Header Ads

  • Breaking News

    Chuyện Việt Nam – Đọc báo trong nước

    25/4/2026

    "Bức tranh nhìn thấy không mấy lạc quan, nhưng rất thật"

    Hà Phan

    25/4/2026

    Theo điều tra mới nhất của VCCI, hơn 81% hộ kinh doanh bị giảm doanh thu, chỉ cố gắng tồn tại! 73,7% hộ kinh doanh cho biết chỉ lãi ít trong năm 2025; chỉ 1,9% đạt mức lãi như kỳ vọng. Cạnh đó, hơn 81% hộ bị giảm doanh thu, 75% bị giảm lượng khách hàng. 

    Phần lớn hộ kinh doanh đang vận hành ở ngưỡng lợi nhuận rất mỏng, dễ tồn tại những khó khăn dù chỉ ở mức nhẹ, không đủ sức chống chịu trước bất kỳ cú sốc nào tiếp theo.

    "Sức khỏe" kinh doanh yếu đi đã khiến hộ kinh doanh chuyển hóa thành tâm lý phòng thủ: 60,8% hộ dự kiến chỉ duy trì quy mô hiện tại trong 2 năm tới, 33% có xu hướng thu hẹp và chỉ 1,8% có ý định mở rộng.

    "Bức tranh nhìn thấy không mấy lạc quan, nhưng rất thật", ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI cho hay. Ông này cho biết thêm "Trạng thái chủ đạo của khu vực hộ kinh doanh hiện nay không còn là tìm kiếm tăng trưởng, mà chủ yếu là cố gắng duy trì sự tồn tại".

    Những chính sách sớm chết yểu như ngưỡng thuế 500 triệu mới ra đời chưa đầy 4 tháng đã phải dỡ bỏ hay hàng loạt quy định về hệ thống kế toán phức tạp hơn, thủ tục thuế nặng hơn, chi phí nhân sự và công nghệ tăng lên... "góp phần" k nhỏ đem đến những con số đáng buồn trên!

    Hộ kinh doanh trên cả nước đang tạo ra khoảng chục triệu việc làm, là nguồn sống của hàng triệu gia đình và đóng góp rất lớn cho nền kinh tế nước nước nhà. Nhưng một "bức tranh" được vẽ ra như thế liệu có đem lại cái nhìn thoáng, xa, rộng và thay đổi sớm hơn để nhiều thứ tốt lên từ các nhà quản lý, điều hành?

    Hà Phan

    Hơn 30.000 nhân viên Samsung xuống đường biểu tình

    Thiên Kim

    23/4/2026

    Công đoàn Samsung yêu cầu dành 15% lợi nhuận hoạt động hàng năm cho thưởng theo hiệu suất, đồng thời tăng 7% lương cơ bản.

    Làn sóng AI không chỉ thúc đẩy lợi nhuận mà còn làm bùng phát tranh chấp lao động tại Samsung. Được biết công đoàn đã yêu cầu phân bổ tới 15% lợi nhuận hoạt động cho nhân viên, thậm chí đe dọa đình công kéo dài.

    Hàng chục nghìn người đã tập trung bên ngoài trung tâm sản xuất chip chủ lực của Samsung Electronics, yêu cầu công ty chia sẻ nhiều hơn lợi nhuận thu được từ làn sóng bùng nổ AI.

    Theo cảnh sát, khoảng 30.000 người tham gia cuộc biểu tình tại thành phố Pyeongtaek, miền Nam Hàn Quốc - nơi đặt tổ hợp bán dẫn quy mô lớn của Samsung - trong khi ban tổ chức ước tính con số lên tới 39.000.

    Công đoàn của Samsung đề xuất phân bổ 15% lợi nhuận hoạt động và tăng 7% lương cơ bản cho nhân viên khối chip. Với tổng lợi nhuận vượt 40.000 tỷ won (tương đương 27 tỷ USD), mức chia này có thể tương đương hơn 400.000 USD cho mỗi lao động.

