Nguyễn Xuân Xanh
29 Tháng Ba, 2026
Cối xay gió xay ngũ cốc và làm ra bột, một nghề được công nhận là danh giá vào cuối thời Trung cổ.
Mọi đứa trẻ đều biết rằng bất kỳ quốc gia nào ngừng lao động, không chỉ trong một năm mà chỉ trong vài tuần, đều sẽ bị diệt vong.
— Karl Marx
Lao động là và vẫn luôn là nền tảng của sự thịnh vượng.
—Ludwig Erhard
Nếu phải làm phu quét đường, thì bạn hãy quét như Michelangelo vẽ tranh, như Shakespeare làm thơ, và như Beethoven sáng tác nhạc.
— Martin Luther King Jr.
Lao động định hình nên lịch sử nhân loại. Trong suốt lịch sử loài người, lao động luôn đóng vai trò trung tâm, và hình thức của nó liên tục thay đổi theo thời kỳ. Trong các xã hội tiền sử, lao động là yếu tố thiết yếu để sinh tồn. Những người săn bắt hái lượm phải tự kiếm ăn và lo chỗ ở hàng ngày. Với sự hình thành của các xã hội định cư, bản chất của lao động đã thay đổi. Với nông nghiệp và thủ công nó chiếm vị trí trung tâm. Vào thời Trung Cổ, lao động thường mang thêm ý nghĩa tôn giáo được thực hành tại các tu viện với cụm từ “cầu nguyện và lao động” (Latin: ora et labora) như Quy tắc của Thánh Benedict. Lao động được coi là một bổn phận thiêng liêng. Đạo đức lao động của Calvin/Tin Lành nhấn mạnh đến các đức tính chăm chỉ, tiết kiệm và thành công trong sự nghiệp như một dấu hiệu của sự lựa chọn của Chúa. Thành công trong sự nghiệp được hiểu là dấu hiệu của ân sủng Chúa, trong khi lười biếng và lãng phí bị coi là dấu hiệu của sự nguyền rủa. Con người qua lao động “tìm lại chính mình và trở thành con người nhiều hơn” như trong Thông điệp năm 1981 của Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Lao động thủ công trở thành một thành phần cốt lõi của văn hóa châu Âu. Thái độ của con người đối với nó là thước đo lường.
Giáo dục và đào tạo nghề đã phát triển đặc biệt ở châu Âu từ thời Trung cổ, rất bài bản và có tổ chức chặt chẽ. Lao động có những đóng góp vô cùng to lớn vào việc xây dựng nền văn minh châu Âu. Lục địa này không bị thống trị bởi một ý thức hệ hay triết lý khinh miệt lao động tay chân. Lao động thủ công gắn liền với nghệ thuật, với những kiến trúc vĩ đại. Truyền thống tốt đẹp đó kéo dài đến những giai đoạn cách mạng công nghiệp lần lược diễn ra trên nhiều châu lục. Một quốc gia muốn giàu có lên, muốn phát triển theo con đường công nghiệp hóa, không thể không phát triển lực lượng lao động thủ công hay sử dụng máy móc, khoa học thành thạo đến tinh vi của mình. Nhiều quốc gia châu Á từng bị kềm hãm bởi văn hóa nho giáo khinh miệt lao động thủ công, cuối cùng phải thay đổi và khép mình vào quy luật.
Ở châu Âu, học thuật hàn lâm và lao động chân tay phát triển song song và hài hòa, phù hợp với nhu cầu phát triển của từng giai đoạn. Ở phương Đông sự phát triển này bị mất cân đối nghiêm trọng, do ý thức hệ nho giáo. Cách hoạt động phát triển thế giới vật chất bị hạ thấp, xem thường một cách duy ý chí, khiến các ngành khoa học thực nghiệm và hữu dụng bị bế tắt. Điều này ảnh hưởng rất lớn lên sự phát triển tinh thần, làm cho phát triển này bị giới hạn, hoặc bế tắt theo. Khoa học như ngày nay chúng ta biết là sự kết hợp cuối cùng của khoa học lý thuyết (cái đầu) và lao động thực dụng (chân tay).
Nói theo quan điểm Marx, xã hội phương Đông bị “entfremdet”, “tha hóa”, vì không phát triển được trọn vẹn tiềm năng thiên phú của mình cho lao động tinh thần và tay chân, không phải chỉ cá nhân mà toàn xã hội bị như thế. Trong khi đó, xã hội phương Tây kết hợp được cả hay, lao động thủ công (Handarbeit) và lao động trí óc (Kopfarbeit), với một sự phân công xã hội một cách khoa học. Cá nhân có thể chỉ lao động một thứ, thủ công hay trí óc, nhưng tổng xã hội có cả hai, khác với phương Đông nơi những giá trị Khổng giáo chiếm vị trí độc tôn dành cho phát triển cái đầu. Nhưng cái đầu cuối cùng do sự trì trệ của lao động tay chân cũng bị trì trệ và lệch lạc luôn.
Sự phân công lao động giữa thủ công và trí óc là “phép biện chứng” của phương Tây. Chính phép biện chứng này thúc đẩy sự phát triển đi lên, trong khi phương Đông không có nó nên bị trì trệ. Nói như Marx, không có lao động chân tay, bánh xe lịch sử sẽ dừng lại, hoặc đình trệ.
Marx đã mô tả điều này ngay từ năm 1863:
Chính đặc điểm của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là các hình thức lao động khác nhau, bao gồm lao động trí óc và lao động chân tay, hoặc lao động trong đó một trong hai loại chiếm ưu thế, được tách biệt và phân phối cho những người khác nhau. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản việc sản phẩm vật chất trở thành sản phẩm chung của những người này, hay sản phẩm chung của họ được biến thành của cải vật chất. (Lý thuyết về Giá trị Thặng dư)
Lao động trí óc và lao động chân tay hòa nhập vào quá trình sản xuất một cách tất yếu không thể thiếu. Có thể nói, sự kết hợp hai loại lao động là một “sự hài hòa tiền định” của xã hội phương Tây, là động cơ tạo ra của cải tinh thần và vật chất. Họ đi bằng hai chân, trong khi phương Đông đi chỉ bằng một chân, nên dễ bị lệch lạc, và không nhanh, cho đến khi họ nhận thức được, và thay đổi. “Xã hội không thể tìm được sự cân bằng cho đến khi nó xoay quanh mặt trời của lao động”, như Marx nói. “Lao động là ngọn lửa sáng tạo.”
