc bị thanh trừng hay bị bỏ tù. Hệ thống chính ủy được dùng như “những chiếc tai và những con mắt của đảng trong quân đội.” Trong 1952 khoảng 145.000 đảng viên được tuyển vào quân đội và các nhánh an ninh của chính phủ. Con số này đã tăng nhanh trong hai năm tiếp theo khi 95.000 đảng viên mới được quân đội tuyển mộ. Vào 1954 hơn một phần ba lực lượng vũ trang đã là các đảng viên QDĐ.3
Thứ ba, QDĐ bắt đầu xây dựng cơ sở dân chúng của nó bên trong xã hội Đài loan, giải phóng sự vận động đảng viên quần chúng. Các đảng viên dân sự của QDĐ trong 1950 đã chỉ hơn 80.000; và hai năm sau, nó đã tăng hơn gấp đôi lên khoảng 170.000. Hầu như một nửa đảng viên mới trong 1952 đã là nông dân và công nhân, và không từ tầng lớp chuyên nghiệp hay trung lưu, phản ánh chiến lược cố ý mở rộng cơ sở ủng hộ của nó. Các đảng viên mới cũng đã trẻ hơn nhiều, và một số bất cân đối của họ đã sinh ra ở Đài Loan, một dấu hiệu sớm về chiến lược của QDĐ để địa phương hóa “Đài Loan hóa” đảng.
Vào lúc bắt đầu chiến dịch tái tổ chức đảng, tỷ lệ đảng viên trên dân số khoảng một trên một trăm, hay chỉ 1 phần trăm; vào 1952, hai năm sau tỷ lệ này tăng lên 3,5 phần trăm; và 5 năm sau, QDĐ khoe khoang hơn nửa triệu đảng viên, hay 5,3 phần trăm dân số. Các đảng viên dân sự được tổ chức thành 30.000 chi bộ nơi làm việc và nơi cư trú, cho đảng độc đoán một sự hiện diện ở cả các làng nông thôn và các trung tâm đô thị. Các chi bộ và các chi nhánh QDĐ cũng đã phát triển nhanh khắp các định chế khu vực-công, từ các trường công đến các cơ quan chính quyền. Mặc dù lúc đó QDĐ đã không tin nó sẽ cai trị Đài Loan trong thời gian dài—mục tiêu, rốt cuộc, cho đảng là đắc thắng trở về Trung Quốc—nó đã thành công tổ chức lại, về nội bộ và trong quan hệ với xã hội địa phương, mà đã thiết lập nền tảng vững chắc cho sự phát triển phi thường của Đài Loan.4
Nhà nước kiến tạo-phát triển và QDĐ
Sự tổ chức dọc của bộ máy nhà nước kiến tạo-phát triển phản ánh sự tổ chức độc đoán của QDĐ. Các bộ hành chính bên trong nhà nước, kể cả những bộ hùng mạnh giám sát nền kinh tế, ngoại giao, và tài chính của Đài Loan, được gộp vào dưới và bị chỉ huy bởi Hội đồng Kế hoach hóa Kinh tế và Phát triển, mà đến lượt do các quan chức QDĐ cấp cao đứng đầu. Quyền lực hành chính và chính trị được tập trung vào hội đồng, hay cái Chalmers Johnson gọi là một tổ chức “hoa tiêu,” được giao nhiệm vụ hướng dẫn và định hình các chính sách công, kể cả các chính kinh tế của Đài Loan.5
Nhà nước kiến tạo-phát triển, bất chấp được tập trung, đã không tham nhũng tràn lan, không giống nhà nước QDĐ ở Trung Quốc. Mặc dù bị các đảng viên QDĐ và ban lãnh đạo đảng thâm nhập hoàn toàn, bộ máy quan liêu nhà nước được tổ chức theo đường lối trọng dụng nhân tài hơn là các sự kiên kết người đỡ đầu-người được bảo trợ (patron-client). Các nhà kỹ trị tạo thành nhân viên của các bộ, chẳng hạn, được chọn từ các đại học hàng đầu của Đài Loan và qua một kỳ thi công chức hết sức cạnh tranh. Các nhà quan liêu kiến tạo-phát triển có khuynh hướng được đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật, chiếm ưu thế về kỹ nghệ. Nói cách khác, bộ máy nhà nước của Đài Loan đã tinh gọn, hiệu quả, và có các nhân viên giỏi nhất và thông minh nhất. Noi theo tấm gương kinh nghiệm Nhật bản, nhà nước kiến tạo-phát triển ở Đài Loan được giao nhiệm vụ lãnh đạo công nghiệp hóa và sự phát triển kinh tế của Đài Loan từ trên xuống.6
