Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Cuộc triệt thoái Cao nguyên trên tỉnh lộ 7B
Một nến hương cho những người nằm xuống
Ngày 16-3-1975: Quân Đoàn 2 Triệt Thoái Khỏi Cao Nguyên
Vương Hồng Anh
Tháng 3 năm 2026
VB trân trọng giới thiệu loạt bài tổng hợp về một số sự kiện quan trọng xảy ra từ ngày 10/3/1975 đến cuối tháng 4/1975. Loạt bài này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: hồi ký của cựu Đại tướng Cao Văn Viên do Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ phổ biến; hồi ký của cựu Trung tướng Trần Văn Đôn, Tổng trưởng Quốc phòng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa; hồi ký của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, một số bài viết của các nhân chứng, từng giữ các chức vụ trọng yếu trong Chính phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và tài liệu riêng của Việt Báo.
* Ngày 16/3/1975: Chuẩn tướng Phạm Duy Tất tổng chỉ huy cuộc triệt thoái của Quân đoàn 2 khỏi Cao nguyên.
Ngày 16/3/1975, thi hành quân lệnh của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã ban ra tại cuộc họp lịch sử ở Cam Ranh ngày 14-3-1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2/Quân khu 2, đã cho lệnh triệt thoái toàn bộ lực lượng Quân đoàn 2 khỏi 2 tỉnh Pleiku và Kontum của Cao nguyên Trung phần.
Theo phân nhiệm của Thiếu tướng Phạm Văn Phú, tân Chuẩn tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 2, được ủy nhiệm tổng chỉ huy toàn bộ các đơn vị triệt thoái.
(Trước đó, vào sáng ngày 15 tháng 3, Thiếu tướng Phú cùng với một số sĩ quan trong Bộ Tư lệnh bay về Nha Trang để tái tổ chức lại Bộ tư lệnh Quân đoàn 2/Quân khu 2 ở đây. Cũng trong ngày này, Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Phụ tá Hành quân Tư lệnh Quân đoàn 2 và vài sĩ quan thân cận bay đi Tuy Hòa để chuẩn bị đón đoàn quân triệt thoái từ Pleiku và Kontum về) .
Theo lịch trình triệt thoái khỏi Cao nguyên, ngày 16 tháng 3/1975, một số đơn vị tiếp vận, Pháo binh,Công binh của Quân đoàn 2 di chuyển trên 200 quân xa, với sự yểmtrợ của một đơn vị Thiết Giáp, đã khởi hành ra khỏi thị xãPleiku, đây là lực lượng đi đầu của của đoàn quân triệt thoái.
Sau thành phần đi đầu, lịch triệt thoái của các ngày kế tiếp như sau: vào ngày 17-3. các đơn vị Công binh, Pháo binh còn lại cùng Quân y với trên 250 xe sẽ di chuyển vào ngày 17/3/1975 và cũng do Thiết giáp tháp tùng bảo vệ. Ngày 18/3/1975: Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, đơn vị Quân cảnh, một phần của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, cùng khoảng 200 quân nhân của Trung đoàn 44 Bộ binh triệt thoái, và cũng được Thiết giáp đi theo bảo vệ. Ngày 19/3/1975: lực lượng đoạn hậu gồm có Biệt động quân và đơn vị thiết giáp cuối cùng.
Theo lộ trình, đoàn quân sẽ từ Pleiku di chuyển về phía Nam củaQuốc lộ 14 để đến giao điểm QL 14 và Liên tỉnh lộ 7 cách thị xãPleiku khoảng 33 km đường chim bay về phía Nam, từ giao lộ này đoàn quân sẽ tiếp tục di chuyển dọc theo liên tỉnh lộ 7 B vềhướng Đông Nam, xuyên qua tỉnh lỵ Phú Bổn để về Tuy Hòa.
* Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên phân tích về liên tỉnh lộ 7B và cuộc rút quân của Quân đoàn 2.
Trong phần trình bày về cuộc họp tại Cam Ranh, VB đã lược trình về quyết định của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu ra quân lệnh cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú triệt thoái Quân đoàn 2 khỏi Cao nguyên. Sau đây là những ghi nhận chi tiết về quân lệnh này.
Tại cuộc họp Cam Ranh, khi nghe Thiếu tướng Phú chọn Liên tỉnh lộ 7B làm trục lộ rút quân, Đại tướng Cao Văn Viên không đồng ý, vị Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH cho rằng đưa một quân đoàn di chuyển trên một đoạn đường dài hơn 250 cây số mà không nắm rõ tình hình an ninh lộ trình là "quá sức liều lĩnh", tuy nhiên cuối cùng Đại Tướng Viên cũng không tìm ra được một trục lộ nên kế hoạch của Thiếu tướng Phú đã được Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Hội đồng Quốc gia chấp thuận.
Nhận định về địa hình liên tỉnh lộ 7 B, Đại tướng Cao Văn Viên phân tích rằng ngoài trừ khúc từ Quốc lộ 14 đi Hậu Bổn còn dùngđược, đoạn còn lại không biết tình hình giao thông như thế nào.Tuy nhiên, có một điều mà Quân đoàn 2 biết trước là cầu bắc quasông Ba về phía nam Củng Sơn đã bị phá hủy hoàn toàn, không thểsửa chữa được, và đoạn đường chót đến phía tây Tuy Hòa thì nhữngvào năm trước 1973, lực lượng Đại Hàn hoạt động tại đây đã gài mìn dày dặc.