[I]
Giáo dục và đào tạo nghề Hàn Quốc
Thời hiện đại, giáo dục và đào tạo nghề (Vocational Education and Training, VET) được coi là điều kiện song hành không thể thiếu để một quốc gia tiến hành công nghiệp hóa thành công. Công nghiệp hóa cần phát triển giáo dục, và giáo dục và đào tạo nghệ theo quy mô nền công nghiệp đang lên đòi hỏi.
Tại Hàn Quốc, thời kỳ công nghiệp hóa thôi thúc 1960-1980 đòi hỏi giáo dục theo hướng phát triển kinh tế, phải chú trọng vào đào tạo nghề và kỹ thuật, hơn là đào tạo hàn lâm, để cho ra một lực lượng sinh viên tốt nghiệp có được những kỹ năng đáp ứng nhu cầu kinh tế của đất nước. Và thực tế, giáo dục nghề ở Hàn Quốc đã đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế, bằng cách cung cấp công nhân lành nghề và kỹ thuật viên cần thiết để thực hiện một loạt các kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm. Khoảng 20% học sinh trung học đang theo học tại các trường trung học dạy nghề. Thực tế, kỳ tích kinh tế của Hàn Quốc cũng gắn liền với kỳ tích giáo dục và giáo dục nghề của họ.
Năm 1950, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đưa ra lộ trình học 6-4-3-4, bao gồm 6 năm tiểu học, 4 năm trung học cơ sở, 3 năm trung học phổ thông (học thuật hoặc dạy nghề) và 4 năm cao đẳng hoặc đại học. Một hệ thống đào tạo kỹ thuật và dạy nghề cũng được bổ sung vào chính sách giáo dục, trong đó học sinh có thể lựa chọn con đường học thuật hay học nghề ngay từ sớm trong sự nghiệp học tập của mình. Việc học nghề lúc đầu bị dư luận không hoan nghênh, vì họ vẫn còn cho rằng con đường học thuật sẽ có triển vọng hơn, và phụ huynh và học sinh sẽ sẵn sàng theo đuổi nó hơn là con đường học nghề.
Việc phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo nghề nhằm hai đích, một mặt tạo điều kiện cho học sinh sau 4 năm trung học bước vào con đường học nghề để tìm được việc làm ổn định và tiếp tục phát triển sự nghiệp, mặt khác, họ không nhất thiết phải học đại học. Hệ thống này sẽ giải quyết các vấn đề xã hội như tình trạng chạy đua vào đại học quá mức, lãng phí nguồn nhân lực nghiêm trọng và tỷ lệ thất nghiệp hàn lâm cao.
Khi ngày càng có nhiều trường dạy nghề được thành lập, nhiều thanh niên Hàn Quốc nhận thức rằng việc phát huy sở thích và khả năng của mình trong học tập quan trọng hơn nhiều so với tên tuổi của trường đại học.
Mặc dù vấp phải nhiều chỉ trích từ công chúng về việc nhấn mạnh đào tạo nghề do mâu thuẫn với các giá trị Nho giáo truyền thống, nhà nước vẫn tiếp tục tăng cường giáo dục nghề, đặc biệt là sau khi chuyển đổi cơ cấu công nghiệp nhẹ sang công nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng (HCI) vào những năm 70. Thập niên 1960 và 1970 chứng kiến sự hỗn loạn trong hệ thống giáo dục do sự phản kháng của công chúng và sự chống đối của các trường tư thục đối với nhà nước khi họ cố gắng phải đáp ứng nhu cầu nhà nước đưa ra. Trong cuộc đấu tranh với tư tưởng yangban thì thực học, sirhak, cuối cùng đã thắng thế. Xã hội không thể chỉ đi bằng một chân.
Hàn Quốc tiến lên công nghiệp hóa không phải dựa vào lực lượng yangban, giới nho học thống trị hàng nghìn năm không đụng móng tay, mà cần đến hàng triệu con người “thực học” như phong trào sirhak đã manh nha thế kỷ XVII. Trong giai đoạn 1960 đến 1980 là thời kỳ công nghiệp hóa mạnh mẽ của Hàn Quốc, nhu cầu lao động tăng cao, giáo dục nghề đã đóng góp rất đáng kể vào việc cung cấp nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp đang lên. Số lượng sinh viên tốt nghiệp giáo dục nghề liên tục tăng từ 47.000 người năm 1965 lên 201.000 người năm 1980 và 274.000 người năm 1990, và tỷ lệ việc làm của họ tăng từ 35,5% lên 51,1% và 76,6% tương ứng. (Có thể thống kê tôi chưa đầy đủ) Năm 1977, khi ngành công nghiệp nặng và hóa chất đạt đỉnh điểm, ngân sách dành cho giáo dục nghề đã được tăng lên ngang bằng với ngân sách giáo dục đại học.
Năm 2003, TT Roh Moo-hyun đưa ra mô hình Chính phủ Tham gia (“participatory government”, với lý tưởng về sự tham gia và đổi mới, thì giáo dục nghề nghiệp trung học đã bước vào một giai đoạn mới. Chính phủ mới đã cam kết cải thiện các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong chiến dịch tranh cử tổng thống, và vào tháng 5 năm 2004, chính tổng thống đã chính thức đề cập đến kế hoạch “mở rộng đầu tư vào giáo dục nghề nghiệp” trong bài phát biểu tại kỳ họp khai mạc Quốc hội. Năm 2007, Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực đã công bố Kế hoạch Phát triển Trường Trung học Nghề nghiệp Hiện thực hóa Giấc mơ, với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cốt lõi có kỹ năng thực hành bằng cách nâng cao chất lượng của các trường trung học nghề. Để đạt được mục tiêu này, kế hoạch dự kiến chuyển đổi 500 trường trung học nghề thành trường trung học chuyên biệt cho các ngành công nghiệp khác nhau vào năm 2021, nhằm giúp các trường này bám rễ trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Sự thành công của giáo dục nghề Hàn Quốc bắt nguồn tự sự quan tâm và hợp tác của chính phủ, các ngành công nghiệp và các viện nghiên cứu và giáo dục đang hợp tác để thiết lập một hệ thống giáo dục nghề nghiệp đổi mới, hướng đến nhu cầu và dựa trên năng lực. Đây là điều Việt Nam chưa có.
