Đỗ Duy Ngọc
Sài Gòn. Tháng Ba. 2026
Sau hai năm học lớp Đệ Thất và Đệ Lục ở trường Phổ thông Trung học, tôi quyết định thi tuyển vào Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng. Tôi chọn trường này với lý do rất kỳ cục chỉ là vì đây là ngôi trường đẹp và hiện đại nhất lúc bấy giờ. Không chỉ ở Việt Nam mà còn là nhất Đông Nam Á. Trường khai giảng khoá đầu tiên năm 1962. Trường được chính phủ Hoa Kỳ viện trợ xây dựng và trang bị những thiết bị máy móc cần thiết cho một trường dạy nghề không khác gì các trường quốc tế. Trường được xây dựng trên khu đất sát bãi biển Thanh Bình lúc đó còn hoang sơ và dân cư thưa thớt. Như vậy, ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ song song hai mô hình giáo dục: Trung học Phổ thông và Trung học Kỹ thuật.
Thật ra, từ thời Pháp thuộc, miền Nam đã có hai trường dạy văn hoá kết hợp với đào tạo nghề cơ khí, tiện, điện, mộc, sắt...
Đó là Trường Bá Nghệ Huế (Kỹ nghệ thực hành Huế). Thành lập khoảng 1899, với tên Pháp École Pratique d’Industrie de Hué. Đây là một trong những trường dạy nghề sớm nhất ở Trung Kỳ. Mục tiêu đào tạo thợ thủ công, kỹ nghệ thực hành phục vụ bộ máy thuộc địa và nhu cầu kỹ thuật bản địa. Điểm đáng chú ý là khác với giáo dục Nho học, đây là mô hình “thực học, thực nghiệp” rất sớm, gần với triết lý giáo dục công nghiệp châu Âu.
Ở Sài Gòn còn có trường Bá Nghệ Sài Gòn thành
lập năm 1906 với tên École des Mécaniciens Asiatiques, dân gian gọi là Trường Bá Nghệ và là một trong những trường dạy nghề đầu tiên ở Đông Dương. Một thời trường còn có tên là Trường Kỹ thuật Đỗ Hữu Vị, đặt theo tên của người phi công Việt Nam đầu tiên trong quân đội Pháp.
Trường đào tạo thợ máy và kỹ thuật cơ khí nhằm phục vụ cho lực lượng Hải quân và Công nghiệp thuộc địa. Học sinh được học lý thuyết song song với thực hành. Trường có ký túc xá, xưởng sản xuất. Trong Thế chiến I, trường sản xuất đạn pháo và đào tạo thợ cho chiến tranh. Sau 1954, Trường đổi tên thành Trung học Kỹ thuật Cao Thắng chuyên đào tạo Kỹ thuật viên trung cấp và Tú tài kỹ thuật để học lên kỹ sư hoặc cán sự, thợ bậc cao. Là một trường trung học kỹ thuật quan trọng ở Sài Gòn trước 1975.
Hai trường này ảnh hưởng từ mô hình Écoles professionnelles của Pháp. Đây là nền móng cho toàn bộ hệ Trung học Kỹ thuật sau này.
Thập niên 60 của thế kỷ trước, miền Nam Việt Nam mở thêm Trường Trung học Kỹ Thuật Đà Nẵng, Quy Nhơn và Vĩnh Long. Ưu điểm nổi bật của các Trường Trung học Kỹ Thuật là học sinh vừa học văn hoá như các Trường Phổ thông, vừa học nghề chọn lựa nên cung ứng cho xã hội những người thợ vừa có nghề vừa có văn hoá. Trường Trung học Kỹ Thuật có 2 ban. Ban Toán trước năm 1965 tuyển từ Đệ Thất, học 7 năm đến lớp Đệ nhị thi Tú Tài 1 Kỹ Thuật, tiếp đến lớp Đệ nhất lấy Tú Tài 2. Đến 1966 thì tuyển từ lớp Đệ ngũ, học 5 năm tốt nghiệp thi vào Trường Kỹ sư Phú Thọ, học 4 năm có bằng Kỹ sư. Một số thi tuyển vào Trường Kiến trúc.
Ngoài ra còn có ban Chuyên Nghiệp, học 3 năm, cũng thi vào Trường Phú Thọ nhưng hệ Cán sự. Tốt nghiệp làm thợ bậc cao hoặc học tiếp Trường Sư Phạm Kỹ Thuật, ra trường đi dạy nghề các trường nghề hoặc Trường Trung học Kỹ Thuật. Nếu vì lý do nào đấy mà không học lên đại học, người học sinh có thể đi làm công nhân có trình độ. Họ biết xem bản vẽ, có văn hoá để xử sự, có kiến thức để làm nghề. Đây là mô hình rất gần với nước Đức (Dual System) và Nhật (KOSEN).