Trong khi Đại tướng Viên lo ngại về lộ trình rút quân, thì Thiếu tướng Phú lại tin tưởng về kế hoạch chuyển quân theo Liên tỉnh lộ 7B. Đây là con đường đá từ quốc lộ 14 đi Hậu Bổn (có đèo Cheo Reo) về Tuy Hòa sát biển. Đường này rất ghồ ghề, đá lởm chởm và bị bỏ lâu không dùng đến. Giải thích về sự chọn lựa này, Thiếu tướng Phú trình bày rằng yếu tố bất ngờ đã khiến ông có dự tính như thế.
Thiếu tướng Phú chỉ yêu cầu Bộ Tổng tham mưu cung cấp phương tiện cầu nổi để qua sông mà thôi. Với quyền hạn của một Tổng tham mưu trưởng, Đại tướngViên chấp thuận ngay lời yêu cầu của Thiếu tướng Phú.
Nhận định về quyết định của Tổng thống Thiệu và kế hoạch chuyển quân của Thiếu tướng Phú, Đại tướng Viên cho rằng "đưa một lực lượng cỡ quân đoàn với đầy đủ quân cụ, quân xa và nhiều thứ khác trên một đoạn đường dài hơn 250 cây số qua núi cao và rừng già trên vùng Cao nguyên mà không biết tình hình an ninh con đường đó ra sao quả là một việc quá sức liều lĩnh. Có tạo được yếu tố bất ngờ haykhông là do khả năng di chuyển nhanh gọn. Nhưng là một người chỉhuy sáng suốt thì lúc nào cũng phải có sự cẩn trọng trước tình trạng là địch đang có mặt hầu như cùng khắp tại khu vực đó".
Cũng trong buổi họp tại Cam Ranh, Đại tướng Viên đã nhắc nhở Thiếu tướng Phú về những khó khăn và nguy hiểm sắp đến, cũng như biện pháp an ninh cần chuẩn bị. Đại tướng Viên cũng đã đề cập đến sự thất bại của quân Pháp khi muốn rút quân từ Lạng Sơn về đồng bằng trong năm 1947. Ông cũng nhắc đến hai cuộc chuyển quân của hai binh đoàn Pháp trước năm 1954, theo đó một binh đoàn từ Thất Khê lên hướng Bắc và một binh đoàn từ Cao Bằng di chuyển về hướng Nam, tất cả đều bị đánh tan nát tại chân núi xung quanh Đông Khê, dọc theoQuốc lộ Thuộc Địa số 4. Về địa thế và con đường mà Thiếu tướngPhú chọn để di chuyển quân đoàn 2 thì vào tháng 6/ 1954, Lực lượng Cơ động 100 nổi tiếng của quân đội Liên Hiệp Pháp tại ĐôngDương đã bị thảm sát trên Quốc lộ 19 gần An Khê và số sống sót còn lại cũng bị tiêu diệt tại Đeo Chu-Drek trên Quốc lộ 14. Theo Đại tướng Viên, đó là "những bài học máu xương và thảm khốc nhất mà bất cứ vị chỉ huy nào cũng phải biết rõ vì địa thế hiểm trở củavùng Cao nguyên là vậy".
Về tình hình Ban Mê Thuột sau khi thất thủ vào ngày 11/3/1975, Đại tướng Viên cho biết thêm: tại cuộc họp ở Cam Ranh, Tổng thống Thiệu chỉ hỏi một câu quan trọng nhất liên quan đến số phận của Ban Mê Thuột, đó là Thiếu tướng Phú có thể chiếm lại Ban Mê Thuột không. Những người tham dự đều biết trước là Thiếu tướng Phú không khẳng định được điều này nên không có câu trả lời dứt khoát. Thiếu tướng Phú chỉ yêu cầu tăng thêm viện binh. Quay sang Đại tướng Viên, Tổng thống Thiệu hỏi xem còn lực lượng nào có thể tập trung đưa lên giải vây không. Hỏi vậy nhưng chắc chắn ông biết rõ câu trả lời. Đại tướng Viên cho biết đơn vị cuối cùng là Liên đoàn 7 Biệt Động Quân đã được phái lên Vùng 2 theo yêu cầu của Thiếu tướng Phú. Lực lượng chủ chốt là Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy quân lục chiến thì đều ở Quân khu 1 từ năm 1972.