Tranh minh họa lớp học “Seodang” (trường làng tư nhân truyền thống) do Kim Hong-do vẽ vào cuối thế kỷ 18.
Hai yếu tố làm cho giáo dục và đào tạo nghề ở Hàn Quốc thành công là (1) sự lãnh đạo mạnh mẽ của chính phủ và sự phối hợp giữa các bộ, ngành; và (2) các cơ chế thể chế thúc đẩy hiệu quả hoạt động của hệ thống giáo dục nghề nghiệp.
Trường Trung học Meister (-High School) Hàn Quốc
Năm 2012 Viện McKinsey Global Institute nhận định, rằng thu nhập trọn đời của một sinh viên tốt nghiệp đại học không còn đủ để bù đắp chi phí cần thiết để có được bằng cấp, cũng như nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường giáo dục nghề để giảm thiểu về mặt con người do áp lực thành tích và tỷ lệ thất nghiệp cao trong giới trẻ có trình độ đại học của đất nước. Quan trọng hơn, cần nâng cao chất lượng đào tạo.
Sau đó, chính phủ Hàn Quốc, các trường học, và ngành công nghiệp, với sự hỗ trợ từ chính phủ, tổng thống (Lee Myung-bak) và ngành công nghiệp Thụy Sĩ, quyết định nâng cao chất lượng của lĩnh vực giáo dục nghề với một mạng lưới các trường dạy nghề gọi là “Trường Trung học Meister”, cái tên tiếng Đức muốn nhấn mạnh trình độ kỹ năng và trình độ chuyên môn cao nhất. Các trường này thực hiện đúng như tên gọi của mình bằng cách đào tạo ra những “Meister” (bậc thầy) mà ngành công nghiệp đang tìm kiếm. Các trường trung học này dạy cho học sinh kiến thức thực tiễn để họ có thể làm việc trong lĩnh vực công nghiệp như những chuyên gia ngay sau khi tốt nghiệp.
Các trường này được thiết kế đặc biệt để chuẩn bị cho thanh niên làm việc trong các ngành nghề đòi hỏi kỹ năng cao, các công việc sản xuất cần tay nghề cao. Các trường này dựa trên mô hình trường dạy nghề kiểu Đức, nhằm đào tạo thanh niên trở thành những bậc thầy (Meister) trong một nghề thủ công. Đầu vào đòi hỏi những sinh viên có khiếu.
Hỗ trợ sinh viên từ phía Meister Hàn Quốc:
– Học sinh được miễn học phí, phí nhập học và phí hoạt động của trường.
– Học sinh thuộc gia đình có thu nhập thấp hoặc học sinh có thành tích học tập tốt có thể được hưởng các suất học bổng bổ sung.
– Học sinh có thể tham gia các chương trình du học tại các trường dạy nghề ở nước ngoài, hoặc các chương trình toàn cầu hóa khác nhau ở cấp quốc gia hoặc địa phương.
– Trường cung cấp chỗ ở ký túc xá tiện nghi giúp học sinh tập trung vào việc học.
Việc làm:
– Nhà trường hợp tác với các công ty và chính quyền địa phương trong suốt quá trình hoạt động của trường để giúp học sinh tìm được việc làm phù hợp.
Tỷ lệ tìm được việc làm sau khi học xong trường Meister là rất lớn: gần đến 100%. Trường Meister có thể là một sự thay thế tốt cho đại học. Học viên ra trường có thể tìm được việc làm tại các tập đoàn lớn như Samsung, vượt trội hơn cả những ứng viên tốt nghiệp từ các trường đại học danh tiếng. Ngoài ra, nếu một học sinh làm việc trong ngành công nghiệp ba năm sau khi tốt nghiệp trường nghề, họ cũng sẽ được miễn kỳ thi tuyển sinh đại học cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, chính phủ Hàn Quốc cũng đã thiết lập triết lý “làm trước, học (đại học) sau”, theo đó sau khi tốt nghiệp, học sinh được khuyến khích tìm việc làm trước khi lên kế hoạch học đại học. Trong Thời đại Thông tin, nhu cầu về kỹ năng nghề nghiệp sẽ tăng lên, trái ngược với nhu cầu lao động phổ thông đang giảm, chủ yếu do những tiến bộ công nghệ.
Chứng chỉ ra trường bao gồm năng lực cơ bản về nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, khả năng ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ thông tin và phẩm chất cá nhân của học sinh. Ví dụ, tại một trường trung học nghề chuyên về nông nghiệp, năng lực chuyên môn của học sinh được đánh giá thông qua thực hành nông nghiệp, làm dự án, hồ sơ năng lực và các chứng chỉ kỹ thuật quốc gia liên quan.
Tại các trường trung học Meister, tỷ lệ việc làm cao, mức lương cao hơn, và sự hài lòng về giáo dục trung học phổ thông của các bên liên quan đều cao. Sự hài lòng về công việc của học sinh tốt nghiệp cũng cao hơn so với các trường trung học nghề khác. Nhiều trường trung học Meister đã tích cực tham gia vào hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường, mang đến cho các doanh nghiệp những cơ hội đáng kể để phát triển nhân tài phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và cuối cùng đóng góp cho nền kinh tế khu vực về lâu dài.
