Gs. Trần Văn Thọ
02/20/2026
Giáo sư Trần Văn Thọ. Ảnh NVCC
Ngày 5/10/2025 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 306/NQ-CP về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Về tầm nhìn đến năm 2050 của Việt Nam, Nghị quyết viết: “Là quốc gia hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc; nước phát triển, thu nhập cao, ...". Khi giới thiệu nội dung của Nghị quyết, nhiều tờ báo đưa tít “Năm 2050 Việt Nam sẽ hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc”. Nhiều người lớn tuổi đã bình luận trên facebooks là họ rất tiếc không thể sống đến năm 2050 để được hạnh phúc. Ý kiến nầy có thể là nói vui, không nhất thiết là một suy nghĩ nghiêm chỉnh, nhưng cũng phản ảnh thực tế là không phải ai cũng hiểu giống nhau về hạnh phúc. Câu hỏi quan trọng hơn có lẽ là “Có phải đất nước hùng cường, hưng thịnh thì người dân mới được hạnh phúc không?” "Với điều kiện nào thì người dân vẫn được hạnh phúc ngay trong quá trình phát triển?"
Bài viết nầy trả lời các câu hỏi đó. Bài đăng trên Lao động (số Xuân Bính Ngọ 2026). Có vài chỗ Ban biên tập sửa lại cách diễn đạt cho phù hợp với cách dùng chính thức trong nước nhưng không nhất thiết phản ảnh ý của tác giả
Ngày 5.10.2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 306/NQ-CP về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Về tầm nhìn đến năm 2050 của Việt Nam, Nghị quyết viết: “Là quốc gia hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc; nước phát triển, thu nhập cao, có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; quản trị xã hội trên nền tảng xã hội số hoàn chỉnh”.
Khi giới thiệu nội dung của Nghị quyết, nhiều tờ báo đưa tít “Năm 2050 Việt Nam sẽ hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc”. Nhiều người lớn tuổi đã bình luận trên Facebook là họ rất tiếc không thể sống đến năm 2050 để được hạnh phúc. Ý kiến này có thể là nói vui, không nhất thiết là một suy nghĩ nghiêm chỉnh, nhưng cũng phản ánh thực tế là không phải ai cũng hiểu giống nhau về hạnh phúc. Câu hỏi quan trọng hơn có lẽ là: “Có phải đất nước hùng cường, hưng thịnh thì người dân mới được hạnh phúc không?”, “Có phải đợi tới năm 2050, người dân mới hạnh phúc?”.
Hạnh phúc có thể đo lường được không?
Hạnh phúc là một khái niệm trừu tượng, thuộc phạm vi cảm tính, chủ quan và mang ý nghĩa triết học. Hai người có cùng điều kiện về công việc, về mức sống, về môi trường sinh hoạt,.. nhưng người này có thể cảm thấy hạnh phúc hơn người kia, nhất là khi họ có suy nghĩ khác nhau về vị trí của mình trong xã hội. Có người nghèo về vật chất nhưng thấy hạnh phúc hơn một người giàu mà trong lòng luôn lo âu, phiền muộn. Người có lòng nhân thì chỉ cảm thấy hạnh phúc khi thấy người khác hạnh phúc. Trong những ý nghĩa này thì mức độ hạnh phúc không thể đo lường được.
Tuy vậy, nhiều cơ quan quốc tế tìm phương pháp đo lường và so sánh mức độ hạnh phúc của người dân các nước. Chẳng hạn Mạng lưới về Giải pháp Phát triển Bền vững (SDSN) của Liên Hợp Quốc hằng năm công bố Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report) dựa trên kết quả điều tra về điểm số hạnh phúc.
Cách điều tra là tại mỗi nước chọn độ 1.000 người thuộc nhiều lứa tuổi cả ở nông thôn và thành thị và thuộc cả hai giới tính. Các câu hỏi liên quan sức khỏe, nhận định về sự khoan dung, về sự tương trợ lẫn nhau giữa người trong xã hội, cảm nhận về tình trạng tham nhũng và về sự tự do chọn lựa nghề nghiệp, chọn nơi cư trú. Tổng hợp kết quả điều tra được tính thành điểm số (score) từ 0 đến 10 (càng gần với 10 thì mức độ hạnh phúc càng cao).
Ta thử xem trường hợp Việt Nam trong khoảng 15 năm gần đây. Điểm hạnh phúc của Việt Nam năm 2010 là 5,3; năm 2015 là 5,09; năm 2020 là 5,35 và gần đây nhất (2025) là 6,4. Như vậy theo báo cáo này thì người dân Việt Nam trong 15 năm qua hạnh phúc tăng thêm khoảng 1 điểm. Theo thứ hạng giữa các quốc gia được điều tra thì năm 2021 Việt Nam xếp thứ 79 trong 149 nước, năm 2025 xếp thứ 46 trong 147 nước. Như vậy theo tiêu chí này thì chỉ trong 5 năm, Việt Nam đã tăng hạnh phúc hơn nhiều nước. Đặc biệt tại Á châu vào năm 2025, điểm hạnh phúc của người Việt Nam rất cao, chỉ thua Singapore.