Theo lời Đại tướng Viên thì vào giờ phút nghiêm trọng như vậy mà Bộ Tổng Tham Mưu không thể nào tăng viện cho Quân khu 2 được. Tổng thống Thiệu hỏi như vậy là để cho mọi người cùng hiểu thực trạng của quân đội như thế nào, và biết được bước kế tiếp ông phải làm gì. Khi cuộc họp chấm dứt, thì Tướng Phú xin riêng với Tổng thống Thiệu bằng một giọng khẩn khoản rằng ông xin Tổng thống thăng cấp chuẩn tướng cho Đại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 2. Kể lại sự việc này, Tướng Cao Viên ghi lại như sau: "Tôi không quen thân với Đại tá Tất nhưng được nghe ông là người có khả năng, nhưng làm tư lệnh chiến trường thì không có bằng chứng nào chứng minh ông ta có khả năng. Tôi liền phản đối ngay và nói rằng khi nào tái phối trí xong rồi mới nói đến. Tổng thống Thiệu tỏ ra do dự nhưng thấy tôi nói có lý nên không đồng ý việc thăng cấp. Thế nhưng, Thiếu tướng Phú khẩn khoản xin cho bằng được. Cuối cùng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đồng ý thăng cấp Chuẩn tướng cho Đại tá Phạm Duy Tất.
-------------------------------------
CUỘC TRIỆT THOÁI CAO NGUYÊN TRÊN LIÊN TỈNH LỘ 7B - QUÂN ĐOÀN 2 VNCH
TỪ NGÀY 16 THÁNG 3 ĐẾN 25 THÁNG 3 NĂM 1975 + HAI CUỘC TRIỆT THOÁI QUYẾT ĐỊNH TRONG CỔ KIM QUÂN SỬ VIỆT NAM .
Vào lúc 5 giờ 10 chiều ngày 14 tháng 3,1975, khi vừa từ Cam Ranh trở về PleiKu , Tướng Phú triệu tập một cuộc họp khẩn cấp gồm có: Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Phụ tá Hành quân; Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân, Đại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 2 (gồm 5 liên đoàn Biệt động quân), Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng QĐ 2 ; Quân khu 2. Mở đầu cuộc họp đặc biệt này,Tướng Phú đã thừa lệnh Tổng thống VNCH gắn cấp Chuẩn tướng cho Đại tá Phạm Duy Tất. Ngay sau đó, ông trình bày tóm tắt nội dung cuộc họp tại Cam Ranh và chỉ định Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm và tân Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất chỉ huy tổng quát cuộc rút quân khỏi Cao nguyên…
Tướng Phú chỉ chú ý tới một điều là làm sao triệt thoái cho thật mau . Do đó , bộ tham mưu của Quân Đoàn 2 -VNCH chỉ có đúng hai ngày để lập kế hoạch . Và Tướng Phú dự trù chỉ cần bốn ngày là triệt thoái xong . Mỗi ngày sẽ có một đoàn quân xa chừng 250 chiếc ra khỏi cao nguyên PleiKu để theo Liên Tỉnh lộ 7B xuống Tuy Hòa duyên hải ...
Liên Đoàn 21 Công Binh Chiến Đấu sẽ dẫn đầu đoàn quân xa thứ nhất để khai quang và sửa chữa cầu cống , đường xá . Dự trù kế hoạch rằng công binh chỉ cần hai ngày là có thể làm cho quãng đường dài 200 cây số từ ngoại ô PleiKu tới Tuy Hòa là có thể sử dụng được...
Thứ tự triệt thoái ở đoạn giữa là các đơn vị pháo binh , quân y , bộ tham mưu quân đoàn 2 và các đơn vị còn lại của sư đoàn 23 Bộ Binh . Hai bên sườn được các chiến xa của Trung Đoàn 21 Thiết Giáp bảo vệ .
Ở đoạn cuối của đoàn quân xa triệt thoái là các đơn vị của Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất. Các đơn vị chỉ nhận lệnh khởi hành một giờ trước khi lên đường .
Do điều kiện gấp rút như vậy , cho nên sư đoàn Không Quân tại PleiKu không thể cung cấp sự yểm trợ trên không cho đoàn quân xa trong suốt cuộc triệt binh .
Đây là điều bất lợi và nguy hiểm lớn cho đoàn quân triệt thoái nếu Cộng quân chận đánh trên lộ trình rút lui ...
Ngày 16/3/1975, một số đơn vị tiếp vận, Pháo binh, Công binh của Quân đoàn 2 di chuyển trên 200 quân xa, với sự yểm trợ của đơn vị Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh, Liên Đoàn 7 BĐQ đã khởi hành ra khỏi thị xã Pleiku, đây là lực lượng đi đầu của của đoàn quân triệt thoái khỏi Pleiku.
Khi Tiểu đoàn 58/LĐ7BĐQ tiến chiếm đỉnh đèo Cheo Reo và làm chủ tình hình trận địa , thì Trung đoàn 9 - Sư đoàn 320 CS dùng chiến xa tấn công và bao vây lực lượng BĐQ ở phía dưới chân đèo hướng tỉnh lỵ Phú Bổn. Các Tiểu đoàn 32 và 85BĐQ, Pháo binh và phân đội hỏa tiễn TOW đã dàn đội hình chống trả quyết liệt.
Trận chiến càng lúc càng khốc liệt. Liên đoàn 7 BĐQ xin phi pháo yểm trợ, 40 phút sau, oanh tạc cơ của Không quân VNCH đến oanh kích Cộng quân quanh trận tuyến. Đến 18 giờ 05 phút, chiến trường mới tạm im tiếng súng, nhưng Cộng quân vẫn còn áp lực quanh đoàn quân di chuyển.