    Doanh nghiệp giá trị nhất Hàn Quốc hiện đối mặt với áp lực gia tăng về tiền lương và thưởng, trong bối cảnh Samsung nỗ lực lấy lại vị thế sau khi tụt lại phía sau đối thủ nội địa SK Hynix trong mảng bộ nhớ băng thông cao (HBM) - lĩnh vực đang hưởng lợi lớn từ nhu cầu AI.

    “Công ty năm nào cũng nói về khủng hoảng”, ông Choi Seung-ho, lãnh đạo công đoàn lớn nhất của Samsung Electronics, phát biểu trước đám đông. “Nhưng trong những giai đoạn đó, không phải ban lãnh đạo mà chính người lao động - các thành viên công đoàn - mới là lực lượng duy trì Samsung ở vị trí hàng đầu thế giới trong ngành bán dẫn, từ sản xuất, cải tiến quy trình, làm việc xuyên đêm cho đến nâng cao tỷ lệ thành phẩm”.

    Công đoàn của Samsung, đại diện cho khoảng 74.000 lao động, cho rằng công ty chưa đưa ra mức đãi ngộ tương xứng dù kết quả kinh doanh khả quan. Tổ chức này đã bác bỏ đề xuất thưởng bằng cổ phiếu hạn chế của ban lãnh đạo, đồng thời yêu cầu gỡ bỏ mức trần tiền thưởng - hiện ở mức 50% lương cơ bản hàng năm.

    Công đoàn cảnh báo sẽ tiến hành đình công kéo dài 18 ngày, bắt đầu từ 21/5 nếu đàm phán thất bại, và cho rằng động thái này có thể khiến công ty thiệt hại hơn 1.000 tỷ won (khoảng 676 triệu USD) mỗi ngày.

    Bên cạnh đó, người lao động cũng lập luận rằng mức thưởng tăng tại SK Hynix - nơi năm ngoái đồng ý trích 10% lợi nhuận hoạt động hàng năm vào quỹ thưởng theo hiệu suất - là bằng chứng cho thấy họ xứng đáng được đãi ngộ cao hơn.

    Trong nhiều thập kỷ, Samsung đã duy trì khoảng cách với các tổ chức công đoàn. Tuy nhiên, những năm gần đây, các nhóm lao động đã dần củng cố vị thế, tạo động lực để nhân viên công khai gây sức ép đòi quyền lợi lớn hơn.

    Nhập siêu 7,9 tỷ USD do đâu?

    Theo Xuân Phong

     24-04-2026 / Thị trường

    Theo các chuyên gia, cần có giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI.

    Tính đến ngày 15/4, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt tới 7,9 tỷ USD. Đáng chú ý, trong khi khu vực FDI tiếp tục duy trì xuất siêu, khu vực doanh nghiệp trong nước thể hiện sự hụt hơi trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động.

    Nhập siêu 7,9 tỷ USD

    Theo số liệu từ Cục Hải quan, tính đến ngày 15/4, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 297,06 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt khoảng 144,6 tỷ USD, tăng 20,3%; còn nhập khẩu đạt 152,5 tỷ USD, tăng khoảng 28,8%.

    Điều này khiến cân thương mại lại đảo chiều với mức thâm hụt 7,9 tỷ USD, riêng nửa đầu tháng 4, nhập siêu đã lên tới 4,25 tỷ USD.

    Đáng chú ý, bức tranh giữa các doanh nghiệp lại cho thấy sự phân hóa rất rõ. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt kim ngạch xuất nhập khẩu gần 226 tỷ USD, tăng 29,5% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tới hơn 76% tổng kim ngạch và đóng góp gần 88% phần tăng trưởng của toàn nền kinh tế. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ đạt khoảng 71,1 tỷ USD, chiếm chưa tới 24% và phần tăng thêm chỉ khoảng 7 tỷ USD, tương ứng mức tăng hơn 10%.

