Nhóm Thân hữu Trocadéro,
Ngày 16/05/2026.
“...Câu nói đễ đời của Bà, cho ngàn năm lưu danh và vinh danh phụ nữ Việt.
Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà Triệu đã nói:
Đền bà Triệu – Hậu Lộc, Thanh Hoá
Bà Triệu Thị Trinh.
Thưa các bạn.
Hôm nay, 16/05/2026, chúng tôi Tưởng niệm ngày mất của Bà Triệu lần thứ 1778. Nếu Chúng ta vinh danh 2 Bà Trưng, tượng trưng cho Phụ nữ VN. Thì noi gương 2 Bà. Chúng ta nhận thấy khí chất ở nơi Bà triệu là biểu tượng cho Nữ Quyền của Dân Việt, biểu tượng của sự bình đẵng trong Dân Quyền mà chúng ta cần bảo tồn, truyền tải. Bà Triệu còn là một chứng minh của
Sự quật khởi từ lòng dân chống đô hộ,
Từ quần chúng chống bất công,
Từ cái nôi gia đình của người dân Việt bất khuất, kiên cường, trung liệt.
Tưởng niệm Bà Triệu là
Để nhắc nhở lịch sử, để hun đúc tinh thần dân tộc,
Để cho thấy sự hy sinh của tiền nhân đã lấy máu đào tô thắm cho non sông nước Việt.
Để cho con cháu ngàn đời sau biết rằng « không có một thành tựu nào mà không có gian nan, khổ đau, cố gắng, kiên cường, hy sinh » cả các bạn.
Khi con người chỉ lo thụ hưỡng an nhàn, sống vô trách nhiệm, không ý thức tức là con người đang đi vào con đường thoái hóa, chủ bại thậm chí đi đến diệt vong.
3 cột trụ giúp con người đứng vững và tiến tới tương lai tốt đẹp là ;
Ý thức bản thân,
Ý thức gia đình và
ý thức công đồng xã hội.
Từ nơi 3 ý thức này sẽ tạo ra ý thức lãnh đạo tốt để dìu dắt con người trong xã hội tiến tới tương lai tốt đẹp.
Câu nói « Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh » nêu lên rỏ tinh thần quật cường, lòng hy sinh và tinh thần bình đẵng, bình quyền nam nữ trong văn hóa Việt đã có từ ngàn xưa. Có lẽ tinh thần này được hun đúc từ chế độ Mẫu hệ của tiền nhân chúng ta. Đây là một giá trị cao quý mà chúng ta, hậu thế phải gìn giữ và phát triển.
Bà Triệu còn gọi là Triệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh hay Triệu Quốc Trinh, sinh ngày 8 tháng 11 năm Bính Ngọ 226 – Tuẫn tiết ngày 2 tháng 4 năm 248 Mậu Thìn.
Bà được sinh ra tại miền núi Quan Yên (hay Quân Yên), quận Cửu Chân (nay thuộc làng Quan Yên, hay còn gọi là Yên Thôn, xã Định Tân, tỉnh Thanh Hóa).
Từ nhỏ, bà sớm tỏ ra có chí khí hơn người. Khi cha bà hỏi về chí hướng mai sau, tuy còn ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa:
"Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị". Điều này chứng tỏ lòng yêu nước của bà đã có từ tấm bé. Nếu chúng ta muốn giữ nước. Chúng ta phải yêu nước, thương dân. Nếu muốn có được tinh thần này thì phải được giáo dục liên tục từ thuở nhỏ. Muốn có được giáo dục này thì người lãnh đạo phải ý thức và chuyên tâm giáo dục . Muốn có được trách nhiệm giáo dục này ở nơi lãnh đạo thì người lãnh đạo phải ý thức, có tài đức , trách nhiệm và nhất là phải thực tâm hành động và làm gương.
Cha mẹ đều mất sớm, Bà Triệu đến ở với anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng ở Quan Yên.
Lớn lên, bà là người có sức mạnh, giỏi võ nghệ, lại có chí lớn. Đến năm 19 tuổi gặp phải người chị dâu (vợ ông Đạt) ác nghiệt, bà giết chị dâu rồi vào ở trong núi Nưa (nay thuộc các thị trấn Nưa huyện Triệu Sơn, xã Mậu Lâm huyện Như Thanh, xã Trung Thành huyện Nông Cống, Thanh Hóa), chiêu mộ được hơn ngàn tráng sĩ.
Mùa xuân năm Mậu Thìn (248), thấy quan lại nhà Đông Ngô tham quan, tàn ác. Dân lành khổ sở, Bà Triệu bèn bàn với anh, mưu đồ việc khởi binh chống lại.
Từ hai căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, quân khởi nghĩa đánh chiếm huyện trị Tư Phố nằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã. Đây là căn cứ quân sự lớn của quan quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân. Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằng con sông này.