Chiều 18/3/1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 về đến Hậu Bổn, tỉnh lỵ tỉnh Phú Bổn, nơi Quân đoàn 2 đặt Bộ Tư Lệnh nhẹ để điều động cuộc triệt thoái, điểm đến là vùng duyên hải còn cách hơn 160 km. trong khi Công binh chưa làm kịp cầu phao bắc qua sông Ê-Pa.
Tối 18/3/1975, Sư đoàn 968 Cộng quân rời bỏ mục tiêu ở PleiKu và tấn công vào khu vực Tây Nam của vòng đai tỉnh lỵ Hậu Bổn, sử dụng súng cối pháo kích vào một số vị trí dừng quân của các đơn vị triệt thoái. Phi trường Hậu Bổn cách Bộ Tư lệnh nhẹ Quân Đoàn 2 chưa đến 2 km bị Cộng quân chiếm. Liên đoàn 7 BĐQ được điều động phản công, đẩy lùi Cộng quân ra khỏi khu vực Tây Nam của tỉnh lỵ. Kịch chiến diễn ra suốt đêm và kéo dài đến ngày hôm sau.
Chiều ngày 19/3/1975, Bộ Tư lệnh Quân Đoàn 2 nhận được báo cáo Phú Bổn thất thủ. Một số lớn chiến xa M 48 và M 41 của Lữ đoàn 2 Kỵ Binh bị kẹt lại tỉnh lỵ Hậu Bổn…
Trong ngày đầu di tản, Tiểu đoàn 34 BĐQ do Thiếu tá Trịnh Trân chỉ huy được lệnh theo Thiết đoàn Kỵ binh di chuyển về Pleiku rồi xuống Phú Bổn. TĐ34BĐQ trách nhiệm trấn giữ tại đèo Cả trên QL1 .
Trong khi đó , bộ tham mưu của CS do Văn Tiến Dũng chỉ huy , còn ra lệnh cho các đơn vị CS tại địa phương gần bờ biển ,lập các chốt chặn trên Liên Tỉnh lộ 7B để triệt hạ các đơn vị của Quân Lực VNCH trên đường rút lui ra duyên hải Trung Phần ...
Sáng ngày 19-3-1975 thì đơn vị tiền phong của QLVNCH trong đoàn quân triệt thoái tới gần con sông Ba chỉ còn cách biển chừng 40 cây số .
Trách nhiệm an ninh trục lộ cho đoàn di tản tại Phú Bổn được giao cho Liên đoàn 23 BĐQ do Đại tá Lê Tất Biên chỉ huy. Liên đoàn này xuất thân từ tiểu đoàn BĐQ đầu tiên được thành lập tại Cao Nguyên, hầu hết binh sĩ là người Kinh, gia đình, thân nhân sinh sống tại Pleiku, Kontum. Liên đoàn lên đường cùng với Lữ đoàn 2 Thiết giáp vào ngày đầu của chiến dịch nhưng sĩ quan và binh sĩ chỉ nhận được lệnh là hành quân xuống Phú Bổn để từ đó đánh qua Khánh Dương, tái chiếm Ban Mê Thuột…
Cộng quân nhắm đánh vào sườn của đoàn quân triệt thoái ...Quân Lực VNCH phải gọi xin không quân VNCH yểm trợ để giúp chận cuộc tấn công . Nhưng thật không may cho quân lực VNCH , các phi tuần chiến đấu cơ của không quân lại oanh tạc nhầm vào khu vực đóng quân của Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân gây thiệt hại nặng cho một tiểu đoàn của Liên Đoàn 7 BĐQ .
Ngày 21-3-1975 , Cộng quân phá vỡ trận tuyến phòng thủ của Liên Đoàn 23 Biệt Động Quân rồi vượt lên để chiếm tỉnh lỵ của Phú Bổn và cắt đứt đường giao thông . Rất nhiều thường dân trong số 160.000 người đang di tản cùng với Liên Đoàn 8 ; Liên Đoàn 25 Biệt Động Quân và các đơn vị còn lại của sư đoàn 23 Bộ Binh VNCH bị cô lập . Rất nhiều binh sĩ VNCH chạy vào trong rừng . Cộng quân bắn đuổi theo những toán binh sĩ VNCH đang cùng với gia đình của họ đang chạy tìm đường thoát , phần lớn đều bị chết vì đạn pháo kích tàn bạo của cộng quân và chết vì đói khát ...
Trong khi đoạn hậu của đoàn quân triệt thoái chịu sự áp lực nặng nề của sư đoàn 968 CS , thi đoạn đầu chỉ còn cách thị xã Tuy Hòa có hai chục cây số và trở ngại chót là vượt qua sông Ba .
Cây cầu ráp qua sông Ba bị các đơn vị CS địa Phương bắn tỉa , ngăn cản .
Ngày 22-3-1975 cây cầu lớn qua sông Ba được hoàn thành nhưng sau đó lại bị sập một nhịp đó số lượng người và xe cộ quá tải ... mãi đến buổi chiều công binh nỗ lực sửa chữa mới thông tuyến trở lại .
Từ ngày 22-3-1975 , Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân phải giao tranh rất ác liệt với cộng quân đang cố sức tấn công ngăn cản các đơn vị VNCH ở phía trước ...Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đã anh dũng chiến đấu chặn địch cho đoàn quân triệt thoái . Họ đã sử dụng một số đại bác và thiết giáp cố gắng chống cự lại sự ngăn cản chốt chận của cộng quân .
