Header Ads

  • Breaking News

    Quy hoạch Sài Gòn trước 1975 như thế nào?

     Chuyện tháng 4 năm 1975 - Đọc báo trong nước

    Quy hoạch Sài Gòn trước 1975 như thế nào?

    Bí ẩn ba con đường xéo giữa Sài Gòn vuông vức

    Chung Hai/ Báo Tuổi Trẻ

    05/4/2016

    Quy hoạch Sài Gòn trước 1975 "phát triển theo hình chùm nho nằm hướng đông tây", nở rộng một chút lên phía bắc (tới Công viên Lê Thị Riêng hiện nay), phía nam (Q.4) - Bản đồ tư liệu

    Khu Thủ Thiêm được quy hoạch từ thời Ngô Đình Diệm (1955-1963) nhưng không thực hiện được - Ảnh tư liệu

    Thời "Đệ nhất cộng hòa" (1955-1963) Ngô Đình Diệm, Sài Gòn nằm trong công cuộc "tái thiết thủ đô" của VNCH. Nhưng từ giữa thập niên 1960, Sài Gòn đã không còn theo ý muốn của nhà quy hoạch.

    Nếu thời thuộc Pháp, Sài Gòn tập trung phát triển giao thông đường bộ, đường thủy về hướng  Chợ Lớn, miền Tây thì chính quyền Sài Gòn tập trung về hướng đông.

    Hai cú đấm mạnh về hướng đông

    Bên cạnh việc tu bổ kênh rạch, đường sá phía tây khu Sài Gòn - Chợ Lớn, ngày 27-3-1957,  Bộ Công chánh và giao thông VNCH khởi công xây dựng xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa (dân gọi là xa lộ Biên Hòa, hiện là xa lộ Hà Nội) nhằm "Cải thiện một cách dứt khoát vấn đề bế tắc lối ra khỏi vùng Sài Gòn" (Tổng kết 5 năm 1954 - 1959 của Chánh phủ VNCH).

    Toàn bộ chi phí do Mỹ viện trợ và nhà thầu Mỹ RMK-BRJ phụ trách việc xây dựng này (hiện vẫn còn ngã tư RMK). 

    Đến 28-4-1961 xa lộ Biên Hòa (dài 31km, rộng 14m - tải trọng xe 32 tấn) hoàn thành, tạo chuyển biến khá mạnh trong liên kết khu vực và kinh tế vùng.

    Xây dựng và hoàn thành cùng lúc với xa lộ Biên Hòa là cầu Sài Gòn, đường Phan Thanh Giản rất rộng (nay là Điện Biên Phủ), cầu Đồng Nai. Trong đó, cầu Sài Gòn cũng do nhà thầu Mỹ RMK-BRJ thực hiện với công nghệ làm đường mới nhất của Mỹ và kinh phí từ viện trợ kinh tế của USOM.

    Cầu Đồng Nai lúc đang xây dựng năm 1959 - Ảnh: George E Gray

    Đường Phan Thanh Giản - cầu Sài Gòn - xa lộ Biên Hòa - cầu Đồng Nai đẩy Sài Gòn về hướng đông để mở mang vùng công nghiệp dọc tuyến đường qua vùng Thủ Đức, Biên Hòa gọi là khu công nghiệp kỹ nghệ Biên Hòa với nhiều ngành nghề: hóa học, mỹ phẩm, cơ khí và luyện kim, vật liệu xây dựng (Nhà máy ximăng Hà Tiên ở Thủ Đức, Vikimco (kim khí), Vinaton (tôn) và hàng tiêu dùng (Nhà máy giấy Cogido-An Hảo, Nhà máy dệt Vinatexco, Vimytex, Công ty sữa Foremost, Nhà máy đường Biên Hòa…

    Làng đại học Thủ Đức (hiện là ĐHQG TP.HCM) cũng được xây dựng ngay sau đó do KTS Ngô Viết Thụ (KTS thiết kế Dinh Độc Lập - hội trường Thống Nhất hiện nay) thiết kế và xây dựng đầu thập niên 1960.

    Ngôi "làng" này không chỉ để giãn sinh viên ra ngoại thành mà theo dự tính của các nhà quy hoạch còn là nguồn cung ứng lao động có chất lượng cho các nhà máy phía đông Sài Gòn cũng như Khu công nghiệp Biên Hòa phục vụ cho sự phát triển của Sài Gòn.