Tính đến năm 2021, trong số 2.375 trường trung học phổ thông, có 540 trường trung học dạy nghề (bao gồm cả trường trung học dạy nghề chuyên biệt và trường trung học kỹ thuật Meister) ở Hàn Quốc, và có 52 trường trung học kỹ thuật cao cấp (Meister), chiếm 2,2% tổng số trường trung học phổ thông. Số lượng và tỷ lệ trường trung học kỹ thuật Meister đã tăng đều đặn hàng năm từ 40 trường (1,7%) năm 2015 lên 52 trường (2,2%) năm 2021. Chính phủ có kế hoạch mở rộng con số này lên 65 trường vào năm 2027.
Quảng cáo về Trường Meister
Trường Trung học Kỹ thuật Điện tử Busan (Busan Electronics Technical High School) được chuyển đổi thành Trường Trung học Meister Bán dẫn Hàn Quốc để đào tạo các chuyên gia công nghệ trong lĩnh vực bán dẫn công suất (power semiconductor). Chính quyền thành phố Busan, Sở Giáo dục, Hội đồng thành phố, Phòng Thương mại và Công nghiệp Busan đã ký kết thỏa thuận hợp tác. Dự kiến sẽ có 128 kỹ sư chuyên ngành bán dẫn công suất (power semiconductor) được đào tạo mỗi năm. Chính quyền Busan còn muốn thu hút thêm đầu tư vào những trường như thế nữa.
Nguồn gốc và ý nghĩa của từ Meister
Meister là một khái niệm đặc biệt và nổi tiếng trong giáo dục nghề của Đức. Đó là danh hiệu gắng liền với năng lực chuyên môn cao nhất trong lĩnh vực nghề thủ công (craft) và là bằng cấp được nhà nước công nhận. Chứng chỉ này được gọi là Meisterbrief. Bằng cấp này bao gồm đào tạo lý thuyết và thực hành trong nghề, cũng như đào tạo về kinh doanh và pháp luật. Nó còn bao gồm cả năng lực của Meister trong việc đào tạo người học nghề. Những năng lực này chuẩn bị cho người thợ cả có thể điều hành doanh nghiệp riêng hoặc đảm nhiệm các vị trí cao hơn trong công ty.
Để trở thành một thợ thủ công bậc thầy (Meister), thông thường học viên cần phải hoàn thành khóa đào tạo nghề trong lĩnh vực mà người đó muốn thi, kết thúc bằng kỳ thi cuối khóa gọi là Gesellenprüfung (kỳ thi thợ lành nghề). Nếu đáp ứng được các yêu cầu này, ứng viên có thể tham gia các khóa học chuẩn bị cho kỳ thi Meisterprüfung (kỳ thi thợ thủ công bậc thầy). Thời gian học kéo dài từ 1 đến 4 năm tùy thuộc vào ngành nghề và khóa học. Kỳ thi bao gồm phần lý thuyết, thực hành và vấn đáp, kéo dài từ 5 đến 7 ngày (tùy thuộc vào ngành nghề).
Theo luật, thợ lành nghề (Geselle) và thợ cả (Meister) tự động là thành viên của phòng thương mại thủ công khu vực (Handwerkskammer), một cơ quan công quyền tự quản. Phòng thương mại này tổ chức đào tạo nghề và giám sát kỳ thi của thợ lành nghề và thợ cả.
[II]
Hệ thống giáo dục nghề kép (song hành) của Đức
Hệ thống đào tạo kép gồm có hai phần, việc học bán thời gian tại trường nghề (Berufsschule), kết hợp với việc học nghề tại một doanh nghiệp hoặc cơ quan công ích. Cơ sở pháp lý là một hợp đồng học nghề, được công ty đào tạo ký kết với người học nghề. Phần thực hành của khóa đào tạo thường được cung cấp tại công ty – có thể được bổ sung bởi các khóa học liên công ty, trong khi các khóa học nghề và các lớp giáo dục đại cương tại trường dạy nghề. Người học nghề dành phần lớn thời gian của mình tại công ty, nơi đào tạo. Trình độ chuyên môn không chỉ giới hạn ở các kỹ năng kỹ thuật; người học nghề được dạy hoặc chỉ dẫn tất cả các khía cạnh liên quan đến một nghề nghiệp.
Trong hệ thống đào tạo nghề kép, khu vực doanh nghiệp có phần trách nhiệm chính trong việc đào tạo thế hệ lao động lành nghề tiếp theo, do đó đảm bảo trình độ phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. Đây cũng là trách nhiệm xã hội của công ty.
Bước cao hơn là thợ bậc thầy Meister. Trong nhiều ngành nghề, chứng chỉ thợ bậc thầy là điều kiện tiên quyết để tự kinh doanh. Danh hiệu này là một tài sản quý giá cho bất kỳ doanh nghiệp nào. Đối với những người thợ không muốn tự kinh doanh, chứng chỉ thợ bậc thầy có thể là một bước đệm đáng giá để thăng tiến trong sự nghiệp với tư cách là một nhân viên. Cuối cùng, việc đạt được chứng chỉ thợ bậc thầy cũng mở ra cơ hội tiếp tục học lên đại học sau này.
Các khóa đào tạo Thợ Bậc thầy thường được chia thành bốn phần thi:
-Phần Thực hành (I)
-Phần Lý thuyết (II)
-Phần Quản trị Kinh doanh và Pháp lý (III)
-Phần Sư phạm Nghề nghiệp (IV)
Có các bậc thầy về công nghiệp (Industriemeister), chuyên kỹ thuật (Fachmeister) và thủ công (Handwerkmeister). Chương trình đào tạo của bậc thầy chuyên kỹ thuật và công nghiệp tập trung vào các khía cạnh kỹ thuật của nghề nhiều hơn. Có hơn 3.000 trường đào tạo thợ bậc thầy ở Đức.
Chi phí đào tạo bậc thầy khác nhau tùy theo ngành nghề: một số nghề như thợ thịt, thợ làm tóc (4.000 euro) đến thợ điện (9.000 euro). Nhưng tên tuổi Meister rất đáng giá: chi phí lấy chứng chỉ thợ bậc thầy thường tự hoàn vốn sau bốn đến năm năm.
