Vai Trò của Người Mỹ Và Các Biến Cố Quan Trọng Trong Cuộc Chiến Việt Nam
Trương Bội Ngọc
GIỚI THIỆU
Sáng sớm ngày 2 tháng 11 năm 1963, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu hốt hoảng nhảy ra khỏi xe jeep và lao đến chiếc xe bọc thép đậu bên ngoài trụ sở quân đội miền Nam Việt Nam tại căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Trong mười tám giờ trước đó, ông đã lãnh đạo lực lượng quân sự ở Sài Gòn lật đổ chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Bên trong chiếc xe là thi thể bị biến dạng của ông-Diệm và em trai ông, Ngô Đình Nhu. Ông Thiệu chỉ tham gia cuộc đảo chính sau khi được đảm bảo rằng Diệm và gia đình ông sẽ không bị tổn hại. Giờ đây, ông cần xác nhận tin tức gây sốc đó, để tự mình kiểm chứng rằng những lời hứa đã được đưa ra cho ông và những người đồng mưu đã thực sự bị phá vỡ.
Đại tá Thiệu ra lệnh cho tài xế mở cửa sau. Nhiều năm sau, ông nhớ lại rằng việc nhìn thấy thi thể của hai anh em nằm trong vũng máu khiến ông cảm thấy buồn nôn. Ông chào kính họ, rồi cởi mũ bảo hiểm và cúi đầu thật sâu về phía họ. Khoảnh khắc khủng khiếp nầy, dù chỉ là một giọt nước nhỏ trong dòng sông lịch sử rộng lớn của Việt Nam hiện đại, đã đánh dấu sự chuyển giao mang tính biểu tượng từ Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Diệm sang Đệ nhị Cộng hòa và Tổng thống Thiệu bốn năm sau đó. Trong khoảnh khắc đau đớn đó, lịch sử chính trị của miền Nam Việt Nam đã thay đổi mãi mãi.
Câu chuyện về cách những người Việt Nam không cộng sản nỗ lực xây dựng quốc gia có chủ quyền gọi là Cộng hòa Việt Nam, thường được biết đến với tên gọi miền Nam Việt Nam, có thể được xem như một vở kịch gồm bốn hồi: Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại, Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Diệm, giai đoạn chuyển tiếp bốn năm sau đó, và cuối cùng là Đệ nhị Cộng hòa của Tổng thống Thiệu. Nhà sử học Brett Reilly đã xem xét nỗ lực thường xuyên gặp khó khăn của cựu hoàng Bảo Đại trong việc tạo ra một nhà nước không cộng sản. Các nhà sử học khác như Mark Moyar, Edward Miller, Geoffrey Shaw và Jessica Chapman đã nghiên cứu chi tiết về triều đại của ông Diệm. Điều còn lại chưa được xem xét kỹ lưỡng là giai đoạn chuyển tiếp bốn năm sau vụ ám sát ông Diệm, cuộc bầu cử Nguyễn Văn Thiệu sau đó và thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đệ nhị Cộng hòa.
Mục tiêu của tôi là đánh giá và bổ sung một phân tích sâu sắc về hai giai đoạn cuối cùng vào kho tàng học thuật hiện có. Những mô hình, thay đổi và sự liên tục rộng lớn hơn sẽ hiện ra khi tránh lối kể chuyện bó hẹp của các lịch sử chi tiết hơn. Cuốn sách nầy xem xét nỗ lực đầy khó khăn nhưng thất bại của miền Nam Việt Nam trong việc xây dựng một nhà nước độc lập. Nó tập trung vào cuộc đấu tranh để kiểm soát vùng nông thôn, những diễn biến phức tạp của quá trình chính trị, nỗ lực xây dựng sự đoàn kết dân tộc và sự phát triển của các mối quan hệ xã hội, sắc tộc và tôn giáo phức tạp của miền Nam Việt Nam. Kinh tế cũng được xem xét một cách bình đẳng vì nó có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với những gì thường được nhận thấy. Các học giả cũng đã bỏ qua việc ông Thiệu nhấn mạnh sau năm 1969 về việc đề nghị hòa bình và giành chiến thắng trong cuộc bầu cử chống lại phe Cộng sản.