Đài Loan bắt đầu tăng tốc sự tăng trưởng công nghiệp của nó trong các năm 1950, qua một nền tảng kinh tế vững chắc được đặt trước đó với các cải cách đất đai và nông nghiệp mạnh mẽ. Trong cuối các năm 1940, khi QDĐ đầu tiên đến Đài Loan, hơn một nửa dân số Đài loan là nông dân, và tuyệt đại đa số đã là các tá điền canh tác trên đất của các địa chủ, một di sản của sự thuộc địa hóa Đài Loan sớm hơn của Nhật Bản. QDĐ, với sự giúp đỡ của các cố vấn Mỹ, đã bắt đầu một chiến dịch cải cách đất đai chu đáo bắt đầu trong 1949. Phần đầu tiên của chiến dịch đã tập trung vào việc giảm tô cho các tá điền cũng như việc nhà nước chiếm đoạt đất hoàn toàn. Trong đầu các năm 1950, đất được chiếm đoạt từ các địa chủ được bán hay chuyển giao trực tiếp cho các nông dân không có ruộng. Trong cố gắng đất-cho-dân cày bắt đầu trong 1953, đất được chuyển giao từ các địa chủ cho các dân cày, đến mức vào các năm 1960 hầu hết đất có thể canh tác của Đài Loan được các hộ gia đình cá thể sở hữu.
Bằng việc canh tác đất của riêng họ, các nông dân đã không chỉ tăng năng suất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực cho những người sống ở nông thôn mà cũng đã tạo ra thu hoạch dư thừa, như gạo, được bán trong nước và muộn hơn được xuất khẩu ra các thị trường nước ngoài. Thu nhập ngoại thương ban đầu của Đài Loan đã chủ yếu là từ hàng xuất khẩu nông nghiệp, mà đến lượt được đầu tư vào việc khởi động công nghiệp hóa của Đài Loan. Về khía cạnh này, cải cách đất đai đã kích Đài Loan cho sự cất cánh công nghiệp của nó.7
Thật quan trọng, cải cách đất đai sớm ở Đài Loan đã tổ chức lại nông thôn về mặt chính trị sao cho các elite sở hữu đất lớn sẽ không trở thành một rào cản của dân chủ hóa muộn hơn, mà chúng ta biết đã cản trở sự chuyển đổi dân chủ trong các vùng khác, nhất là ở châu Mỹ Latin. Vào thời dân chủ hóa bắt đầu trong cuối các năm 1980, nông thôn Đài loan được cai trị bởi các chính trị gia QDĐ nuôi dưỡng các cơ sở ủng hộ địa phương, và không phải các elite nhiều đất giữ giai cấp nông dân trong sự kìm kẹp cưỡng bức của họ.
Trong các năm 1950, các hãng công nghiệp Đài Loan địa phương bước vào các khu vực chế tạo công nghiệp nhẹ thâm dụng-lao động. Các hãng này, như được chờ đợi, đã không có tính cạnh tranh trong các khu vực công nghiệp tinh vi hơn về mặt kỹ thuật. Cái chúng có, tuy vậy, đã là sự tiếp cận đến lao động dư dả và rẻ, như trong nhiều nền kinh tế đang phát triển. Nhà nước kiến tạo-phát triển QDĐ đã hiệu quả trong việc hướng dẫn sự phát triển kinh tế từ trên xuống bằng việc nuôi dưỡng sự tăng trưởng của các doanh nghệp mới. Chính phủ Đài loan cung cấp sự ổn định kinh tế vĩ mô qua các cơ chế như các chính sách quản lý tỷ giá hối đoái và định giá nhập khẩu cố định, cùng với một loạt quy định kiểm tra đối với khu vực tài chính để cung cấp các khoản vay và các khuyến khích thuế cho các ngành và các hãng tăng trưởng.
QDĐ cũng đã đặt ưu tiên để ngăn chặn loại lạm phát phi mã mà đã trải qua ở Trung Hoa đại lục và đã góp phần cho suy sụp của đảng ở đó. Nhà nước kiến tạo-phát triển QDĐ đã theo đuổi chính sách tiền tệ bảo thủ để giảm nhẹ các áp lực lạm phát lên giá tiêu dùng và đầu vào công nghiệp. Vốn đầu tư, như các khoản vay và tín dụng công nghiệp, được khu vực tài chính và ngân hàng do nhà nước kiểm soát quản lý một cách chiến lược. Ngay cả thị trường cho vay thứ cấp phi chính thức—cái gọi là thị trường lề đường—đã bị nhà nước giám sát chặt chẽ.