    Tương tự là một số khu dân cư dọc tuyến xa lộ Biên Hòa cũng được hình thành với nhiều ưu đãi (phân lô bán nền với giá gần như cho không) cung ứng nguồn lao động chất lượng trung bình cho các nhà máy nơi đây (như khu dân cư - trại chiếu Minh Đức chẳng hạn, sát Khu du lịch văn hóa Suối Tiên hiện nay).

    Khu Thủ Thiêm (Q.2 hiện nay) cũng đã bắt đầu được lên quy hoạch với động tác hành chính cụ thể: tháng 12-1966 An Khánh và Thủ Thiêm (vốn thuộc xã An Khánh, Q. Thủ Đức, Gia Định) trở thành hai phường của quận 1, rồi chỉ một tháng sau tách thành một quận mới, quận 9.

    Do chiến cuộc mở rộng, chính quyền Sài Gòn bỏ dở quy hoạch này...

    Quy hoạch, chỉnh trang nội ô, ngoại ô Sài Gòn 

    Nhà quản lý, quy hoạch đô thị Sài Gòn trước năm 1975 hầu như không đụng tới đường sá, kiến trúc người Pháp để lại chủ yếu tập trung ở trung tâm thành phố.

    Đường Tự Do (nay là Đồng Khởi) năm 1961 - Ảnh: LIFE

    Thay vào đó là xây dựng các khu nhà, cư xá, khu chung cư ở các quận trung tâm, ven đô còn quỹ đất lớn như Q.3, 10, 11, Tân Bình... như cư xá Đô Thành (Q.3), cư xá Tự Do, cư xá Sĩ Quan (Tân Bình), cư xá Bắc Hải, chung cư Minh Mạng (Q.10), chung cư Khánh Hội (Q.4)... 

    Nhiều ngàn căn nhà ở khu phụ cận Sài Gòn như Thị Nghè (Bình Thạnh), Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sỹ, Q.3), Chánh Hưng (Q.8), Kiến Thiết (Q.3), Hòa Hưng (Q.10), Dân Sinh (Q.1), Phú Thọ (Q.11)... giá từ 15.000-350.000 đồng được xây dựng để "thỏa mãn nhu cầu của mọi tầng lớp dân chúng" (Tổng kết 5 năm 1954 - 1959 của Chánh phủ VNCH). 

    Giữa thập niên 1950, hối đoái 1 USD bằng 35 đồng VNCH. Đầu thập niên 1960, hối đoái chính thức 1 USD ăn 73,5 đồng VNCH (thị trường tự do khoảng 130-180 đồng VNCH); lương giáo viên lúc đó khoảng 3.000-4.000 đồng/tháng. 

    Ngã tư Lý Thường Kiệt- Tô Hiến Thành giữa những năm 1960 còn khá trống trải, tạo điều kiện xây dựng nhiều căn nhà xã hội - Ảnh tư liệu

    Việc xây dựng này khá mạnh, chẳng hạn từ 7-7-1958 đến 7-7-1959, gần 1.000 căn được xây dựng và bán; diện tích khoảng 4x20m (hiện còn khá nhiều trên đường Lê Văn Sỹ, Chánh Hưng, Cách Mạng Tháng Tám...).

    Những căn nhà này bán rất rẻ, do một phần lấy từ viện trợ Mỹ nhằm "rút bớt dân số quá đông đúc tại kinh thành" (tức khu trung tâm thành phố - Tổng kết 5 năm 1954 - 1959 của Chánh phủ VNCH) ra vùng ven, qua các cây cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Lê Văn Sỹ, cầu Nguyễn Văn Trỗi (xin chỉ dùng tên hiện nay để bạn đọc không rối) lúc ấy còn khá hoang vắng...

    Một thiết kế khu dân cư đầu thập niên 1960 ở Sài Gòn: các ngôi nhà nửa biệt thự, nửa nhà phố một trệt, một lầu nằm quanh một giếng trời của khu rộng khoảng 300-500m2. Ảnh chụp trên đường trên đường Phạm Văn Hai (Tân Bình, TP.HCM) hiện vẫn còn khá nguyên vẹn (riêng vạt cỏ của giếng trời đã bị lát ximăng). Toàn khu có đường thông ra ngoài ở ba phía (đường bên dưới ảnh thông ra một con hẻm 10m để ra đường Phạm Văn Hai, Lê Văn Sỹ - Ảnh: M.C. 