Đặc biệt trong chế độ cũ, khi bị động viên, những người có bằng cấp từ các Trường Kỹ Thuật thường được điều chuyển về Tiếp vận, Quân cụ, Công binh, Truyền tin….
Thi tuyển vào các Trường Trung học Kỹ Thuật cũng khá khó vì hàng năm chỉ tuyển không nhiều, thường chỉ 2 hoặc 3 lớp ban Toán và 5 lớp ban Chuyên Nghiệp các ngành Điện, Tiện, Kỹ nghệ gỗ, Kỹ nghệ sắt và Cơ khí Ô tô. Mỗi lớp khoảng 25 đến 30 học sinh.
Chương trình học ban Toán khá nặng, nhất là các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hoá và thêm môn vẽ Kỹ Nghệ hoạ. Học suốt hai buổi từ thứ hai đến thứ bảy. Ban Chuyên Nghiệp học văn hoá 3 ngày một tuần, cũng học Toán, Lý, Hoá, văn học, Sử Địa nhưng chương trình nhẹ hơn. Cũng có môn Kỹ Nghệ hoạ để có thể nhìn bản vẽ mà làm việc. 3 ngày còn lại học nghề ở xưởng, lý thuyết lẫn thực hành trực tiếp trên máy như những người thợ.
Từ niên khoá 1968, Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng mở thêm Ban Nữ công Gia chánh dành cho nữ sinh. Chương trình học dạy nấu ăn, cắt may, dinh dưỡng…Kể từ đó, ngôi trường vốn chỉ toàn nam sinh mặc đồng phục xanh xuất hiện thêm những tà áo dài trắng của nữ sinh. Hình như hình ảnh đó làm sân trường đẹp hơn, dịu dàng hơn. Cũng học 3 năm thi vào Phú Thọ, rồi tiếp tục học Sư Phạm Kỹ Thuật ra làm cô giáo. Nếu không thì cũng là những người nội trợ giỏi, những người thợ may, chủ tiệm may, làm bánh, nấu nướng có văn hoá. Một chủ trương dạy Công Dung Ngôn Hạnh có bài bản, bằng cấp, chương trình, trường lớp chính quy.
Như vậy, ngay từ 12 hay 14 tuổi, học sinh Trường Kỹ Thuật đã được hướng nghiệp một cách có bài bản, được huấn luyện, dạy dỗ và trang bị những bước cơ bản cho ngành nghề tương lai của cuộc đời.
Trở lại ngôi trường của tôi, một ngôi trường hiện đại bậc nhất thời bấy giờ. Trường rộng rãi, có sân bóng rổ, sân bóng chuyền và một sân bóng đá đúng tiêu chuẩn. Có những phòng học đúng nghĩa, mỗi học sinh có một ghế và mặt bàn riêng, cuối mỗi phòng có dãy tủ để chứa vật dụng, sách vở, phòng học môn Kỹ Nghệ hoạ có bàn vẽ như một hoạ viên thực thụ. Phòng học lúc nào cũng đủ ánh sáng và nhiệt độ được cân bằng bởi hệ thống cửa sổ chạy dài tường phòng học nhìn ra và đón gió biển. Ở đó, phóng tầm mắt nhìn ra, thấy được biển xanh và sóng vỗ. Sau này cũng từ hướng nhìn ấy, chỉ thấy toàn những mái nhà san sát nhau, chen lấn nhau.
Trường cũng có ký túc xá cho những học sinh đi học xa nhà, có nhà công vụ đầy tiện nghi cho Hiệu trưởng, có nhà cho các nhân viên bảo vệ, thời ấy gọi là cai trường. Có dãy xưởng gồm 5 xưởng cho từng nghề riêng như xưởng Điện, xưởng Tiện còn gọi là Máy Dụng cụ, xưởng Kỹ Nghệ Gỗ, xưởng Kỹ Nghệ Sắt và xưởng Cơ khí Ô Tô. Mỗi xưởng đều được trang bị máy móc tương đối hiện đại để học sinh thực hành trực tiếp.
Hồi đó, tôi vốn thấp bé, nhẹ cân nên ngày đầu tiên vào xưởng Cơ khí Ô Tô mênh mông với một dãy máy móc, tôi khá choáng ngợp. 14 tuổi, tôi đứng vừa nhỉnh hơn cái bàn gắn éteaux một chút. Bài học đầu tiên không phải là những trang sách mà là thỏi sắt với yêu cầu giũa, cưa, đục thành một mộng xương cá. Tôi không đạt yêu cầu vì tay cầm giũa cứ phải với lên vì chiều cao thân thể không thuận lợi. Bữa học đầu tiên đấy không phấn trắng, bảng đen mà làm quen với những cục sắt lạnh. Những bàn tay lần đầu còn vụng về, rồi dần dần quen với giũa, với búa, với kìm, với thước cặp. Dần dà rồi cũng quen với mùi dầu máy, quen với tiếng nổ của động cơ.