Các ngành công nghiệp sau chiến tranh của Đài Loan đã là độc đáo giữa các nhà nước kiến tạo-phát triển Á châu ở chỗ hầu hết các hãng công nghiệp là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Còn các hãng khổng lồ ở Hàn Quốc và Nhật Bản—các chaebol ở nước trước, và zaibatsu ở nước sau—được quản lý tài sản bởi các ngân hàng cấp tín dụng hào phóng ưu tiên các hãng lớn và tiết kiệm do quy mô, ở Đài Loan, chính phủ chọn một chiến lược đầu tư thay thế tận dụng các khuyến khích tài khóa (tức là, dựa vào thuế) để gieo hạt giống và nuôi dưỡng các hãng nhỏ và lanh lợi. Chiến lược tăng trưởng SME của QDĐ phản ánh những di sản của chế độ thuộc địa Nhật bản tại Đài Loan, và đặc biệt sự phát triển của các hãng nông thôn, quy mô-nhỏ. Từ một lập trường ý thức hệ, sự tăng nhanh của các SME cũng phản ánh “định kiến chống-tư bản chủ nghĩa lớn” lâu đời của QDĐ.8 Về mặt chính trị, chiến lược SME đã làm lợi cho QDĐ bằng việc cản trở sự tập trung sự giàu có kinh tế trong các khu vực công nghiệp, mà chế độ sợ có thể trở thành một nguồn của sức mạnh đối lập.
Chiến lược SME cũng có ý nghĩa kinh tế cho công nghiệp hóa của Đài Loan. Các hãng nhỏ và lanh lợi được gắn vào các chuỗi cung toàn cầu, mà chính phủ khuyến khích bằng việc thu hút một cách chiến lược sự đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những khu vực công nghiệp được nhắm mục tiêu. Nhà nước đặc biệt chú ý đến những ngành chế tác thâm dụng-lao động. Nó đã thực hiện các chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, nâng các thuế quan nhập khẩu trong các khu vực cạnh tranh để bảo vệ các ngành và các hãng non trẻ của Đài Loan. Theo thời gian, khi các hãng địa phương trưởng thành trở thành các nhà cung cấp và các nhà lắp ráp có tính cạnh tranh về các sản phẩm chế tác, các SME địa phương được khuyến khích, lại lần nữa với các khuyến khích tài khóa, để cạnh tranh trên các thị trường toàn cầu.
Sự chuyển sang công nghiệp hóa định hướng-xuất khẩu đã tăng tốc trong các năm 1960. Vào cuối các năm 1950, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm của Đài Loan đã chỉ dưới 3 phần trăm; sau 1960, sự tăng trưởng xuất khẩu đã tăng lên 25 phần trăm mỗi năm. Suốt các năm 1960, xuất khẩu đã tăng giữa 33 và 55 phần trăm hàng năm, và Đài Loan đã trở thành một nền kinh tế thương mại lớn trong các thị trường toàn cầu.
Đầu các năm 1970 là một điểm ngoặt quan trọng khác trong phép màu kinh tế Đài loan. Đến thời điểm đó, các công ty công nghiệp Đài loan đã chủ yếu là các hãng chế tạo công nghiệp nhẹ, thâm dụng-lao động. Các nhà lập kế hoạch kinh tế của QDĐ cảm thấy Đài Loan cần đa dạng hóa cơ sở công nghiệp của nó và tập trung vào các ngành và các hãng tăng giá trị-gia-tăng-cao hơn, nhất là trong khu vực điện tử. Nếu Đài Loan muốn tiếp tục nâng cấp lực lượng lao động của nó và vẫn có tính cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu, các hãng của nó phải leo lên chuỗi giá trị toàn cầu.
Để tạo thuận lợi cho việc này, nhà nước kiến tạo-phát triển đề xuất một kế hoạch để nuôi dưỡng “Mười Dự án Lớn” bắt đầu trong đầu các năm 1970, một chiến dịch đầu tư cơ sở hạ tầng lớn do chính phủ-lãnh đạo. Mười Dự án Lớn—mà đã gồm các sáng kiến cơ sở hạ tầng trong sản xuất năng lượng, các cảng và đường sắt, sản xuất thép, và sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp nặng khác—được dự định để tăng cường tính cạnh tranh xuất khẩu của Đài Loan và để ủng hộ sự tăng trưởng của các khu vực công nghiệp thâm dụng-vốn, trong một sự cố ý di chuyển khỏi sự dựa sớm hơn của Đài Loan vào các ngành chế tác công nghiệp nhẹ, thâm dụng-lao động, có kỹ năng-thấp hơn.