Trong khi đó , phần còn lại của Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân đã cố gắng sử dụng trên một chục chiếc thiết vận xa M-113 như những chiếc xe tăng nhẹ và các binh sĩ Biệt Động Quân tiến hành diệt từng ổ kháng cự và phục kích ngăn chận của cộng sản dọc theo hai bên đường Liên Tỉnh lộ 7B thuộc Phú Yên tại Mỹ Thạnh Đông và Phú Thứ .
Cho đến ngày 25-3-1975 các chiến sĩ thuộc Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân mới bắt tay được với các đơn vị Địa Phương Quân VNCH từ trong thị xã Tuy Hòa mở đường đánh ra ngoại vi .
Đây là cuộc triệt thoái tổn thất nặng nề ,đầy nước mắt và đẫm máu trong Quân Sử VNCH .
Trong số 179.000 quân nhân QLVNCH của Quân Đoàn 2 rút lui , gần phân nửa bị loại khỏi vòng chiến đấu mà không phải vì giao tranh trực diện với cộng quân .
Riêng phần còn lại của Sư Đoàn 23 BB chỉ còn 700 binh sĩ về tới Nha Trang .
7.000 binh sĩ Biệt Động Quân của Quân Đoàn 2 chỉ còn 900 quân nhân về duyên hải để tiếp tục chiến đấu ...
Ban Mê Thuộc thất thủ ngày 11.03.1975, trong ba ngày 12,13 và 14 kế tiếp vị Tư Lệnh Quân Đoàn II, Tướng Phạm Văn Phú đã có kế hoạch phối trí, tái chiếm lại Ban Mê Thuột; Đang trên đường tiếp vận, nhiều cánh quân ở khắp các mặt trận đang túc trực, sẵn sàng mở những mũi dùi tiến vào Ban Mê Thuột thì trưa ngày 14 sau cuộc hộp tại Cam Ranh giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng các tướng Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang và Phạm Văn Phú đã đi dến quyết định rút bỏ Cao Nguyên. Cuộc rút quân kéo dài 9 ngày trên tuyến đường dài 200 cây số từ Pleiku về Phú Bổn, Phú Yên đã trở thành một cuộc di tản đầy bi thảm, làm mục tiêu cho lực lượng CS truy kích, dân và quân mỗi ngày duy chuyển chậm dần vì ứ động kẹt cứng với nhau đã trở thành đích điểm cho CS mặc sức tập bắng, nã trọng pháo. Hàng ngũ dân quân mỗi lúc một rối loạn, hầu như chôn chân tại chổ khi về tới Phú Bổn – Phú Yên, cho dù nhiều binh chủng thiện chiến nhiều lần tình nguyện đi cản hậu đánh trả lại lực lượng truy kích CS, nhưng trong hoàn cảnh tiến thoái đều bị động như thế thì cán cân thiện chiến không thể đặt ra được nữa khi tứ bề chân tay đã bị trói chặt vào hàng ngũ triệt thoái mà nguợc lại chỉ đánh dứ cầm chừng để bảo vệ đoàn quân tiếp tục duy chuyển. Cuộc triệt thoái đã trở thành một thảm họa làm suy sụp hết tinh thần chiến đấu của Quân Lực VNCH.
Theo chi tiết trong tư liệu của những quân nhân có mặt trong suốt cuộc triệt thoái, am hiểu nhiều tình hình và kế hoạch của các cấp chỉ huy đã cho biết không một chiến xa, một khẩu trọng pháo nào mang về tới được Phú Yên. Như thế chiến lược “Đầu Bé Đít To“ mà ông Thiệu dự định thực hiện đã hoàn toàn thất bại...
Tổng kết, trong số 1,200 xe quân sự vào lúc khởi sự cuộc di tản từ Pleiku thì khi đến Tuy Hòa chỉ còn lại 300 chiếc mà thôi. Chỉ có xấp xỉ 60,000 người dân đến đích, trong khi hai phần ba trong số người dân di tản, tức hơn 100,000 người, bị chết hoặc bị thương phải bỏ lại dọc đường. Về phía quân đội, gồm khoảng 20,000 quân tiếp vận và yểm tợ, chỉ còn 5,000 người đến nơi. Sáu tiểu đoàn Biệt Động Quân, gồm 7,000 người, chỉ còn 900 người đến trình diện Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 2 ở Nha Trang. Theo “The World Almanac of The Viet Nam War,” các kho đạn dược và quân nhu tại Kon Tum và Pleiku đã bị bỏ ngỏ, và tất cả quân trang, quân dụng cũng như vũ khí trị giá khoảng $253 triệu đều lọt vào tay Cộng Quân.
Trên 80 phần trăm quân số trong cuộc rút quân bị tổn thất, và trầm trọng hơn cả là hệ thống chỉ huy cùng kỹ luật quân đội đã bị rối loạn thì lấy gì để tiếp tục chiến đấu?