Ở cái tuổi mười bốn, chúng tôi chưa biết nhiều về triết học hay sâu sắc của văn chương. Nhưng chúng tôi biết một điều rất cụ thể là một chi tiết sai là máy không chạy. Một đường cắt lệch là sản phẩm bỏ đi. Nếu canh sai thì nổ, máy không nổ. Kỹ thuật dạy chúng tôi sự chính xác trước khi dạy chúng tôi ước mơ. Dạy cho tôi cẩn trọng và biết tính toán cụ thể lúc làm việc.
Dù trước đó tôi học rất khá, nhưng tôi lại chọn ban Chuyên Nghiệp vì muốn sau ba năm học sẽ được vào Sài Gòn, thoả được ước mơ. Tôi thi tuyển vào đậu đầu bảng, Thầy Hiệu trưởng gọi tôi lên văn phòng bảo tôi nên chuyển qua ban Toán vì qua bài thi thấy tôi học ban Toán sẽ tốt cho tương lai hơn. Tôi không đồng ý, nhưng có lẽ số tôi phải thế nên sau 3 năm học Cơ khí Ô Tô tôi lại chuyển qua ban Toán và phải học lại trễ một năm. Tôi học thêm lớp đêm của Trường Phổ thông, học nhảy và thi lấy luôn 4 bằng Tú Tài, hai bằng Kỹ Thuật, hai bằng phổ thông. Trường hợp có nhiều bằng như vậy đối với học sinh Kỹ Thuật không hiếm. Tôi có người bạn lấy đến 6 bằng Tú Tài, bạn ấy bảo lấy chơi xem sức mình tới đâu. Bạn ấy tên Nguyễn Phúc Bửu Dương, con trai của một Giáo sư dạy Pháp văn. Anh ta có đủ bằng phổ thông ban A, ban B, ban C và bằng Kỹ Thuật. Điều này nghe có vẻ lạ lùng thời nay, nhưng lại là kết quả rất tự nhiên của một mô hình giáo dục biết cách liên thông và thí sinh đạt kết quả do kiến thức tự thân chứ không dựa vào một đặc ân đặc biệt nào.
Bởi học nhảy nên ở Trường Kỹ Thuật, tôi không học lớp Đệ nhất. Và rồi tôi không tiếp tục đường đi của học sinh Kỹ Thuật, tôi rẽ sang lối khác, tôi chọn văn chương, nghệ thuật khi bước vào Đại học. Một lựa chọn mà sau này, đôi khi nhìn lại, tôi vẫn tự hỏi rằng mình có bỏ phí những kiến thức đã học thời Trung học không? Nhưng nghĩ kỹ lại Trường Kỹ thuật đã giúp tôi nhiều kỹ năng trong những công việc. Đó là thói quen lao động, đó là sự cẩn trọng trong suy nghĩ, đó là hiểu đúng nguyên lý của việc mình làm, đó là kỷ luật và tinh thẩn tập thể trong lao động. Tôi không tiếp tục với nghề kỹ thuật nhưng tôi vẫn đọc được bản vẽ của máy móc, của sơ đồ điện, biết cách vận hành của động cơ. Tôi ý thức về cấu trúc, về tỷ lệ, về sự chính xác như đã từng vẽ những bài vẽ môn Kỹ Nghệ hoạ.
Đến thập niên 70, hệ thống Trường Kỹ Thuật được mở rộng. Nha Trang, Quảng Ngãi mở thêm trường.
Đó không phải là sự mở rộng ngẫu nhiên. Nó đi theo nhu cầu phát triển của một xã hội đang đô thị hóa, hiện đại hoá. Thời kỳ đang cần những con người biết làm việc bằng tay, nhưng không phải là những bàn tay vô thức.
Trung học Kỹ thuật không đào tạo ra những người chỉ biết làm. Nó đào tạo ra một kiểu người mà hôm nay ta không còn gọi tên được nữa. Đó là người thợ có văn hóa.
Họ học toán, học lý, học vẽ kỹ thuật. Họ vào xưởng, làm ra sản phẩm thật. Họ hiểu rằng mỗi sai số đều có hậu quả. Họ quen với kỷ luật lao động trước khi bước vào đời. Nhưng họ cũng đọc sách. Họ có khả năng suy nghĩ. Họ không bị tách khỏi thế giới của tri thức.