Do tính chất cần thiết, tôi tập trung vào các vấn đề ở Sài Gòn hơn là ở các tỉnh. Các khía cạnh quân sự và các quyết định chính trị được đưa ra ở Hà Nội và Washington chỉ được đề cập khi cần thiết để làm nổi bật những điểm quan trọng hoặc để cho thấy cách đánh giá của họ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền cộng hòa. Nhiều động thái của Hà Nội và Washington là phản ứng trước các sự kiện ở Sài Gòn, một mối quan hệ nhân quả mà đáng ngạc nhiên là đã bị lãng quên. Miền Nam Việt Nam luôn là trung tâm của cuộc chiến, và cuốn sách nầy giải thích lý do tại sao.
Mặc dù mục đích của tôi là khảo sát kinh nghiệm của miền Nam Việt Nam, tôi không đi sâu vào các vấn đề như chống chủ nghĩa thực dân, sinh thái học, hay vị trí của đất nước trong cuộc xung đột địa chính trị thời Chiến tranh Lạnh. Các nhà sử học khác đã hoặc đang nghiên cứu những chủ đề quan trọng nầy. Tôi cũng gác lại câu hỏi liệu chính phủ Hoa Kỳ có nên tham chiến ở vùng đất xa xôi đó hay không. Cuối cùng, vì không có thuật ngữ nào được chấp nhận rộng rãi cho hai phe đối lập, và vì người miền Nam Việt Nam tự gọi mình là những người theo chủ nghĩa dân tộc (người quốc gia), tôi sẽ sử dụng thuật ngữ đó để mô tả những người chống cộng sản, và tôi sẽ sử dụng thuật ngữ Cộng sản (người cộng sản) để mô tả những người theo Hồ Chí Minh.
Trong khi cuộc đối đầu giữa hai phe nầy có nhiều tầng lớp, chủ yếu đó là cuộc xung đột giữa hai tầm nhìn đối lập gay gắt về cách hiện đại hóa và xây dựng Việt Nam. Cũng có một cuộc tranh luận gay gắt về cùng chủ đề nầy trong nội bộ phe Quốc gia, cuộc tranh luận đó là giữa những người muốn cai trị thông qua mô hình quản lý tập trung và những người tìm kiếm một hình thức dân chủ kiểu Việt Nam cho phép kiểm soát địa phương nhiều hơn. Vấn đề đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc là làm thế nào để loại bỏ những cách thức cũ và các thể chế thất bại và thay thế chúng bằng những ý tưởng mới và các thể chế hiện đại để phát triển một bản sắc cộng hòa toàn diện cho một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo. Cuộc chiến giữa những người cộng sản và những người theo chủ nghĩa dân tộc, và giữa chính những người theo chủ nghĩa dân tộc với nhau, là về cách đạt được tầm nhìn chính trị đó.
Trong suốt thời chiến và nhiều năm sau đó, miền Nam Việt Nam bị đánh giá là một chế độ tham nhũng điển hình. Luận điểm rất đơn giản: Hà Nội là hiện thân của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, và Sài Gòn chắc chắn sẽ sụp đổ. Với sự sụp đổ thảm khốc của đất nước vào năm 1975, những đánh giá đó dường như đã được chứng minh và do đó không cần phải xem xét lại. Tuy nhiên, người dân miền Nam Việt Nam lại có câu chuyện riêng của họ, một câu chuyện phần lớn bị bỏ qua bên ngoài đất nước. Như một người bạn Việt Nam đã nói với tôi: “Chúng tôi có nhiều ước mơ: ước mơ tự do, ước mơ độc lập và ước mơ đưa người dân thoát khỏi nghèo đói. Cộng sản chỉ có một ước mơ: chiến thắng cuộc chiến bằng mọi giá.”