Đây là một bài học, trong suốt cuộc chiến tranh 21 năm từ sau hiệp định Generve 1954 phân chia đất nước cho đến năm 1975, VNCH hoàn toàn chưa có được một cấp chỉ huy nào có đuợc tài năng điều khiển một cuộc triệt thoái cấp Quân Đoàn. Triệt thoái thành công bằng mọi giá là phải mang yếu tố nhanh chóng, bất ngờ, không để cho đối phương dự đoán được kế hoạch, và nếu có biết ra thì cũng đã cao bay xa chạy thì mới thật là kế hoạch mật nhiện thành công nhất. Mọi khó khăn nhất cho cuộc rút quân là dân và quân mà trộn lẫn với nhau thì thật không có cách nào đi nhanh được, mà ngược lại còn tạo nên rối loạn mất tinh thần, thà để dân ở lại vùng đất cho đối phương tạm chiếm, bảo vệ chủ lực quân đội bằng mọi gía để chờ cơ hội tái chiếm, giải phóng lại toàn thể dân nước mới là thượng sách. Nhưng cuộc triệt thoái ở cấp Quân đoàn qúa đông đảo và to lớn khắp các mặt trận, do đó yếu tố nhanh chóng và bất ngờ khó có thể đặt ra được nữa, mọi động tịnh ngày hôm trước đến hôm sau là đối phương đã biết rõ. Trong lịch sử chiến tranh chỉ có những cuộc thua trận to lớn như Napoléon, Hitler, Thoát Hoan, Tôn Sĩ Nghị…mới diễn ra những cuộc triệt thoái về nước, còn như đang ở thế cân bằng với đối phương thì cách hay nhất là phải thủ thành quyết chiến, kéo dài thời gian để tìm một giải pháp chính trị an toàn ngõ hầu có thể bảo tồn được tất cả quân đội hơn là tự ý rút quân thì chắc chắn sẽ dẫn đến những hậu qủa nguy hại, tự giết lấy mình...
CUỘC RÚT LUI - TRIỆT THOÁI RA KHỎI THĂNG LONG VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HÀ NĂM 1788 CỦA QUÂN ĐỘI TÂY SƠN - ĐẠI TƯ MÃ NGÔ VĂN SỞ .
Cuộc hội binh về núi Tam Điệp do Đại Tư mã Ngô Văn Sở điều động dưới thời Tây Sơn đã đạt kết qủa tốt khắp các mặt trận, có thể so sánh đây là cuộc thoái binh lớn lao như Quân lực VNCH tại Cao Nguyên 17-3 năm 1975. Các lộ quân khắp nơi từ địa đầu giới tuyến Việt Bắc đến miền duyên hải như Lạng Sơn, Kinh Bắc, Thái Nguyên, Sơn Tây, Hải Dương…được lệnh trể nhất là trong vòng năm ngày phải hội tụ đầy đủ về ngoại thành Thăng Long bên bờ sông Nhị để tiếp tục mở cuộc triệt thoái về núi Tam Điệp. Phần thủy quân giao cho trấn Sơn Nam túc trực chuẩn bị đầy đủ thuyền bè đợi các lộ thủy quân cùng hội về thì tấn phát. Đoạn đường dài không thua gì Pleiku – Phú Bổn – Phú Yên trong cuộc triệt thoái Cao Nguyên 1975. Quân đội Tây Sơn thủy lục hai mặt đóng giáp từ núi Tam Điệp- Ninh Bình , thông ra mặt biển vào tới hải phận Biện Sơn- Thanh Hoá , đặt hai xứ Thanh, Nghệ trong tình trạng khẩn trương báo động. Cuộc triệt thoái được dể dàng tốt đẹp, ngoại trừ Nội Hầu Phan Văn Lân vì không cam tâm rút lui khi hay tin giặc Thanh đã tiến qua khỏi aỉ Nam Quan nên mới dẫn theo 1000 tinh binh, kéo lên mặt Bắc thử sức với quân Thanh. Đúng như sự tiên đoán của mưu sĩ Ngô Thời Nhậm, quân Thanh mới tới nên sức lực và khí thế còn đầy mạnh mẻ hăng hái, 1000 tinh binh Nội Hầu Lân dẫn theo đều tan rã, chỉ còn mấy chục người thất thiểu trở về. Việc làm của Nội Hầu Lân không khác gì như việc mạo hiểm, trong trận cờ chưa kịp điều quân phối trí được trong việc phòng thủ đất nhà mà đã vội một mình đem Mã đơn độc sang sông, không có sự yểm trợ nào nơi những cánh quân khác có Xa, Pháo, Mã hoặc Chốt thì không thể tranh thắng được với những đạo quân gồm Xa Pháo Mã kể cả Tướng đông gấp ngàn lần đang toàn lực khởi thế công, hùng hổ tiến sâu vào nội địa nước ta. Nội Hầu Lân mà còn mạng trở về là điều hết sức may mắn.