Kế hoạch Mười Dự án Lớn đã suýt nữa bị trượt đường ray, tuy vậy, trong tháng Mười Một 1973 khi khủng hoảng năng lượng OPEC (Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ) đã đẩy giá dầu nhập khẩu lên bốn lần. Ngay lập tức nền kinh tế Đài Loan đã bị sốc vào đình lạm. Chỉ số giá tiêu dùng đã tăng từ 8 phần trăm lên gần 50 phần trăm giữa 1973 và 1974, và chỉ số giá bán buôn gần gấp đôi từ 23 phần trăm lên 41 phần trăm. Sự tăng trưởng kinh tế đình trệ và đã chậm lại chỉ còn 1 phần trăm trong 1974, và lần đầu tiên trong một thời gian dài, Đài Loan đã trải nghiệm một sự thâm hụt thương mại.
Phản ứng lại, chính phủ đã thực hiện một chương trình tiền tệ khắt khe. Cách tiếp cận chính sách tiền tệ bảo thủ đã ổn định nền kinh tế và hấp thụ các áp lực lạm phát do giá tăng vọt gây ra. Chắc chắn, sự đau điều chỉnh đã buốt, nhưng cuối cùng đã ngắn, và nền kinh tế mau chóng trở lại đúng hướng.9
Ngay sau khủng hoảng OPEC, chính phủ đã lại tiến về phía trước với Mười Dự án Lớn. Nhà nước đã tăng gấp đôi sự phát triển các khu vực không-thâm dụng-năng lượng mà cuối cùng trở thành nền tảng cho Đài Loan để quay sang các khu vực công nghiệp high-tech (công nghệ cao), mà đã tận dụng các năng lực khoa học và công nghệ đang phát triển nhanh của Đài Loan. Nhà nước kiến tạo-phát triển do QDĐ-lãnh đạo đã là quan trọng trong việc gieo hạt giống và nuôi dưỡng sự tăng trưởng của các ngành thâm dụng-công nghệ-cao của Đài Loan. Trong 1973 chính phủ đã thành lập Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp (ITRI) ở Hsinchu, ngay bên ngoài Đài Bắc, mà ngày nay vẫn là trung tâm thương mại hóa khoa học và công nghệ đứng đầu của Đài Loan. Trung tâm nghiên cứu và triển khai (R&D) được nhà nước-tài trợ đã nhấn mạnh nghiên cứu ứng dụng (R) và sự triển khai thương mại (D), với một tiêu điểm ban đầu vào khu vực điện tử. Cuối cùng ITRI đã tập trung các hoạt động R&D và thương mại hóa của nó vào công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) tinh vi hơn.
Ví dụ hay nhất về nhà nước kiến tạo-phát triển của Đài Loan đã lái thế nào các ngành của nó tới khu vực ICT là sự tăng trưởng của năng lực sản xuất của nó về bán dẫn và các mạch tích hợp. Trong đầu các năm 1980, ITRI là cốt yếu trong việc tạo ra Công ty Chế tác Bán dẫn Đài Loan (TSMC), khai phá mô hình kinh doanh chỉ gia công thuần túy [cho các hãng có thiết kế sẵn] (pure-play foundry model) trong chế tác bán dẫn và sản xuất-chip. Với mô hình sản xuất sáng tạo, TSMC đã trở thành nhà dẫn đầu công nghiệp và thị trường toàn cầu về sản xuất bán dẫn và mạch tích hợp, một phần cốt yếu và béo bở của chuỗi giá trị công nghệ cao ICT toàn cầu. Sự tạo ra và thành công của TSMC là kết quả của việc licensing công nghệ được tài trợ công (công nghệ gốc được cấp phép cho ITRI là từ một nhà sản xuất chip Mỹ) ở thượng nguồn, và đầu tư chính phủ trực tiếp vào việc tạo ra hãng hạ lưu (downstream).
TSMC đã không phải là ví dụ duy nhất về nhà nước kiến tạo-phát triển của Đài Loan đã giảm nhẹ các rủi ro của công nghiệp high-tech như thế nào bằng việc nâng cấp và chọn và tạo ra những kẻ thắng công nghiệp. Những thành đạt công nghiệp high-tech cho các hãng Đài loan, trong các khu vực như quang tử, chế tác phần cứng máy tính, và thậm chí các dụng cụ y tế, đã theo một chiến lược nâng cấp tương tự, mà đối với chúng nhà nước kiến tạo-phát triển đã dẫn đường.10
Còn tiếp kỳ 3
Không có nhận xét nào