Bất ngờ, đang lúc ấy, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời. Các nghĩa binh nhận thấy bà làm tướng có chí khí, can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Bà đã phối hợp với ba anh em họ Lý ở Bồ Điền đánh chiếm các vùng đất còn lại ở phía Bắc Thanh Hóa ngày nay. Đồng thời, bà xây dựng tuyến phòng thủ từ vùng căn cứ Bồ Điền đến cửa biển Thần Phù (Nga Sơn, Thanh Hóa) để ngăn chặn viện binh của giặc Ngô theo đường biển tấn công từ phía Bắc.
Khi ra trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trắng một ngà và được tôn là Nhụy Kiều tướng quân.
Quân Bà đi đến đâu cũng được dân chúng hưởng ứng, khiến quân thù khiếp sợ.
Theo truyền thuyết, để mua chuộc Bà. Giặc Hán đã phong cho Bà Triệu đến chức Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp của vùng ven biển). Còn bí mật sai tay chân thân tín tới gặp và hứa sẽ cấp cho Bà thật nhiều tiền bạc. Nhưng Bà cũng chẳng chút tơ hào.
Cũng theo truyền thuyết, Quân Hán bị thất bại nhiều trận. Hễ nghe tới việc phải đi đàn áp Bà Triệu là binh lính giặc lại lo lắng, chúng phải thốt lên rằng:
Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà vương nan.
Tạm Dịch :
Vung tay đánh cọp xem còn dễ
Đối diện Bà Vương mới khó sao.
Được tin cuộc khởi nghĩa lan nhanh, vua Ngô là Tôn Quyền liền phái tướng Lục Dận (cháu của Lục Tốn), sang làm Thứ sử Giao Châu, tước An Nam hiệu úy. Lục Dận đem theo 8.000 quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Đến nơi, tướng Lục Dận liền dùng của cải mua chuộc một số lãnh tụ địa phương để làm suy yếu và chia rẽ lực lượng nghĩa quân.
Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền. Song do chênh lệch về lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai tháng. Cuộc khởi nghĩa thất bại.
Theo sử gia Trần Trọng Kim, bà chống đỡ với quân Đông Ngô được 1 năm, sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (nay thuộc xã Triệu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) vào ngày 2 tháng 4 năm Mậu Thìn (248), lúc Bà mới có 23 tuổi.
Theo truyền thuyết, sau khi tìm thấy thi thể Nữ Chủ tướng. ba anh em họ Lý đã đắp mộ chu toàn cho Bà ngay trên đỉnh núi. Không bao lâu sau đó, ba ông cũng đã tuẫn tiết dưới chân núi Tùng để giữ trọn lời thề với Nữ Chủ tướng của mình.
Câu nói đễ đời của Bà, cho ngàn năm lưu danh và vinh danh phụ nữ Việt.
Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà Triệu đã nói:
Đền Bà Triệu được đặt ở dưới chân núi Gai tại xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.
Ở Trà Vinh, tại ngôi miếu được gọi là Lầu Bà Cố Hỷ có thờ bà Triệu Thị Trinh, truyền thuyết dân gian nói rằng xưa kia có 2 sắc phong cho hai anh em bà Triệu (Triệu Thị Trinh và Triệu Quốc Đạt) bị trận bão lớn từ Bắc trôi dạt vào nơi đây, nhân dân đưa hai đạo sắc ra biển nhưng vẫn lại trôi tấp trở vào, nghĩ rằng : Sắc chọn nơi đây để ngự và làm nơi thờ tự nên người dân ở đây cử người ra Thanh Hóa và lấy kiểu đền thờ bà Triệu Thị Trinh về đây xây cất và thờ cúng..
Bà Cố Hỷ được đồng nhất với bà Triệu và được nhân dân thờ phượng cùng với Triệu Minh Công (tức Triệu Quốc Đạt).
Một vài Thơ ca, câu đối về Bà Triệu :
Trong Đại Nam quốc sử diễn ca có đoạn "Bà Triệu, đánh Ngô", khái quát rất sinh động:
Thơ rằng :
Binh qua trải bấy nhiêu ngày,
Mới sai Lục Dận sang thay phiên thần.
Anh hùng chán mặt phong trần,
Nữ nhi lại cũng có lần cung đao.
Cửu Chân có ả Triệu Kiều,
Vú dài ba thước tài cao muôn người.
Gặp cơn thảo muội cơ trời,
Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang.
Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha.
Chông gai một cuộc quan hà,
Dù khi chiến tử còn là hiển linh.
Tương truyền quân Ngô khiếp uy dũng của Bà Triệu nên có câu:
Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà vương nan.