Luận điểm chính được trình bày ở đây là miền Nam Việt Nam không phải là một tạo vật nhân tạo của Mỹ, cũng không phải là nền Cộng hòa thứ hai là một chế độ độc tài như nền Cộng hòa thứ nhất của ông Diệm. Như chúng ta sẽ thấy, Tổng thống Thiệu và chính phủ của ông đã nỗ lực đáng kể để xây dựng một nhà nước dân chủ hiện đại nhằm giảm bớt tình trạng nghèo đói kinh niên của người dân, một quá trình mà họ chưa bao giờ nhận được sự công nhận xứng đáng. Để hoàn thành nhiệm vụ to lớn nầy, họ phải vượt qua di sản tàn khốc của chế độ thuộc địa Pháp cùng với những vấn đề điển hình vốn có trong quá trình xây dựng quốc gia: thiếu đoàn kết dân tộc, xung đột quân sự-dân sự, các thể chế chính trị chưa phát triển, và nhiều hơn nữa. Tệ hơn nữa, họ phải vượt qua những thiếu sót nầy trong khi phải đối mặt với một kẻ thù không khoan nhượng. Vì tính hợp pháp bị tranh chấp là quy luật chứ không phải ngoại lệ ở các quốc gia mới nổi, nên những người theo chủ nghĩa dân tộc phải đối mặt với một câu hỏi sống còn: làm thế nào một nền dân chủ mới nổi và một xã hội mở có thể đánh bại một kẻ thù toàn trị, một kẻ thù giỏi thâm nhập, thao túng tâm lý và chính trị, và xâm nhập tình báo? Quan trọng không kém, liệu miền Nam Việt Nam có thể tồn tại trước mối đe dọa của Cộng sản một mình hay không?
Câu trả lời đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc hơn về nỗ lực của những người theo chủ nghĩa dân tộc trong việc tạo ra một nhà nước khả thi. Như nhà sử học quân sự lỗi lạc Michael Howard lập luận, “việc tách rời hành vi chiến tranh khỏi môi trường mà nó diễn ra - xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế - là bỏ qua những khía cạnh cần thiết để hiểu nó.” Cuốn sách nầy đề cập đến những khía cạnh đó. Việc miền Nam Việt Nam bị đánh bại không có nghĩa là họ đã thất bại trong việc đạt được tính hợp pháp chính trị. Luận điểm của tôi là họ đã làm được, nhưng miền Nam Việt Nam đã phải chịu những nỗi đau tương tự như các quốc gia mới khác, đặc biệt là những quốc gia phải trải qua nhiều năm chiến tranh chết chóc. Cuối cùng, miền Nam Việt Nam không thể vừa xây dựng vừa chiến đấu cùng một lúc.
Điều cần nhớ là dân chủ luôn là một quá trình đang diễn ra, đặc biệt là đối với một quốc gia mới đang tìm chỗ đứng trong một cuộc chiến khó khăn. Nước Mỹ cũng đã ban hành những đạo luật mâu thuẫn với các giá trị đã tuyên bố trong thời kỳ khủng hoảng. Đạo luật về người nước ngoài và chống nổi loạn năm 1798 cho phép trục xuất, phạt tiền hoặc bỏ tù bất kỳ ai bị coi là mối đe dọa hoặc xuất bản "bài viết sai sự thật, mang tính phỉ báng" chống lại Hoa Kỳ. Trong Nội chiến, Tổng thống Abraham Lincoln đã đình chỉ nhiều điều khoản trong Tuyên ngôn Nhân quyền, bao gồm quyền tự do ngôn luận và quyền được xét xử công bằng. Hơn nữa, sau sự kiện 11/9, các nền dân chủ hoàn chỉnh cũng đã thông qua những đạo luật gây lo ngại cho nhiều nhà hoạt động bảo vệ quyền tự do dân sự.