Với khí thế hùng hậu phối hợp giữa ba đạo 290.000 quân trong thế hổ trợ giữ chính binh, kỳ binh và viện binh, giặc Thanh đang mở ba mủi dùi từ mặt Tuyên Quang – Cao Bằng – Lạng Sơn tiến sâu vào nội địa nước ta. Binh số các tỉnh Vân Nam, Quí Châu, Quảng Đông, Quảng Tây gộp lại trên 20 vạn, giặc Thanh nghĩ sẽ đủ sức làm cỏ nước ta. Chính vì tránh thế hung hãn, những đòn tối độc của giặc tung ra ở bước đầu như cuộc xâm lăng của nhà Nguyên vào nước ta ở thế kỷ thứ XIII mà toàn Bộ Tham Mưu dưới quyền Tiết Chế Ngô Văn Sở đã đi đến quyết định bỏ ngõ tất cả mọi mặt trận kể cả Bắc Thành ( Thăng Long lúc đó được đổi tên là Bắc Thành vì nhà Tây Sơn không chọn nơi này làm kinh đô có vua cai trị) để bảo toàn chủ lực, tất cả các lộ quân đồng lúc phải triệt thoái về núi Tam Điệp- Biện Sơn ranh giới phân định giữa phía nam tỉnh Ninh Bình và bắc tỉnh Thanh Hoá , thủy bộ hai mặt liên kết một chiến tuyến dài ra tới hải phận Biện Sơn và tức tốc cấp báo về Phú Xuân cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ biết … chờ viện binh Tây Sơn - Nguyễn Huệ từ phía Nam tiến ra hợp lực … Đại Tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy, theo mưu kế của Ngô Thì Nhậm, chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình-Thanh Hoá ) cố thủ chờ lệnh.
Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân, Bắc Bình Vương làm lễ tế cáo Trời Đất, lên ngôi Hoàng Đế lấy niên hiệu là Quang Trung, ngay hôm đăng quang nhà vua ra lệnh tấn phát, đốc xuất tất cả mọi tướng sĩ thủy bộ hai mặt dưới cờ đồng tiến nhanh ra Nghệ An để chuẩn bị hiệp cùng các đạo quân ở núi Tam Điệp và mở những mũi dùi tiến thẳng ra đất Bắc, quyết đánh cho các tướng sĩ nhà Thanh không còn một manh giáp để thu hồi lại toàn thể chủ quyền quốc gia trên khắp mọi miền đất nước.
Để đối lại với ba đạo quân Thanh, vua Quang Trung cũng đã cho mở ra ba mủi dùi tấn công. Hai đạo quân bên phải và trái, mỗi đạo lại phân thêm ra làm hai cánh để tạo thế trận ứng tiếp, gây thanh thế hư thực, đồng thời có nhiệm vụ bao vây tiêu diệt địch khi trung quân của vua Quang Trung từ núi Tam Điệp tiến thẳng ra Sơn Nam, Thanh Liêm, Nhật Tảo, Phú Xuyên, Hà Hồi, Ngọc Hồi, Thăng Long cả một phòng tuyến dài do sự xếp đặt của Tôn Sĩ Nghị đều bị đánh tan rã trong chớp nhoáng. Nhìn qua thì thấy rõ quân Nam có ba đạo chính binh tiến ra giải phóng Bắc Hà, nhưng trong chính binh lại có cả kỳ binh và viện binh, bao gồm cả năm mủi tấn công, lối dụng binh thần tốc của vua Quang Trung, hư thực làm cho đối phương không biết đường nào trở tay như thế thì việc đánh bại đại quân Tôn Sĩ Nghị, lấy đầu hàng ngũ tướng tá tham mưu nhà Thanh dể dàng như lật bàn tay. Các danh tướng từ xưa đến nay dùng quân số ít nhưng vẫn áp đảo được quân số đông của đối phương là nhờ tài quyền biến, kế hoạch hành quân đầy chu toàn và mật nhiệm hơn người trong lẽ “tri kỷ, tri bỉ, bách chiến, bách thắng.“ Điều này trước khi xuất trận, vua Quang Trung đã tuyên bố trước ba quân trong tiếng reo hò long trời dậy đất, khí thế hào hùng bạt ngàn cả sông núi:
“Ta đến mà địch không biết, là địch ngủ ta thức.
Ta đánh mà địch không đề phòng là ta chém kẻ tay không“
Một đạo do Đại Đô Đốc Nguyễn Văn Lộc và Đại Đô Đốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy gồm cả thủy bộ hai mặt, Đại Đô Đốc Lộc mang quân án ngữ vùng Phượng Nhã, Yên Thế, Lạng Sơn chận đường rút lui của định, Đại Đô Đốc Tuyết chỉ huy thủy binh và giữ nhiệm vụ kinh lược Hải Dương, giữ thế tiến thủ nơi mặt Đông, phòng khi tình thế chiến trường cần viện binh ở các tỉnh thì thủy bộ hai mặt có thể dể dàng ứng tiếp liên lạc. Nhưng kế hoạch viện binh chỉ để phòng hậu họan, mà thực sự không hề được xử dụng tới khi quân ta đã hoàn toàn làm chủ tình hình ở khắp các mặt trận.