Đối với nhiều người Việt Nam, những con số này có lẽ khó tin. Đúng là phương pháp điều tra khó phản ánh trung thực sự cảm nhận hạnh phúc của đa số người dân. Chẳng hạn người được chọn trả lời các câu hỏi của nhóm điều tra thường phải có một trình độ học vấn nhất định, không bận tâm về thu nhập, về cuộc sống và có thể thu xếp được thì giờ để tham gia các cuộc điều tra. Những người thu nhập thấp, phải vất vả vì mưu sinh, là những người có thể xem là ít hạnh phúc thì không thể được chọn trong các cuộc điều tra. Do đó, những con số liên quan hạnh phúc chỉ để tham khảo. Tuy nhiên, điều tra của World Happiness Report cũng đưa ra vài gợi ý để hiểu một số yếu tố đem lại hạnh phúc của người dân. Đó là sức khỏe, là tự do chọn lựa nghề nghiệp và nơi cư trú, là sự cảm nhận về xã hội quanh mình (tinh thần tương trợ, thái độ khoan dung, tình trạng tham nhũng)... Thực ra liên quan đến hạnh phúc còn nhiều yếu tố khác nữa. Dưới đây ta thử đưa ra một phân tích đầy đủ về nội dung của hạnh phúc và các yếu tố mang lại hạnh phúc của người dân, từ đó đề xuất chiến lược phát triển và các chính sách liên quan.
Điều kiện để người dân có hạnh phúc
Theo tôi, có thể đưa ra ba tiêu chí để đánh giá mức độ hạnh phúc của người dân trong một nước.
Thứ nhất, khả năng bảo đảm các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như ăn, mặc, ở, giáo dục, văn hóa, y tế cùng với việc cải thiện điều kiện lao động. Chất lượng của cuộc sống nhìn chung sẽ tăng theo trình độ phát triển của kinh tế. Môi trường làm việc cũng là một yếu tố liên quan đến hạnh phúc vì ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của người lao động. Ngoài ra, thời gian làm việc càng được rút ngắn, người lao động càng có điều kiện nghỉ ngơi, giải trí, tăng chất lượng cuộc sống về mặt văn hóa.
Từ tiêu chí này ta thấy nhìn chung kinh tế càng phát triển con người càng được hạnh phúc. Tuy nhiên, có hai điều kiện cần thêm ở đây. Đó là môi trường và tình hình phân phối thu nhập. Ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông v.v… làm giảm chất lượng cuộc sống. Phân phối thu nhập quá bất bình đẳng làm cho tầng lớp thu nhập thấp chẳng những chậm được cải thiện mà còn cảm thấy bất mãn khi thấy xã hội bất công, không tạo cơ hội bình đẳng cho mọi thành phần. Riêng ở điểm này, nhiều người cảm thấy không hạnh phúc bằng khi kinh tế chưa phát triển nhưng phân phối thu nhập không chênh lệch quá đáng. Kinh tế tăng trưởng nhưng một thành phần xã hội không có cơ hội tham gia quá trình phát triển, vẫn luẩn quẩn trong nghèo khó, còn là mầm mống gây bất ổn xã hội. Trong một xã hội như vậy, người có thu nhập cao chưa hẳn được hạnh phúc.
Do những điểm vừa đề cập, giữa những nước có cùng trình độ phát triển nhưng chất lượng phát triển liên quan môi trường thiên nhiên và xã hội không giống nhau sẽ làm cho sự cảm nhận hạnh phúc của người dân nước này không giống người dân nước khác. Tuy vậy, nhiều nghiên cứu cho thấy nhìn chung những nước ở trình độ phát triển cao có điều kiện để người dân sống hạnh phúc hơn những nước mà trình độ phát triển còn thấp.
Việt Nam đã đạt mức phát triển trung bình cao năm 2025, đang nỗ lực tăng trưởng để đạt mục tiêu trở thành nước tiên tiến có thu nhập cao vào năm 2045 và thành quốc gia hùng cường, hưng thịnh vào năm 2050. Nếu chiến lược phát triển là toàn dụng lao động, tạo cơ hội bình đẳng cho người dân trong việc làm, cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn lực (vốn, đất đai) để đầu tư và quan tâm đến bảo vệ môi trường thì người dân được hưởng hạnh phúc ngay trong quá trình phát triển. Nỗ lực trong giáo dục, đào tạo làm cho lực lượng lao động ngày càng nhiều người có kỹ năng cao để họ có thể đáp ứng nhu cầu mới trong thị trường lao động cũng làm tăng hạnh phúc của nhiều người khi họ cảm thấy không bị bỏ lại đằng sau trong quá trình phát triển. Ngoài ra, khi đến cơ quan công quyền làm các thủ tục, nếu được đối xử tử tế, được giải quyết nhanh chóng và không mất phí tổn tiêu cực thì người dân sẽ thấy hạnh phúc mỗi khi có nhu cầu về hành chính.