Cuộc gặp gỡ của những người sắp làm cuộc hành trình “Wanderjahre” tại Bad Kissingen (2010) (Wikipedia)
[III]
Giáo dục và đào tạo nghề truyền thống ở châu Âu
Xã hội không thể tìm được sự cân bằng cho đến khi nó xoay quanh mặt trời của lao động.
— Karl Marx
Mối nguy hiểm lớn nhất đối với hầu hết chúng ta không nằm ở việc đặt mục tiêu quá cao rồi thất bại, mà là đặt mục tiêu quá thấp và đạt được mục tiêu của mình.
— Michelangelo
Nếu châu Âu thời Trung cổ, thời sống lại của châu lục sau đêm dài tăm tối, dần dần được bao phủ bởi những trường đại học mới, thì mảnh đất đó cũng được bao phủ bởi rất nhiều nhà thờ Gothic. Nếu đại học lúc đó học bảy nghệ thuật khai phóng (septem artes liberales), thì thực tế, mảng giáo dục nghề cũng triển khai bảy môn cơ khí (septem artes mechanicae) quan trọng cho thời bấy giờ. Đó là: kỹ thuật dệt, luyện kim, xây dựng, hàng hải, nông nghiệp, săn bắn, sân khấu và trị bệnh. Học sinh nghề phải học vừa lý thuyết vừa thực hành. Nói chung, người ta quan niệm, khoa học được Chúa ban cho nhân loại như một công cụ để chống lại những yếu đuối và vô minh của con người bắt nguồn từ tội lỗi nguyên thủy. Khoa học lý thuyết chống lại sự ngu dốt, trong khi khoa học thực hành, bao gồm cả đạo đức, chống lại sự bất công vì hoàn cảnh. Chỉ có học để phát triển năng khiếu trong con người mà trời cho thì mới bù đắp được. Đây có thể cũng là câu trả lời cho câu hỏi: Học để làm gì? Nhưng chưa hết, ở tầng cao hơn, Einstein quan niệm tri thức về những điều huyền bí của vũ trụ như một sự khải huyền:
Điều đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm là sự huyền bí. Đó là cảm giác nền tảng nằm ở cái nôi của nghệ thuật và khoa học đích thực. Ai không biết điều đó và… không còn biết kinh ngạc nữa, thì, có thể nói, đã chết và ánh mắt đã tắt.
— Albert Einstein, Thế giới quan của tôi, 1934
Chính con người đã tạo ra khoa học và nghệ thuật, thế giới văn hóa của mình. “Tri thức là sức mạnh”, Francis Bacon (1561–1626) tuyên bố. Chính xác ông nói trong tác phẩm nền tảng của triết lý ông Novum Organon:
Tri thức và sức mạnh của con người hòa quyện làm một; bởi vì nếu không hiểu biết về nguyên nhân, kết quả sẽ thất bại. Thiên nhiên chỉ có thể được chế ngự bằng cách tuân theo nó; và những gì xuất hiện như nguyên nhân trong sự chiêm nghiệm chính là quy luật vận hành.
Ngoài nhà thờ Gothic, kỹ thuật đóng tàu cũng rất phát triển, mà trung tâm của nó là Xưởng đóng tàu Venice vĩ đại, nơi hàng vạn công nhân làm việc, một phần văn hóa khoa học châu Âu. Venice Arsenal là một quần thể lịch sử gồm các xưởng đóng tàu và kho vũ khí từng là trung tâm công nghiệp của Cộng hòa Venice. Đây là trung tâm đóng tàu lớn nhất và quan trọng nhất thế giới vào thời kỳ đỉnh cao, biểu tượng cho sức mạnh hải quân và kinh tế của thành phố. Galilei rất thán phục tài năng kỹ thuật của những nghệ nhân ở đây, họ rất thông thạo toán học và kỹ thuật, và được gọi là các virtuosi, những người lão luyện và tinh xảo. Chính những virtuosi này đã xây dựng nền văn minh châu Âu mà chúng ta có thể thấy trong những chuyến đi du lịch.
Khu đóng tàu vĩ đại của Cộng hòa Venice, 1797, của Gianmaria Maffioletti (Bảo tàng Lịch sử Hải quân)
Đầu của tượng David (toàn thân cao 5.17m) do Michelangelo tạc từ một phiến đá cẩm thạch khổng lồ với những dụng cụ đơn giản được kê ra bên phải. Ông bắt đầu tạc từ tháng 9 năm 1501 lúc đó mới 26 tuổi, và hoàn thành tháng 5 năm 1504. Phiến đá vô hồn khổng lồ cao 5.5 mét dưới bàn tay nghệ nhân đã biến thành một trong những công trình nghệ thuật vĩ đại nhất thế giới. Ngoài ra, Michelangelo còn tạc những bức tượng đồ sộ nổi tiếng khác như Pietà (Lòng trắc ẩn, hoàn thành khoảng 1498–1499) và Moses (thời gian tạc 1513–1515). Có lần, khi được yêu cầu mô tả quá trình điêu khắc của mình, Michelangelo đã giải thích: “Tôi đã nhìn thấy thiên thần trong phiến đá cẩm thạch, và tôi đã tạc cho đến khi thiên thần đó được giải phóng.”