Một đạo bộ binh Thiết Giáp gồm ngựa chiến và voi chiến dưới quyền chỉ huy của Đại Đô Đốc Nguyễn Văn Bảo và Đại Đô Đốc Đặng Văn Long. Đại Đô Đốc Bảo chỉ huy tượng binh từ vùng Sơn Minh (Ứng Hòa, Hà Đông) tiến ra làng Đại Áng (Thanh Trì, Hà Đông) để tạo thế gọng kềm tiêu diệt quân Thanh từ đồn Ngọc Hồi tháo chạy khi bị trung quân của vua Quang Trung đánh vở ra từng mảnh vụn. Đại Đô Đốc Long chỉ huy mã binh tiến từ huyện Chương Đức vào, các tiền đồn Yên Quyết, Nhân Mục lần lược bị hạ, đến Khương Thượng là chốt cuối cùng nằm về hướng tây nam thành Thăng Long, từ mờ sáng tinh sương, dân chúng và binh sĩ đã dùng rơm quấn cùng củi khô, tẩm dầu đốt cháy rực khắp bốn mặt đồn, quân sĩ reo hò vang dậy, hăng hái phá đồn, tiến như vũ bảo phá sập các đê điều, chẳng bao lâu binh mã của Đại Đô Đốc Long đã tràn ngập hết các mặt đồn, tướng chỉ huy là Sầm Nghi Đống và binh sĩ dưói quyền hết sức kinh hải, không chống cự nổi sức đánh như che tre của quân Nam. Đống cùng một số tùy tùng bỏ trốn ra gò Đống Đa, đến đường cùng phải treo cổ tự tử. Một lần nữa gọng kềm lại mở ra thêm một cánh nơi Đại Đô Đốc Long, quân Thanh không còn bị lưỡng đầu thọ địch nữa mà là bị tam đầu thọ địch, Đại bản doanh Tây Long nơi Tôn Sĩ Nghị đóng quân và khắp trong ngoài kinh thành Thăng Long trong thời gian ngắn quân Thanh đều bị đánh tan rã bởi ba gọng kềm khép chặt của Đại Đô Đốc Long, Đại Đô Đốc Bảo, và trung quân của vua Quang Trung.
Với tài điều binh trăm trận trăm thắng của vua Quang Trung thì chắc chắn người như Tôn Sĩ Nghị một tướng soái trong thời bình, chưa bao giờ biết tới chiến tranh chứ đừng nói là chạm trán với Danh Tướng Nguyễn Huệ đã từng Nam chinh, Bắc chiến, dụng binh từ thửa thiếu thời ngang dọc khắp các trận mạc, lập nghiệp trên mình voi, yên ngựa để có ngày bước lên ngôi Hoàng Đế thì Tôn Sĩ Nghị qủa thật hoàn toàn không biết người biết mình chút nào cả nên mới điên rồ mạo hiểm mang quân vào nước Đại Việt để chuốt lấy những thảm bại nhục nhã. Nghị dù có thông minh tài trí mấy cũng không ngờ rằng lối dụng binh của vua Quang Trung qúa thần tốc, tiến thoái tựa mây trôi sấm bảo, mới ngày nào Nghị còn mơ màng trong trướng phủ, đắc ý nghĩ đến chiến lược tầm ăn lá dâu, dẫm lại con đường xưa cũ của Lữ Nghị, Hoàng Phúc, Trương Phụ thời nhà Minh đã đi là cố thôn tính đô hộ, đồng hóa Đại Việt dần thành một quận huyện của Tàu. Nhưng than ôi! Giấc hồ chưa thực hiện, nơi trướng phủ còn đang mơ màng thì có tin sét đánh ngang tai: Hạ Hồi, Ngọc Hồi, Yên Quyết, Nhân Mục, Khương Thượng đến Hải Dương đều thất thủ, Đề Đốc Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống và các tướng tiên phong Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng đều tử trận. Tôn Sĩ Nghị điếng hồn vì chân tay tả hữu của mình hoàn toàn bị chặt đứt. Một chiến tuyến dài từ niềm duyên hải Sơn Nam nay thuộc Nam Định lên tới Bắc Thành-Thăng Long, ra tới mặt trận Hải Dương đều tan rã trong một thời gian ngắn. Nghị muốn cầu viện cánh quân Vân Nam-Qúi Châu đang đóng ở Sơn Tây thì còn xa xôi qúa! Không biềt chừng nghe tin chủ tướng đại bại nên hàng ngũ tướng tá đã khiếp đảm, sợ phải bị mang họa như Liễu Thăng năm xưa, và có thể đang trên đường tháo lui về lại cố quốc. Việc này Sĩ Nghị đã tiên đoán đúng nên trong trăm ngàn kế, chỉ có kế trực chỉ Nam Quan, quăng tất cả ấn tín, áo mão cân đai, cờ quạt chạy tháo thân về lại cố quốc là thượng sách. Chiến lược tầm ăn lá dâu, bước lại con đường thời nhà Minh trước, trong bước đầu đã hoàn toàn bị vụa Quang Trung đập tan nát, vẫy chết từ trong trứng nước. Vua Quang Trung đã thấu rõ tận tường bước hành binh của Tôn Sĩ Nghị, xem đó chẳng khác sự múa may quay cuồng của đàn dê đứng trước mặt chúa sơn lâm. việc này đã được vua Quang Trung khẳng định trong lần hội quân tại núi Tam Điệp:
“Chúng nó sang phen này là tự mua lấy cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này, thân coi viêc quân, đánh giữ đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc.“
Không có nhận xét nào