Họ đứng ở một vị trí rất đặc biệt: không hoàn toàn là trí thức bàn giấy, nhưng cũng không phải lao động tay chân thuần túy. Họ là những “trí thức lao động”, nếu cần một cách gọi.
Nhìn ra thế giới, mô hình này không hề lạc hậu.
Đức có hệ thống đào tạo kép. Pháp có các lycée technique. Nhật Bản có các trường kỹ thuật cao cấp.
Điều đáng nói là, miền Nam Việt Nam đã có một mô hình tương tự từ những năm 1960. Không phải vay mượn một cách hình thức, mà đã vận hành thực sự, đã đào tạo ra con người thật, làm việc trong xã hội thật.
Thế nhưng sau năm 1975, mọi thứ thay đổi. Nhiều trường Trung học Kỹ thuật lần lượt được nâng cấp thành cao đẳng, đại học. Nghe qua thì đó là một bước tiến. Nhưng trong thực tế, một tầng quan trọng đã biến mất: tầng trung học nghề có văn hóa. Và xã hội nhiều thầy hơn thợ.
Xã hội bắt đầu đi theo một hướng khác. Đó là đại học hóa. Ai cũng muốn có bằng cấp cao. Ai cũng muốn làm thầy. Nhưng là những thầy thất nghiệp, lấy Cử nhân để rồi về chạy xe ôm.
Và dần dần, người thợ biến mất khỏi trung tâm của xã hội.
Hậu quả của sự thay đổi đó, chúng ta thấy rõ hôm nay. Một xã hội thiếu thợ giỏi, nhưng dư cử nhân. Một nền giáo dục nặng lý thuyết, nhưng thiếu kỹ năng. Một lớp người có thể nói nhiều, nhưng không làm được bao nhiêu.
Tôi không trở thành một kỹ sư. Tôi không thành ông thầy dạy nghề Cơ khí. Tôi dạy văn học, tôi làm mỹ thuật.
Tôi đi vào văn chương, hội họa, những con đường tưởng như không liên quan đến kỹ thuật. Nhưng càng về sau, tôi càng nhận ra rằng những gì tôi học được từ Trường Trung học Kỹ thuật không hề mất đi. Nó nằm trong cách tôi suy nghĩ. Trong cách tôi cấu trúc một bài viết. Trong cách tôi nhìn một bức tranh, không chỉ bằng cảm xúc, mà bằng cả một ý thức về cấu trúc, về tỷ lệ, về sự chính xác.
Như thế, tôi không bỏ kỹ thuật. Tôi chỉ mang nó sang một địa hạt khác.
Nhưng bây giờ, với thực trạng của các trường nghề, nhìn nền giáo dục Phổ thông hiện nay, tôi vẫn thấy tiếc. Không phải tiếc cho riêng mình. Mà tiếc cho một mô hình đã từng rất hiện đại, rất hợp lý, rất nhân bản, rất thực tiễn. Một mô hình giáo dục hướng nghiệp rất tốt cho học sinh khi mới bước vào trung học, nhưng đã không được tiếp tục, đã bị đứt gãy và được thay thế những thứ thiếu thực tiễn, nặng phô trương.
Tiếc cho một mô hình giáo dục để không phải ai cũng cần trở thành kỹ sư, nhưng ai cũng cần được học để làm việc một cách tử tế, trở thành người lao động có ý thức kỹ thuật và kỷ luật. Những người làm nhiều, nói ít.
Chúng tôi, những học sinh Trung học Kỹ thuật ngày ấy, đã từng sống trong một thế giới mà ở đó một tay cầm búa, thước T, bảng vẽ, một tay cầm bút. Chúng tôi học cách làm ra một vật thể, vẽ ra mọi chi tiết trước khi học cách nói về nó. Chúng tôi hiểu rằng một ý tưởng, nếu không thực hiện được, thì chỉ là một ý tưởng dang dở.
Hôm nay, sau hơn 60 năm, khi nhìn lại, tôi không chỉ nhớ về một ngôi trường. Tôi nhớ về một kiểu người, một kiểu dạy tạo ra một kiểu người biết làm và biết nghĩ. Đó là kiểu người mà xã hội hôm nay đang thiếu.
Và có lẽ, điều đáng tiếc nhất không phải là một hệ thống, một mô hình giáo dục thiết thực đã bị mất. Mà chúng ta tiếc giá trị của chính con người mà hệ thống ấy từng tạo ra. Đó là thế hệ của những người thợ có văn hóa. Những người trí thức nhưng hiểu rất rõ giá trị của kết quả từ bàn tay lao động có tri thức.
DODUYNGOC
Sài Gòn. Tháng Ba. 2026
Không có nhận xét nào