Ngay cả những quốc gia phát triển cũng phải điều chỉnh lại chính sách trong thời kỳ khó khăn, và miền Nam Việt Nam cũng không ngoại lệ. Khi người Pháp từ chối đưa các thể chế dân chủ vào Đông Dương thuộc địa, các khái niệm như “tự do ngôn luận” và “phe đối lập trung thành” chỉ có chỗ đứng nhỏ bé ở miền Nam Việt Nam, một nơi có kinh nghiệm lịch sử rất khác biệt so với chúng ta. Giống như các quốc gia non trẻ khác thoát khỏi ách thống trị thuộc địa, những người cộng hòa Việt Nam trước hết phải xây dựng một hiến pháp để thể hiện ý định chính trị của họ. Hiến pháp định nghĩa bộ máy nhà nước - cơ quan lập pháp, tòa án và hệ thống an ninh quốc gia - và họ phải tạo ra nó giữa những lợi ích xã hội và tôn giáo cạnh tranh gay gắt.
Như chúng ta sẽ thấy, ông Thiệu là nhân vật chủ chốt trong việc chuyển đổi miền Nam Việt Nam từ chế độ quân sự sang chế độ cộng hòa lập hiến. Nhưng ông Thiệu đã phản ứng như thế nào với các nhóm nội bộ, và ông đã đối xử với những thách thức của họ ra sao? Ông khác với Tổng thống Diệm như thế nào? Phong cách lãnh đạo của ông là gì, ông đã đối phó các vấn đề đối ngoại như thế nào, và chương trình nghị sự trong nước của ông là gì? Liệu ông có thể tạo ra và sau đó quán xuyến một chiến lược quân sự và kinh tế để đánh bại một kẻ thù tàn nhẫn? Phần lớn, những câu hỏi nầy vẫn chưa được trả lời cho đến nay.
Tại sao các nhà sử học lại không xem xét kỹ lưỡng các chính sách của ông Thiệu hoặc đánh giá phản ứng của ông đối với các sự kiện nội bộ? Câu trả lời nằm ở những phán xét được đưa ra trong thời chiến. Trong hơn một thập kỷ, Việt Nam thường là trung tâm của cuộc xung đột Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Các nhà bình luận phương Tây thường vẽ nên hình ảnh ông Thiệu bằng những màu sắc ý thức hệ phản ảnh quan điểm chính trị của họ, và những lời lẽ gay gắt của họ về ông phản ảnh sự tuyệt đối của thời đại. Các học giả phản chiến coi ông là một nhà độc tài tham nhũng, đàn áp. Cộng sản Việt Nam đồng thời phỉ báng ông là kẻ phản bội và con rối của Mỹ. Trên trường quốc tế, danh tiếng của ông cũng rất tệ.
Tuy nhiên, công chúng miền Nam Việt Nam lại có những quan điểm tinh tế hơn. Giống như các tổng thống khác, tỷ lệ ủng hộ của Tổng thống Thiệu tăng giảm tùy thuộc vào các vấn đề thường gặp: an ninh, thịnh vượng kinh tế, hoặc các vụ bê bối chính trị gần đây. Những đánh giá nầy thường tập trung dọc theo các ranh giới truyền thống của miền Nam Việt Nam: người dân thành thị so với nông dân, tôn giáo, hoặc thành kiến vùng miền. Ông có một nhóm người ủng hộ, một nhóm người trung lập, và một nhóm người coi thường ông. Tỷ lệ nầy thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào diễn biến chiến tranh hoặc giá gạo.
Ngay cả sau khi Sài Gòn thất thủ, việc xem xét lại lịch sử của Tổng thống Thiệu vẫn là cần thiết. Ông không phải là một nhà độc tài tàn bạo và tham nhũng như những người cánh tả chống chiến tranh miêu tả, hay một "con rối" của Mỹ. Mặc dù ông có tư tưởng chính trị-quân sự điển hình của các nhà lãnh đạo chống cộng sản cao cấp ở các quốc gia châu Á khác như Đài Loan và Hàn Quốc, những người coi lãnh đạo mạnh mẽ là đối trọng tốt nhất chống lại chủ nghĩa cộng sản, ông Thiệu cũng quyết tâm xây dựng một xã hội dân chủ, dựa trên quyền sở hữu. Hai thái độ mâu thuẫn nầy luôn giằng xé ông, không bao giờ có thể dung hòa. Đặc biệt, các giá trị dân chủ của ông dường như bị xóa bỏ khi ông là người duy nhất có tên trong lá phiếu bầu cử tổng thống năm 1971.