    Việc nhập khẩu tăng mạnh khiến Việt Nam nhập siêu trong những tháng đầu năm.

    Xét về các mặt hàng cho thấy nhập khẩu tăng mạnh ở nhóm linh kiện điện tử, máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu, những đầu vào thiết yếu của sản xuất. Ở chiều xuất khẩu, tăng trưởng lại tập trung chủ yếu ở các mặt hàng điện tử, điện thoại, máy tính… do khu vực FDI dẫn dắt. Với các ngành chủ lực của doanh nghiệp trong nước như dệt may, da giày, gỗ, thủy sản phục hồi khá chậm.

    Doanh nghiệp nội chững lại

    Đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội (HANSIBA) cho rằng, việc Việt Nam nhập siêu trong những tháng đầu năm không phải quá lo khi nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu và máy móc tăng lên thể hiện doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, phần lớn tăng trưởng thương mại đến từ khu vực FDI cho thấy sức khoẻ doanh nghiệp nội còn khá yếu.

    Theo HANSIBA, về dài hạn, phát triển công nghiệp hỗ trợ được xem là chìa khóa. Khi doanh nghiệp trong nước có thể cung ứng nguyên liệu, linh kiện cho chính các ngành xuất khẩu lớn, không chỉ giảm phụ thuộc nhập khẩu mà còn gia tăng giá trị giữ lại trong nước. Song song đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và truy xuất nguồn gốc để tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do.

    "Quan trọng hơn, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI, từ đó từng bước nâng cao năng lực và vị thế. Đây không chỉ là giải pháp ngắn hạn cho cán cân thương mại, mà là hướng đi dài hạn để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng bền vững hơn", đại diện HANSIBA cho hay.

    Ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam - cho biết, trước tác động của xung đột Trung Đông, các doanh nghiệp đối diện không ít thách thức khi chi phí tăng vọt; người tiêu dùng ở các thị trường lớn thắt chặt chi tiêu.

    Theo ông Giang hiện, thị trường Mỹ và EU, hai thị trường lớn nhất vẫn phục hồi chậm, trong khi cạnh tranh từ Bangladesh, Ấn Độ ngày càng gay gắt. Điểm yếu lớn nhất của doanh nghiệp Việt nằm ở việc chưa chủ động được nguyên liệu, khiến chi phí cao và khó đáp ứng các quy tắc xuất xứ để tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do.

    Do đó, ông Giang cần có những giải pháp mang tính trọng tâm, tập trung vào giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, từ thuế, phí đến logistics và năng lượng, những yếu tố đang bào mòn sức cạnh tranh; đồng thời doanh nghiệp cần nâng cao khả năng thích ứng với yêu cầu từ phía khách hàng.

    Ông Nguyễn Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương - cho rằng, việc nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu phản ánh nhu cầu sản xuất trong nước gia tăng, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu...

    Theo Xuân Phong

    Tiền Phong

    CMB Investing - Cố Vấn Đầu Tư VPS

    Đại biểu Lê Hoàng Anh đặt thẳng vấn đề: cấu trúc dòng vốn hiện nay đang lệch pha

    Tăng trưởng hai con số “bằng cách bơm 38 triệu tỷ” có khả thi. Hiệp định Plaza Nhật Bản vẫn còn đó, Trung Quốc đã trãi qua và giờ lan sang Việt Nam. Mới đây, nghị trường Quốc hội Việt Nam nóng lên với một câu hỏi được người dân quan tâm hơn bao giờ hết : tăng trưởng của Việt Nam hiện nay đang được nuôi bằng nền tảng nào, và nền tảng đó có đủ sức gánh mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thập niên tới hay không?