Để hiểu giáo dục và đào tạo nghề hiện đại, chúng ta nên hiểu lịch sử phát triển nghề của châu Âu. Đây là chương có lẽ thú vị nhất. Giáo dục nghề phát triển nhanh từ thời Trung cổ trung kỳ, lúc đại học cũng được thành lập. Tác dụng lớn của đại học lên kinh tế thực tế quan trọng vào những thập niên cuối của thế kỳ XIX thông qua mô hình đại học nghiên cứu Humboldt, khi nghiên cứu cơ bản và khoa học ứng dụng phát triển mạnh và thâm nhập sản xuất. Trong khi đó, giới thủ công đã có công xây dựng châu Âu rất lớn từ trước đó. Hãy xem các nhà thờ lớn Gothic thế kỷ XIII. Hãy xem những lâu đài rải rác trên khắp châu Âu. Hãy xem tài năng của Michelangelo tạo được một bức tượng vĩ đại như David, hay Pietà, hoặc Moses, bằng những dụng cụ thủ công thô sơ. Hãy xem bàn tay sáng tạo của Gutenberg đã tạo ra chiếc máy in. Hãy xem những người thợ thủ công của Anh đã làm nên cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII, hay những đồng nghiệp họ ở Đức trong thế kỷ XIX. Hoặc những cha đẻ của ngành đường sắt Anh, Đức, ngành ô tô như Otto, Daimler, Benz, Maybach. Bàn tay của những thợ thủ công này đã xây dựng nên các xã hội châu Âu. Họ là những “tinkerer”, “virtuosi”, những người mày mò cải tiến và đổi mới. Thung lũng Silicon cũng từng đầy những tinkerer như thế để làm ra những chiếc máy tính cá nhân hôm nay.
Học làm bánh mì thời Trung cổ
Học nghề đóng giày
Một người nông dân xay lúa mì bằng tay trên cối xay – tại Đức vào thế kỷ 16
Nghề khai mỏ Trung cổ
Cảnh đóng tàu thế kỷ XVII
Đóng tàu là một nghề thời Trung Cổ rất được coi trọng và có thu nhập cao. Tàu góp phần quan trọng trong các cuộc chiến tranh và chinh phục các vùng lãnh thổ mới. Thợ đóng tàu là những chuyên gia lành nghề phụ trách thiết kế và đóng tàu thuyền. Họ phải có kiến thức chuyên môn như toán học, khoa học và thiết kế, và là những người thợ thủ công có tay nghề cao.
Hầu hết các quốc gia châu Âu (trừ Nga) có một lịch sử giáo dục và đào tạo nghề rất giống nhau. Từ thế kỷ 12 trở đi các phường hội của từng nghề thủ công được thành lập tại các thành phố hay thị trấn. Các phường hội tự soạn thảo điều lệ riêng, những quy định ràng buộc tất cả các thành viên. Họ hoàn toàn tự quản. Đại học Trung cổ cũng ra đời như một phường hội. Những quy tắc và quy định này xác định cách thức sản xuất sản phẩm và đặt ra giá cả “thân thiện với người tiêu dùng”. Hàng hóa phải chịu sự kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt.
Hình minh họa về quy trình nhuộm lụa trong bộ “Bách khoa toàn thư” của Diderot và d’Alembert thể hiện các giai đoạn khác nhau trong nghề thủ công này.
Vào thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, hệ thống phường hội ở châu Âu đã mất đi phần lớn tầm quan trọng của nó. Học thuyết kinh tế tự do, vốn khuyến khích “sự vận hành tự do của các lực lượng thị trường”, coi hệ thống phường hội truyền thống là một trở ngại cho cạnh tranh và là rào cản đối với thương mại tự do. Tuy nhiên các tiêu chuẩn đào tạo vẫn còn là kim chỉ nam trong giáo dục nghề cho đến nay.
Giáo dục và đào tạo nghề trong hệ thống phường hội
Hệ thống phường hội duy trì một hệ thống phân cấp nghiêm ngặt trên khắp châu Âu: người học việc, thợ phụ, thợ cả (apprentice, journeyman và meister). Danh hiệu thợ cả là bằng chứng duy nhất bằng văn bản về năng lực, trong khi “giấy chứng nhận học nghề” (Gesellenbrief) xác nhận việc hoàn thành giai đoạn đào tạo đầu tiên. Văn hóa của các trường nghề gồm ba cột trụ: Làm, Học, và Thảo luận. Trình độ chuyên môn của thợ lành nghề cũng được công nhận ở các quốc gia khác trên châu Âu.
Bước thứ hai, nếu không bị ràng buộc gia đình, thợ lành nghề sẽ còn làm thêm một cuộc hành trình nhiều năm (Wanderjahre) từ nơi này đến nơi khác để học hỏi những bậc thầy khác, kể cả có thể ở nước ngoài, để hoàn thiện tài năng và phát triển óc sáng tạo của mình cho chín mùi. Thời gian học thường kéo dài từ hai đến bốn năm, và lâu hơn đối với những nghề chuyên môn cao. Sau đó, họ sẽ nộp đơn xin gia nhập phường hội nghề để được công nhận là thợ cả, Meister. Đôi khi họ phải sáng tạo một tác phẩm đặc biệt để chứng minh sự độc đáo của mình.
Bức tranh khắc gỗ này từ một cuốn sách in thời kỳ đầu ở Hà Lan (năm 1470) cho thấy các nghệ sĩ và thợ thủ công với dụng cụ của họ: người nghiền thuốc màu, họa sĩ, thợ kim hoàn, nhà điêu khắc, người làm đàn organ, thợ làm đồng hồ và người sao chép bản thảo.
Đầu thế kỷ XX, các hiệp hội sử dụng lao động của Đức trong ngành luyện kim, điện, hóa chất và các ngành công nghiệp khác đã tạo ra một loại công nhân lành nghề mới, được gọi trong tiếng Đức là Facharbeiter (tạm dịch: người lao động chuyên ngành) Họ sao chép hình thức học nghề truyền thống của thợ thủ công, nhưng đã thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập.
Đến năm 1968, một đạo luật về học nghề có hiệu lực, được gọi là Luật Đào tạo nghề (Berufsbildungsgesetz), quy định quyền và nghĩa vụ của người học nghề và người sử dụng lao động cho đến ngày nay. Nó trao cho các hiệp hội người sử dụng lao động và công đoàn, cùng với các cơ quan nhà nước, quyền xây dựng chương trình đào tạo nghề trong các doanh nghiệp; hiện nay, chương trình này bao gồm gần 400 ngành nghề. Các chương trình này có tính chất ràng buộc đối với cả hai đối tác bên trong hợp đồng học nghề.
[IV]
Không chỉ những gì bẩm sinh, mà cả những gì được rèn luyện mới làm nên con người.