Về cơ bản, Tổng thống Thiệu theo đuổi hai mục tiêu chính. Thứ nhất, ông hoàn toàn quyết tâm chiến thắng kẻ thù. Quan điểm của ông rằng bất kỳ thỏa thuận đàm phán nào với những người cộng sản đều là con đường dẫn đến thất bại dựa trên kinh nghiệm thực tế, chứ không phải bất kỳ hệ tư tưởng cứng nhắc và phi thực tế nào. Thứ hai, ông muốn xây dựng đất nước thành một quốc gia hiện đại, giảm bớt tình trạng nghèo đói cùng cực của người dân, và cuối cùng dẫn dắt họ đến một nền dân chủ. Xây dựng một nhà nước hoạt động hiệu quả, nâng cao mức sống vật chất đồng thời khắc sâu vào bản chất của quốc gia tinh thần dân chủ – không chỉ hình thức – là những mục tiêu quan trọng của ông.
Để đạt được điều đó, các chính sách của ông vừa mang tính tiến hóa vừa mang tính cách mạng. Ông duy trì các chính sách lâu dài của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (CPVNCH) trong một số lĩnh vực như đàm phán hòa bình. Ngược lại, ông đã thay đổi hoàn toàn các chính sách của những người tiền nhiệm, đặc biệt là trong cải cách ruộng đất và tái cấu trúc nền kinh tế. Hơn nữa, ông nỗ lực xây dựng miền Nam Việt Nam theo mô hình Mỹ bằng cách tăng cường quyền tự trị địa phương và cải tổ bộ máy quan liêu trì trệ. Quan trọng không kém, ông đã làm việc chăm chỉ để cải thiện an ninh làng xã bằng cách trang bị vũ khí cho người dân để bảo vệ nhà cửa của họ, một rủi ro lớn ở một quốc gia mà lòng trung thành của nông dân đối với chính phủ thường bị nghi ngờ. Tóm lại, ông Thiệu muốn tạo ra sự thịnh vượng cho nông dân nông thôn bằng cách cung cấp cho người dân miền Nam Việt Nam một môi trường kinh tế tư bản chủ nghĩa, cho phép họ tham gia vào sự phát triển của chính mình thông qua quyền tự quản.
Điều nầy không có nghĩa là ông Thiệu là một nhà cải cách tự do. Một số phương pháp cai trị của ông được lấy từ các chế độ độc tài chống cộng sản khác ở châu Á. Ông có nhiều điểm chung với Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan và Park Chung-hee ở Hàn Quốc. Giống như họ, ông theo đuổi các mục tiêu trong nước trong khi kiềm chế phe đối lập chính trị, tin rằng điều đó chỉ có lợi cho phe Cộng sản. Mặc dù ông chấp nhận các tiếng nói phi cộng sản khác, và ông nhận ra rằng sự tranh luận sôi nổi của một xã hội dân chủ là điều cần thiết cho sự tồn tại của nó, ông coi sự bất đồng chính kiến công khai như một căn bệnh làm suy yếu khối chống cộng sản trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù không ngừng nghỉ. Đối với ông, sự đoàn kết dân tộc thể hiện sức mạnh quốc gia, yếu tố then chốt để thuyết phục Hà Nội rằng họ sẽ không thắng. Một khi Hà Nội chấp nhận điều đó, thì các cuộc đàm phán hòa bình thực sự mới có thể bắt đầu. Ngược lại, sự bất đồng chính kiến công khai đồng nghĩa với sự yếu kém, điều nầy chỉ khuyến khích Hà Nội tiếp tục chiến đấu.