    Đại biểu Lê Hoàng Anh đặt thẳng vấn đề: cấu trúc dòng vốn hiện nay đang lệch pha. Khi khu vực tư nhân phụ thuộc tới khoảng 80% vào tín dụng ngân hàng, chi phí vốn cao trở thành bộ lọc tự nhiên, đẩy dòng tiền về phía những lĩnh vực có biên lợi nhuận dày hoặc mang tính đầu cơ. Kết quả là tín dụng không còn là “máu” nuôi sản xuất, mà đang trở thành “đòn bẩy” cho tài sản. Đây không còn là câu hỏi kỹ thuật về GDP hay tín dụng, mà là câu hỏi về mô hình phát triển quốc gia. Bởi lịch sử kinh tế thế giới cho thấy, nhiều quốc gia từng tăng trưởng rất nhanh nhưng rồi rơi vào trì trệ kéo dài chỉ vì tăng trưởng dựa sai nền móng. Đại biểu Lê Hoàng Anh tại Quốc hội đã chạm đúng điểm nghẽn khi đặt vấn đề: cấu trúc dòng vốn của Việt Nam đang lệch pha. Trong một nền kinh tế mà khu vực tư nhân phụ thuộc tới khoảng 80% vào tín dụng ngân hàng, chi phí vốn trở thành bộ lọc tự nhiên. Đồng vốn sẽ không tự chảy vào nơi tạo ra nhiều giá trị nhất, mà thường chảy vào nơi sinh lời nhanh nhất, có tài sản thế chấp rõ nhất và ít rủi ro sổ sách nhất. Kết quả là tín dụng dần mất vai trò “máu nuôi sản xuất”, để trở thành “đòn bẩy của tài sản”. Và trọng tâm của sự lệch pha đó nằm ở bất động sản. Dữ liệu được nêu cho thấy chỉ trong bốn năm, dư nợ tín dụng bất động sản đã tăng từ 1,9 triệu tỷ đồng lên hơn 4,5 triệu tỷ đồng, tức tăng 132%, nhanh gấp nhiều lần khu vực công nghiệp. Riêng giai đoạn 2024-2025, tín dụng bất động sản tăng tới 37,6%, trong khi tín dụng công nghiệp chỉ tăng 9,4%. Nếu coi tín dụng là chiếc la bàn của nền kinh tế, thì kim la bàn hiện đang nghiêng mạnh khỏi khu vực tạo ra giá trị thực. Đây là dấu hiệu cần được nhìn nhận nghiêm túc. Vì tăng trưởng dựa vào tài sản khác căn bản với tăng trưởng dựa vào năng suất.

    Khi vốn đi vào nhà máy, công nghệ, logistics, giáo dục hay đổi mới sáng tạo, nền kinh tế tạo ra sản lượng mới, năng lực cạnh tranh mới và việc làm bền vững. Nhưng khi vốn chủ yếu đi vào đất đai, mua đi bán lại tài sản và đầu cơ kỳ vọng giá lên, của cải được tạo ra phần lớn chỉ là giá trị trên giấy. Quốc gia có thể trông giàu hơn, nhưng chưa chắc mạnh hơn. Những gì đang diễn ra tại Hà Nội và TP.HCM là minh chứng rõ nét. Giá nhà đã vọt lên mức 25-30 lần thu nhập bình quân năm, cao gấp nhiều lần chuẩn quốc tế thường ở ngưỡng 4-6 lần. Với người trẻ, căn nhà không còn là mục tiêu khả thi sau vài năm lao động, mà dần trở thành biểu tượng của khoảng cách cơ hội. Khi một thế hệ đi làm chăm chỉ nhưng khó tiếp cận nơi ở tối thiểu, thị trường không chỉ gặp vấn đề kinh tế mà bắt đầu gặp vấn đề niềm tin. Người dân trì hoãn lập gia đình, trì hoãn sinh con, giảm tiêu dùng dài hạn và có xu hướng phòng thủ thay vì đầu tư cho tương lai. Đó là tổn thất vô hình nhưng sâu sắc hơn rất nhiều so với một con số tăng trưởng ngắn hạn. Lịch sử đã nhiều lần cảnh báo về con đường này. Năm 1985, Hoa Kỳ cùng Nhật Bản, Đức, Anh và Pháp ký Thỏa ước Plaza, nhằm buộc đồng yên tăng giá so với USD để tái cân bằng thương mại. Nhật Bản buộc phải chấp nhận. Hệ quả là xuất khẩu suy yếu nhanh, tăng trưởng chững lại. Để đối phó, chính phủ và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản lựa chọn giải pháp nới lỏng tiền tệ mạnh mẽ, liên tục hạ lãi suất nhằm kích thích kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh niềm tin cao độ vào “kỳ tích Nhật Bản”, dòng tiền không chảy vào sản xuất mà dồn vào bất động sản và tài sản tài chính, thổi phồng một trong những bong bóng lớn nhất lịch sử kinh tế hiện đại.