— Goethe
Giáo dục nghề có tầm quan trọng nhân văn lớn khiến cho đại văn hào Goethe viết tác phẩm Wilhelm Meister’s Wanderjahre xuất bản đầu tiên năm 1821. Đó là một tiểu thuyết bàn về các chủ đề giáo dục toàn diện (Bildung), phát triển cá nhân, dấn thân xã hội và đời sống cộng đồng. Quyển đầu tiên của ông có tên Những năm học việc của Wilhelm Meister (Lehrjahre, 1795/96). Đó là những tiểu thuyết giáo dục, Bildungsroman, thể loại văn học tập trung vào sự phát triển nhân cách, sự tương tác giữa khát vọng cá nhân và những ràng buộc xã hội, tinh luyện tâm hồn. “Tôi phải nói với bạn bằng một từ, rằng hãy tự giáo dục bản thân, như tôi hiện tại, điều đã là mong muốn và ý định mơ hồ của tôi từ khi còn trẻ.” Giáo dục tốt nhất dành cho người khôn ngoan “được tìm thấy trong các cuộc du hành.” Triết lý của lao động: “Biết thôi chưa đủ, còn phải áp dụng nữa; muốn thôi chưa đủ, còn phải làm nữa.” Chính công việc làm nên người thợ. Ông nhận xét “Chúng ta gọi những người mà chúng ta luôn luôn học hỏi là bậc thầy. Nhưng không phải ai chúng ta học hỏi đều xứng đáng với danh hiệu này.” Goethe xác định, “Không chỉ những gì bẩm sinh, mà cả những gì được rèn luyện mới làm nên con người”. Một người không chỉ được xác định bởi những phẩm chất bẩm sinh, mà còn bởi những gì họ tiếp thu và phát triển thông qua kinh nghiệm lao động và giáo dục. Học hỏi và tự rèn luyện là điều kiện tiên quyết để phát triển phần thiên phú, để làm thành tính cách có sắc thái riêng. Không lao động thì những gì bẩm sinh cũng sẽ mai một. Lao động và kiên trì theo đuổi những gì họ có khả năng là ngọn lửa để tinh luyện cái bẩm sinh và tính cách.
Wolfgang von Goethe (1749-1832)
***
Dưới đây là một vài nhân vật nổi tiếng của Đức đã từng trải qua giai đoạn Wanderjahre để trở thành Meister:
August Bebel (1840–1913), thợ tiện, đồng sáng lập Đảng Xã hội Đức SPD.
Robert Bosch (1861–1942), thợ máy, nhà công nghiệp, người sáng lập công ty Robert Bosch GmbH.
Albrecht Dürer Trẻ (1471–1528), họa sĩ, nghệ sĩ quan trọng trong thời kỳ Chủ nghĩa nhân văn và Cải cách.
Adam Opel (1837–1895), thợ máy, người sáng lập công ty ô tô Opel.
Friedrich Ebert (1871–1925), thợ làm yên cương, Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Weimar”.
Tóm lại, giáo dục và đào tạo nghề đã tồn tại ít nhất từ thời Trung cổ, chưa kể thời Hy lạp trước đó, và phát triển mạnh mẽ, cung cấp nguồn nhân lực cho đủ mọi ngành lao động của xã hội. Trong khi các đại học Trung cổ dạy “bảy nghệ thuật khai phóng” (septem artes liberales) thì cùng thời cũng có “bày nghệ thuật cơ khí” (septem artes mecanicae) cho giáo dục nghề. Nó bao gồm Dệt, Luyện kim, Kiến trúc-Xây dựng, Đóng tàu-Hàng hải-Thương mại, Nông nghiệp, Săn bắn, Sân khấu và Y học.
Lao động thủ công được kính trọng và đánh giá cao ở xã hội phương Tây. Lao động hữu ích cũng là nhân phẩm con người. Những người thợ thủ công không ai khác đã xây dựng thế giới của quốc gia. Lao động thủ công sẽ không ngừng được cải thiện để trở thành một bộ phận thiết yếu cho sự phát triển khoa học và sự phồn vinh. Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên ở Anh do chính thợ thủ công thực hiện, không phải do thạc sĩ, tiến sĩ. Các cuộc công nghiệp hóa tiếp theo sau ở các quốc gia phát triển chậm phần lớn cũng như thế, như Đức, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản.
August Borsig là một thợ cơ khí học việc tại trường nghề công nghiệp của Đức đầu thế kỷ XIX. Công ty Borsig-Werke của ông được thành lập năm 1836 tại Tegel, Berlin, chuyên sản xuất đầu máy xe lửa, phục vụ cho cuộc công nghiệp hóa đang diễn ra. Chỉ trong vài thập kỷ công ty đã trở thành nhà sản xuất đầu máy xe lửa lớn nhất châu Âu. Năm 1918, nhà máy đã kỷ niệm việc đóng đầu máy xe lửa thứ 10.000. Di sản của ông nằm ở nhà máy Borsig tại Tegel vẫn còn tồn tại đến hôm nay. Nó trỏ thành một di tích lịch sử có tính giáo dục cho tuổi trẻ.
Nhà công nghiệp chế tạo đầu máy xe lửa August Borsig (1804 –1854)
Hình ảnh về Borsig-Werke, giai đoạn trước và sau chiến tranh, được thực hiện năm 2022:
https://www.youtube.com/watch?v=MeMcZdBoXbg
[V]
Con không thể viết một cách thi vị, bởi vì con không phải là nhà thơ. Con không thể tạo ra những cụm từ mỹ thuật tinh tế để tạo nên ánh sáng và bóng tối, bởi vì con không phải là họa sỹ; con cũng không thể diễn tả suy nghĩ và cảm xúc của con bằng cử chỉ hay dấu hiệu, bởi vì con không phải là vũ công; nhưng con có thể làm những điều đó bằng âm điệu, vì con là một nhạc sĩ.