Giống như các chính trị gia khác, ông Thiệu cũng có những khuyết điểm về tính cách và phong cách quản lý riêng, ảnh hưởng đến các chính sách của ông. Tuy nhiên, nhiều hành động của ông Thiệu khiến các nhà phê bình phương Tây kinh ngạc lại mang ý nghĩa hoàn toàn khác trong bối cảnh Việt Nam. Đối với Tổng thống Thiệu, phản ứng của công chúng trong nước quan trọng hơn nhiều so với những lời chỉ trích từ bên ngoài. Thêm vào đó, ông tiếp cận trách nhiệm của mình với sự nghiêm túc và kiên quyết, khiến những người tìm kiếm sự thỏa hiệp chính trị với kẻ thù kiên quyết không kém của ông cảm thấy khó chịu. Tuy nhiên, bất chấp những khuyết điểm của ông với tư cách là một nhà lãnh đạo, nhiều quan chức Mỹ tin rằng không có chính khách Việt Nam nào khác sở hữu sự kết hợp giữa sự chín chắn, cứng rắn và trí tuệ như ông. Theo ý kiến của họ, ông là nhà lãnh đạo tốt nhất ở miền Nam Việt Nam.
Bất kỳ ai đạt đến đỉnh cao chính trị trong xã hội của mình đều là sự kết hợp hấp dẫn giữa tham vọng, trí thông minh và ý chí kiên định không ngừng nghỉ. Việc phân tích các chính sách của một nhà lãnh đạo cùng với việc xem xét kỹ lưỡng tính cách của họ đòi hỏi phải tiếp cận các tài liệu nội bộ của chính phủ và sự sẵn lòng của những người thân cận tiết lộ chi tiết về các cuộc thảo luận riêng tư và động cơ của nhà lãnh đạo. Trong trường hợp của Tổng thống Thiệu, các hồ sơ cố vấn quân sự chính thức của Hoa Kỳ từ những năm đầu Hoa Kỳ tham gia chiến tranh đã bị phá hủy, để lại một khoảng trống về những tương tác ban đầu của ông với người Mỹ. Các báo cáo của Pháp về ông cũng rất hạn chế. Các tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa hiện đang được chính quyền cộng sản nắm giữ, và việc tiếp cận, mặc dù cởi mở hơn so với trước đây, vẫn còn hạn chế hơn so với các kho lưu trữ của Hoa Kỳ. Các học giả đã nghiên cứu các kho lưu trữ cho biết họ tìm thấy rất ít thông tin về suy nghĩ của ông Thiệu về các chính sách và chương trình khác nhau.
Mặc dù có những hạn chế nầy, người ta vẫn có thể phân tích chương trình nghị sự của ông với tư cách là tổng thống. Các đại sứ Mỹ đã báo cáo tỉ mỉ về những bình luận của ông. Tuy nhiên, các quan chức khác của đại sứ quán Mỹ, những người thấy ông khó hiểu và quá thận trọng, thường dựa vào thông tin thu thập được từ các đại diện chính trị của miền Nam Việt Nam và các tầng lớp tinh hoa khác để đưa ra ý kiến của mình. Phần lớn các báo cáo nầy của Mỹ, mặc dù thường sâu sắc, nhưng cần phải được sử dụng cẩn thận. Ông Thiệu là một người cực kỳ kín đáo, hiếm khi đưa ra ý kiến của mình. Ông giữ vòng tròn ra quyết định nội bộ của mình rất nhỏ, và người Việt Nam bên ngoài tầng lớp thượng lưu của chính phủ chỉ có thể đưa ra những suy đoán về lý do cho các quyết định của ông. Hoặc tệ hơn, họ gán cho hành động của ông những động cơ âm mưu mà không hề biết chính sách đó được hình thành như thế nào.
Do đó, sự kết hợp giữa các bài phát biểu củaTổng thống Thiệu, các tài liệu của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, các hồ sơ của Hoa Kỳ và các cuộc phỏng vấn với một số người thân cận của ông đã giúp hiểu rõ hơn về động lực của chính sách đối nội và đối ngoại của ông. Hồi ký của người miền Nam Việt Nam cũng cung cấp những hiểu biết sâu sắc, nhưng giống như việc chỉ dựa vào các hồ sơ của Hoa Kỳ, điều đó giống như đang đi trên một bãi mìn. Mặc dù là nguồn tài liệu tuyệt vời, nhưng cần phải hết sức thận trọng. Không chỉ vì trí nhớ dễ bị sai lệch, nhiều tác giả còn có những định kiến đáng kể và không ngại thể hiện điều đó.