Tạm Dịch :
Múa giáo đánh cọp dễ,
Đối mặt Vua Bà thì thực khó.
Trong dân gian hiện cũng còn truyền tụng nhiều câu thơ ca và câu đối liên quan đến bà như sau:
1/- Ru con, con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi.
Muốn coi, lên núi mà coi,
Có bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng.
Hay là :
2/- Túi gấm, cho lẫn túi hồng.
Tiêm trầu cánh kiếm cho chồng ra quân.
Tùng Sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.
Hay là :
3/- Cửu Chân trăm trận gan hơn sắt,
Lục Dận nhiều phen mắt đã vàng.
Và 2 câu đối của 1 khuyết danh :
4/- Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lệ Hải Bà Vương, những muốn bon chân về Bắc quốc ;
Ngồi yên ngựa, khách đi hoài cổ, tưởng sự Lạc Hồng nữ tướng, có chăng thẹn mặt đấng nam nhi."
(Khuyết danh).
5/- Hay là bài thơ của Chí sĩ Dương Bá Trạc
Một đầu voi chống chọi với quân thù,
Sau Trưng nữ rạng danh bà Lệ Hải ;
Ba thước vú tử sinh cùng đất nước,
Cho Ngô hoàng biết mặt gái Giao Châu.
Chú thích : Nếu các câu chử « Vú dài 3 thước », « Ả », « Ẩu » hàm ý là mụ,…. ý chử có vẽ miệt thị, thì thực ra trong sử Hán Tàu. Họ rất cay cú dân Việt. Bởi vì, sau hàng nhiều năm đô hộ. Giống Hán bắc phương vẫn bị người Việt đánh cho xấc bấc, xang bang. Chính vì lý do đó, đôi khi, sử Việt xưa, có dùng và mượn tài liệu từ phương bắc. Tất nhiên không tránh khỏi những lời viết miệt thị dân Việt. Thiết nghĩ, hậu sinh chúng ta cần phải sáng suốt thanh lọc, tránh để những thâm ý trong ngôn từ này bị hiểu lầm và ít nhiều truyền tải theo ẩn ý của quân thù phương bắc. Mong rằng chúng ta cùng nhau : Học sử, hiểu sử, truyền tải sử, gìn giữ sử và quan trọng nhất là viết nên những trang sử oai hùng mới cho đất nước và dân tộc VN.
Trân trọng,
Nhóm Thân hữu Trocadéro, ngày 16/05/2026.
Đọc thêm:
Ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa năm 248
Cuộc khởi nghĩa của bà Triệu mang nhiều ý nghĩa to lớn đối với lịch sử dân tộc. Nó là minh chứng rõ ràng cho tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm, là biểu tượng của lòng yêu nước mãnh liệt và ý chí bất khuất của người Việt trong mọi thời đại.
Tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm
Dù cuộc chiến tranh này đã kết thúc trong thất bại, nhưng tinh thần chiến đấu kiên cường của bà Triệu và quần chúng vùng Đông Bắc đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho các phong trào chống ngoại xâm sau này. Nó phản ánh sức mạnh nội lực của người dân, ý chí quyết tâm giữ gìn nền độc lập của dân tộc trong những thời điểm gian khổ nhất.
Hình ảnh người phụ nữ trong lịch sử chống giặc
Hình ảnh bà Triệu như một ví dụ về sự đóng vai trò quan trọng của người phụ nữ trong cuộc đấu tranh chống xâm lược. Sức mạnh tinh thần, phẩm chất chính trực và lòng dũng cảm của bà đã phá vỡ các định kiến về vai trò người phụ nữ trong xã hội phong kiến, mở đường cho hình tượng người phụ nữ yêu nước, anh hùng trong lịch sử Việt Nam.
Khu lăng mộ bà Triệu tại núi Tùng – Thanh Hoá
Hình ảnh này còn là bài học về việc tôn vinh các giá trị truyền thống của dân tộc, khuyến khích các thế hệ trẻ phát huy tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Bà Triệu trở thành biểu tượng của lòng trung thành và khí tiết của người phụ nữ Việt Nam qua mọi thời đại.
Ảnh hưởng đến các cuộc khởi nghĩa sau này
Cuộc khởi nghĩa của bà Triệu đã gieo mầm cho những phong trào chống ngoại xâm tiếp theo, góp phần hình thành truyền thống dân tộc bất khuất, kiên cường. Những bài học lịch sử từ cuộc nổi dậy này đã giúp các thế hệ sau có thêm động lực và phương hướng đấu tranh mới.
Ngoài ra, hình ảnh và tinh thần của bà Triệu góp phần duy trì các giá trị của truyền thống, khơi gợi niềm tự hào dân tộc, là nền tảng cho quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt trong các thời kỳ sau này.
Không có nhận xét nào