    Giá đất tại Tokyo, đặc biệt quanh khu vực Hoàng cung, có thời điểm được định giá cao hơn toàn bộ bất động sản bang California (Mỹ). Ngân hàng mở rộng tín dụng ồ ạt, nới lỏng tiêu chuẩn cho vay, trong khi chính phủ dung túng và che giấu nợ xấu để duy trì tăng trưởng bề nổi.

    Khi bong bóng vỡ vào đầu thập niên 1990, hệ thống tài chính Nhật Bản rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng:

    Nợ xấu lan rộng

    Hàng loạt ngân hàng phá sản hoặc buộc phải sáp nhập

    Doanh nghiệp co cụm, tái cấu trúc quy mô lớn

    Cuối cùng, hệ thống ngân hàng Nhật chỉ còn lại bốn ngân hàng lớn, hàng nghìn doanh nghiệp biến mất hoặc bị thâu tóm…

    Điều đáng lo ngại nhất là hệ quả dài hạn: giảm phát kéo dài. Trong hơn một thập kỷ, thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản gần như đóng băng quanh mức 40.000 USD, trong khi các nền kinh tế phát triển khác tiếp tục tăng trưởng. Nhiều nhà kinh tế cho rằng Nhật Bản không chỉ mất một “thập kỷ”, mà thực chất là hai thập kỷ cơ hội.

    Nhật Bản thập niên 1980 từng được xem là ứng viên số một để vượt Hoa Kỳ. Hàng điện tử, xe hơi và công nghệ Nhật tràn ngập thị trường toàn cầu. Nhưng năm 1985, sau Hiệp định Plaza, đồng yên tăng mạnh khiến xuất khẩu suy yếu. Để cứu tăng trưởng, Nhật Bản hạ lãi suất sâu và nới lỏng tín dụng. Tiền rẻ gặp niềm tin quá lớn vào tương lai đã tạo ra bong bóng bất động sản và chứng khoán lớn nhất lịch sử hiện đại. Có thời điểm, giá đất quanh Hoàng cung Tokyo được ví đắt hơn cả nhiều bang của Mỹ cộng lại. Ngân hàng cho vay ồ ạt, doanh nghiệp đầu tư bằng đòn bẩy, người dân tin giá tài sản sẽ tăng mãi. Khi bong bóng vỡ đầu thập niên 1990, Nhật Bản bước vào thời kỳ “thập kỷ mất mát” mà trên thực tế kéo dài hơn thế. Giá tài sản lao dốc, ngân hàng ngập nợ xấu, niềm tin tiêu dùng sụp đổ và nền kinh tế chìm trong giảm phát suốt nhiều năm. Giảm phát là căn bệnh đặc biệt nguy hiểm. Khi người dân tin rằng ngày mai giá sẽ rẻ hơn hôm nay, họ trì hoãn mua sắm. Doanh nghiệp trì hoãn đầu tư. Tiền rẻ cũng không cứu nổi tâm lý bi quan. Nhật Bản đã phải vật lộn hàng chục năm chỉ để kéo lạm phát quay về mức mục tiêu 2%. Trung Quốc mang sách học theo nhật bản rồi hôm nay cũng đang mang nhiều nét tương đồng. Trong suốt hai thập niên, bất động sản, đầu tư hạ tầng và xuất khẩu là ba động cơ chính của tăng trưởng. Nhưng khi dân số già đi, nhu cầu nhà ở giảm tốc và thế giới gia tăng rào cản thương mại, mô hình cũ bắt đầu lộ giới hạn. Khủng hoảng địa ốc, áp lực giảm phát, nhu cầu nội địa yếu và căng thẳng thương mại đang buộc Trung Quốc phải tái cấu trúc trong hoàn cảnh khó khăn hơn nhiều so với giai đoạn cất cánh.