May mắn thay, tôi đã phỏng vấn nhiều bộ trưởng nội các cao cấp và các quan chức khác của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, những người chịu trách nhiệm thiết kế và thực hiện các chính sách của chính phủ. Những cuộc thảo luận nầy đã tiết lộ những thông tin lịch sử mới đáng kinh ngạc, bao gồm cả việc cuộc đảo chính lật đổ Tổng Thống Diệm suýt nữa đã bị ngăn chặn, những chi tiết chưa từng được biết đến trước đây về cuộc phản đảo chính tháng Giêng năm 1964, thỏa thuận Faustian đã đưa ông Thiệu lên làm tổng thống thay vì Nguyễn Cao Kỳ, bối cảnh thực sự của vụ Chennault trong cuộc bầu cử năm 1968, và những chi tiết gây chấn động về có lẽ là bí mật lớn cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam xảy ra trong những ngày cuối cùng.
Mặc dù tôi tin rằng có sự khác biệt rất lớn giữa tầm nhìn của Tổng thống Ngô Đình Diệm và Tổng thống Thiệu về việc hiện đại hóa nền hòa, nhưng cũng cần phải thừa nhận rằng ông Thiệu hoạt động trong một môi trường chính trị và thời đại hoàn toàn khác so với ông Diệm. Trong bốn năm sau cuộc đảo chính, miền Nam Việt Nam đã trải qua những biến động quân sự, chính trị, xã hội và kinh tế to lớn, được đánh dấu bằng sự leo thang của chiến tranh và sự can thiệp ngày càng tăng của Hoa Kỳ. Bất chấp sự hỗn loạn đó, phần lớn nhờ sự dẫn dắt của ông Kỳ và ông Thiệu, miền Nam Việt Nam đã xây dựng hiến pháp và thành lập nền Cộng hòa thứ hai. Sau đó, các sự kiện lớn như cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 của Cộng sản, việc thực hiện cải cách ruộng đất và việc vũ trang cho người dân địa phương để cải thiện an ninh đã thu hút nhiều nông dân trước đây trung lập hoặc chống đối về phía ông. Tuy nhiên, cuộc tấn công năm 1972 của Hà Nội đã phá hủy phần lớn sự phát triển kinh tế và chính quyền địa phương mà Tổng thống Thiệu đã đạt được. Hiệp định Paris và việc Hoa Kỳ rút quân sau đó đã để lại một miền Nam Việt Nam bị tổn thương, một miền Nam Việt Nam đã trở thành con mồi cho cuộc tấn công cuối cùng của miền Bắc Việt Nam vào năm 1975.
May mắn thay, các nghiên cứu hiện nay về cuộc xung đột, giống như nền văn hóa luôn thay đổi của chúng ta, đã phát triển để đón nhận những quan điểm mới về miền Nam Việt Nam. Hy vọng rằng, khoảng cách ý thức hệ đã chia rẽ chúng ta khi đó sẽ không còn là rào cản đối với độc giả hiện nay. Thường thì, những hoàn cảnh đặc biệt buộc những con người không hoàn hảo phải đưa ra những quyết định trọng đại dựa trên thông tin sai lệch. Ông Thiệu cũng không ngoại lệ. Khi đọc bản thảo nầy, hãy cố gắng nhìn nhận ông ấy, giống như hầu hết các nguyên thủ quốc gia có trách nhiệm khác, như một chính trị gia đang cố gắng làm điều tốt nhất cho đất nước mình, chứ không phải là một nhà độc tài chỉ quan tâm đến việc duy trì quyền lực. Với quan niệm đó, trích dẫn lời của người dẫn chuyện trong vở Henry V của Shakespeare, giờ đây "chính suy nghĩ của các bạn phải tô điểm cho các vị vua của chúng ta" và chính điều đó sẽ phán xét Nguyễn Văn Thiệu và miền Nam Việt Nam.
Không có nhận xét nào