Thứ hai, vốn xã hội (social capital) cũng là yếu tố quyết định mức độ hạnh phúc của người trong cộng đồng. Con người cảm thấy hạnh phúc khi mình được cộng đồng tin tưởng, nể trọng và khi chính mình cũng thường thấy tin tưởng, nể trọng, quý mến người khác trong cộng đồng. Nhiều người nếu không nói là tất cả sẽ thấy hạnh phúc khi trong cộng đồng ai cũng hành xử với thái độ tự trọng, đầy đủ trách nhiệm và năng lực được mọi người cho là xứng đáng với công việc và vị trí đang có.
Để tăng vốn xã hội trong một nước đang phát triển trong nền kinh tế thị trường, một mặt, qua sách báo, qua các phương tiện truyền thông đại chúng cần làm cho mọi người hiểu rằng kinh tế thị trường rất cần đạo đức, cần sự tin tưởng, tin cậy lẫn nhau; mặt khác cần luôn đề cao lối sống văn hóa, đạo đức. Người bề trên như bố mẹ, anh chị trong gia đình, người ở cương vị lãnh đạo đối với cấp dưới và đối với dân phải gương mẫu. Trong dài hạn, phải chú trọng giáo dục văn hóa, đạo đức ở học đường để giới trẻ khi lớn lên trở thành người hành xử có trách nhiệm và tự trọng.
Thứ ba, như trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới đã giới thiệu ở trên, tự do cũng là một yếu tố để có hạnh phúc, nhưng ta cần hiểu tự do có ý nghĩa rộng hơn. Theo định nghĩa của Amartya Sen, nhà kinh tế người Ấn Độ lãnh giải Nobel năm 1998, phát triển là quá trình làm tăng các thứ tự do mà con người được hưởng thụ. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng và phân phối bình đẳng, chế độ giáo dục và y tế cộng đồng phổ cập sẽ làm tăng tự do kinh tế, giúp con người thoát khỏi nghèo đói, bệnh tật và dốt nát. Các mặt này càng phát triển con người có thể được tự do làm việc nhiều hay dành nhiều thì giờ hơn cho nghỉ ngơi, giải trí, cho cuộc sống văn hóa, tinh thần.
Những nội dung về tự do kinh tế vừa nói cần được quan tâm ngay từ bây giờ và có các chính sách phù hợp thì người dân được hạnh phúc ngay ở giai đoạn hiện nay. Rất mừng là lãnh đạo Việt Nam đã thấy sự quan trọng của vấn đề này, phản ánh trong các phát biểu gần đây của Tổng Bí thư Tô Lâm trong Lễ kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong buổi làm việc với Bộ Y tế nhân Ngày Thầy thuốc Việt Nam hay tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Giáo dục và khai giảng năm học mới 2025–2026. Trong diễn văn Lễ kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước có đoạn: “Phải tập trung thực hiện tốt chính sách công bằng, tiến bộ xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chính sách đối với người có công; thực hiện chính sách miễn học phí đối với các cấp học phổ thông; quyết tâm hoàn thành chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trong cả nước, đẩy mạnh xây dựng nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp; chú trọng phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, tiến tới miễn viện phí cho người dân, để mỗi người dân Việt Nam thật sự có cuộc sống an ninh, an toàn, tự do, ấm no, hạnh phúc”.
Quan điểm này là đúng. Đó là những nội dung bảo đảm tự do kinh tế cho tầng lớp thu nhập thấp, làm họ tăng cảm nhận hạnh phúc. Nhưng cần triển khai ngay các chính sách liên quan và bộ máy phải chuyển động nhanh để thực hiện.
Một đất nước nếu con người được bảo đảm an ninh cá nhân và các quyền tự do trong khuôn khổ pháp luật thì hạnh phúc của họ sẽ tăng lên.
Mục tiêu phát triển của Việt Nam hiện nay là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã bao gồm hầu hết các tiêu chí về hạnh phúc và được cụ thể hóa bằng hai khái niệm “hùng cường, hưng thịnh” trong Nghị quyết số 306/NQ-CP của Chính phủ về tầm nhìn đến năm 2050.
Với nội hàm của hạnh phúc cùng các chiến lược, chính sách nói trên, ngày càng nhiều người dân sẽ cảm nhận được hạnh phúc ngay từ những năm đầu của kỷ nguyên mới, không phải đợi đến năm 2050.
Trần Văn Thọ
Không có nhận xét nào