— Amadeus Mozart, trong thư gửi cho cha
Chúng ta phải áp dụng phương pháp ‘đầu tư’ vào giáo dục… Phương pháp ‘đầu tư’… có nghĩa là đào tạo nam nữ cho những công việc sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
—Seretse Khama, tháng 8 năm 1970, tổng thống đầu tiên của Botswana
Nhiều tên tuổi thế giới là những người đã trải qua học việc. Danh họa Leonardo da Vinci ở tuổi 15 may mắn đã được nhận học việc tại một xưởng vẽ của master Andrea del Verrocchio nổi tiếng ở Florence, và ông đã thể hiện tài năng của mình ngay trong xưởng vẽ trước khi trở thành master độc lập. Faraday, nhà hóa học và vật lý học người Anh đã có công đóng góp cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa học, người chỉ nhận được những kiến thức cơ bản về giáo dục, học đọc, viết và tính toán tại Trường học Chủ nhật của nhà thờ. Ông làm người học việc cho một người đóng sách và bán sách mà ông trước đó đã làm việc giao báo để kiếm sống. Faraday đã tận dụng cơ hội để đọc một số cuốn sách được mang đến để đóng lại. Bài viết về điện trong ấn bản thứ ba của Bách khoa toàn thư Britannica đặc biệt thu hút ông và đã dẫn ông đến việc thực hiện các thí nghiệm về điện và hóa học. Johannes Gutenberg là người học việc của một thợ kim hoàn, một kỹ năng mà ông học được từ truyền thống gia đình về nghề kim loại và điều đó đã ảnh hưởng đến công việc sau này của ông về máy in. Benjamin Franklin làm người học việc in ấn cho công ty của anh trai mình khi mới mười hai tuổi. Nghề in ấn đòi hỏi sự chính xác và giúp ông tiếp xúc với thế giới của những ý tưởng và kiến thức kỹ thuật, tạo nền tảng cho những nghiên cứu khoa học sau này của ông, đặc biệt là trong lĩnh vực điện.
Ở những giai đoạn mà đại học châu Âu là nơi chỉ dạy bảy môn nghệ thuật khai phóng, thần học, luật học, y khoa, thì giáo dục và đào tạo nghề là lò đào tạo những con người hữu ích cho xã hội, xây dựng thế giới vật chất, nhà thờ, lâu đài, tàu thủy, máy xay lúa, cầu cống …. Nhưng cho dù đại học đã phát triển, không phải ai cũng phù hợp với con đường hàn lâm. Giáo dục là cần phải trao cho mỗi người ngành nghề phù hợp với năng khiếu bẩm sinh của họ. Những người không phù hợp với con đường học thuật có thể phù hợp với những ngành thủ công, kỹ thuật. Họ có thể trở thành những người có ích cho xã hội nếu được học nghề thay vì là gánh nặng. Phục vụ công nghiệp hóa là một nhiệm vụ to lớn, nhưng giáo dục nghề còn phục vụ cho phát triển nguồn nhân lực có tay nghề chuẩn cho xã hội. Xã hội châu Âu đã đi bằng hai chân: lớp trí thức hàn lâm và lớp thợ thủ công. Lớp người đầu được nuôi dưỡng bằng giáo dục đại học. Lớp người sau bởi giáo dục nghề, nhưng cơ sở của nó là những workshop, Werkstätte, của các Master. Mãi đến thế kỷ XIX mới có trường nghề đông học viên. Đại học có thể bị khủng hoảng khi bị chi phối bởi quyền lực hay ý thức hệ, nhưng cuộc sống thì vẫn phát triển trong đó giới thợ thủ công luôn luôn là cần thiết. Từ thế kỷ XVII, thực học phát triển mạnh mẽ theo triết lý của Francis Bacon dẫn tới những sự phát triển vượt bật trong khoa học cũng như trong đời sống kinh tế mà cụ thể nhất là cuộc cách mạng công nghiệp nửa sau thế kỷ XVIII.
Vấn đề của Việt Nam hiện nay là lãnh đạo chính trị, các bộ, ba ngành và doanh nghiệp có nhận ra vấn đề thiếu một hệ thống giáo dục nghề căn bản, hợp lý có sự hợp tác của nhiều bên hay không, có thấy đó là một sự đầu tư tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công nghiệp hóa hay không, mà nếu không có nó, những bước đi của công nghiệp hóa sẽ gặp khó khăn. Giáo dục nghề góp phần nâng cao năng suất lao động của Việt Nam trực tiếp và nhanh chóng. Nó rất xứng đáng cho đầu tư. Nó mở ra cả thiên hà khả năng và giải quyết được nhu cầu thợ lành nghề ở mọi cấp độ, đặt con người vào đúng vị trí hơn, làm cho xã hội phát triển hài hòa, và mỗi tầng lớp tìm thấy sự đóng góp ý nghĩa, và hạnh phúc của mình trong xã hội. Chính ở lao động nghề mà triết lý sống, quan niệm con người và xã hội của Tây và Đông khác nhau. Không phát triển đầy đủ theo thiên phú, con người sẽ thấy rất vong thân, trong lao động tay chân hoặc trí óc. Ở lao động tay chân mà con người, và xã hội có tổ chức, có sức mạnh xây dựng phi thường. Óc sáng tạo không chỉ giới hạn ở hoạt động tri thức, mà còn ở hoạt động thủ công. Chúng ta hãy nhở lời của Amadeus Mozart gửi cho cha ngày 8 tháng 11, 1777, từ Mannheim. Sự thông minh tuy được phân phối đồng đều trong dân chúng, nhưng không phải giống nhau. Nhà giáo dục Ken Robinson từng chủ trương: Hãy tìm về nguyên bản của mình (the element), thì con người sẽ hạnh phúc và sáng tạo. Quyển sách ông ra mắt năm 2009 với chủ đề đó đã trở thành The New York Times Bestseller .
Xem thêm các bài liên quan:
Công trình dịch thuật sách công nghiệp của Tủ sách Nhất Nghệ Tinh
Cuộc Khai Sáng Công Nghiệp : Chuyên ngành Cơ khí
Không có nhận xét nào