    Từ Nhật Bản, đến Trung Quốc, lan sang Việt Nam

    Cấu trúc tín dụng hiện nay cho thấy bất động sản đã lớn gấp 1,81 lần công nghiệp và tới 5,3 lần khu vực nông, lâm, thủy sản - những lĩnh vực tạo việc làm rộng, xuất khẩu thật và giá trị gia tăng bền vững. Điều này đồng nghĩa nền kinh tế không hẳn thiếu tiền, mà đang thiếu hướng đi đúng của tiền. Ẩn dụ “nền kinh tế chạy marathon nhưng đôi chân bị trói” là mô tả chính xác. Khi vốn bị giam trong tài sản, khu vực sản xuất sẽ thiếu oxy để tăng trưởng dài hạn. Giải pháp vì thế không nằm ở tranh luận siết hay nới. Cả hai cách tiếp cận cực đoan đều có thể gây méo mó. Điều cần thiết là tái định hướng tín dụng bằng công cụ thị trường. Tín dụng đầu cơ bất động sản cần chịu chi phí vốn cao hơn thông qua hệ số rủi ro và tiêu chuẩn vay chặt chẽ hơn. Ngược lại, nhà ở xã hội, người mua nhà lần đầu, công nghiệp chế biến, công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa xuất khẩu cần được ưu tiên tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý. Song song đó là phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch để giảm gánh nặng lên hệ thống ngân hàng. Quan trọng hơn cả là tăng nguồn cung bất động sản hợp pháp, minh bạch thủ tục đất đai và quy hoạch. Nếu cung tiếp tục bó hẹp, tiền vẫn sẽ bị hút vào đất bất kể chính sách tín dụng điều chỉnh thế nào. Muốn đạt tăng trưởng hai con số bền vững, Việt Nam không thể dựa vào tăng giá đất. Không quốc gia nào bước vào nhóm phát triển chỉ bằng cách làm tài sản đắt lên. Những nền kinh tế thành công đều đi lên bằng năng suất lao động, công nghệ, thể chế hiệu quả và khu vực tư nhân mạnh. Việt Nam đang ở thời điểm bản lề hiếm có: dân số vẫn còn tương đối trẻ, chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, vị thế địa chính trị thuận lợi và cơ hội thu hút đầu tư còn rộng mở. Nhưng cửa sổ cơ hội này không kéo dài mãi. Nếu tiếp tục để vốn chủ yếu chạy vào tài sản, Việt Nam có thể tăng nhanh vài năm nhưng mong manh trong nhiều năm sau đó. Nếu dẫn được dòng vốn vào nhà máy, công nghệ, con người và đổi mới sáng tạo, tốc độ ban đầu có thể chậm hơn nhưng sẽ tạo ra chu kỳ thịnh vượng thật sự. Nói cách khác, bài toán lớn nhất của Việt Nam lúc này không phải có tăng trưởng hay không. Mà là tăng trưởng dựa trên cái gì. Và câu trả lời cho câu hỏi đó sẽ quyết định vị thế quốc gia trong 20 năm tới


    Không có nhận xét nào