    Hai trong số các khu dân cư trước 1975 trên bản đồ vệ tinh hiện nay - Ảnh: TRỊ THIÊN

    Riêng khu trung tâm thành phố, một số công trình lớn được xây dựng, tạo điểm nhấn khu vực cũng như dấu ấn một kiểu kiến trúc khác hoàn toàn với kiến trúc Pháp, phối hợp nhuần nhuyễn nét hiện đại với tính dân tộc; phù hợp với thời tiết nóng ẩm Sài Gòn: dinh Độc Lập, Thư viện Quốc Gia, chùa Vĩnh Nghiêm...

    Từ giữa thập niên 1960, Sài Gòn đã không còn theo ý muốn của nhà quy hoạch

    Hàng loạt cuộc đảo chính sau nền "Đệ nhất cộng hòa" (1955-1963), hơn 500.000 lính đồng minh tràn vô miền Nam năm 1965... với những hệ lụy của nó, có thể nói từ giữa thập niên 1960, những mục tiêu ban đầu của quy hoạch Sài Gòn đã không còn kiểm soát được.

    Trong khi liên kết vùng về hướng đông (Sài Gòn - Biên Hòa) khá tốt thì việc liên kết nội - ngoại ô Sài Gòn thoạt đầu có một ít thành quả (phần trên) thì ít nhất từ thời "Đệ nhị cộng hòa" Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975), hầu như do người dân... tự quy hoạch.

    Kết quả hàng vạn ngôi nhà xung quanh Sài Gòn, bên ngoài các cây cầu Thị Nghè (Bình Thạnh), Khánh Hội (Q.4), cầu chữ Y (Q.8)... xuất hiện tự phát với vô số hẻm hóc. 

    Thực trạng này khiến ý tưởng quy hoạch "Sài Gòn hình chùm nho, mỗi quận mới là một trái nho liên kết với chùm" bị phá sản hoàn toàn khi nhiều khu vực quận 4, 8, 10, 11... mới thành lập trở thành "khu cứ điểm" chặn đường ra vô khu nội ô, thậm chí có nơi đã thành "khu ổ chuột".

    Một khu vực "ranh đô thị Sài Gòn" (bảng trắng góc phải hình ghi rõ) khoảng cuối thập niên 1960 khá ngổn ngang - Ảnh tư liệu

    Rồi hàng vạn nhà lấn chiếm toàn bộ hai con rạch huyết mạch của Sài Gòn: Thị Nghè và Bến Nghé - Tàu Hủ, để lại một hậu quả lâu dài trong quy hoạch đô thị.

    Hàng ngàn nhà lấn chiếm rạch Bến Nghé trước 1975 - Ảnh: LIFE


    Một khu nhà trên rạch Thị Nghè  trước 1975 - Ảnh tư liệu

    Và phong trào "thương phế binh (VNCH) cắm dùi" các khu đất trống ở nhiều nơi, đặc biệt những công trình phục vụ chiến tranh xấu xí, ngổn ngang của quân đội đồng minh cũng như VNCH ngay trung tâm thành phố từ giữa thập niên 1960 đến 1975 đã khiến ai tới Sài Gòn không thể tin nó đã từng có "một thời hoa lệ"... 

    Một khu nhà dành cho binh lính đồng minh trên đường Nguyễn Văn Thoại (nay là Lý Thường Kiệt) năm 1970 - Ảnh tư liệu


    * Công bố của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF năm 2012: năm 1960, thu nhập bình quân đầu người (GDP đầu người) của Nam VN là 223 USD; xếp hàng thứ 4 khu vực Viễn Đông; dưới Singapore  (395 USD), Malaysia (239 USD), Philippines (257 USD); trên Hàn Quốc (155 USD), Thái Lan (101 USD), Trung Quốc (92 USD), Ấn Độ (84 USD).

    Tuy nhiên, GDP đầu người của miền Nam sau đó rớt nặng nề, thậm chí năm 1974 sau khi Mỹ rút quân, cắt giảm viện trợ, GDP đầu người chỉ còn... 54 USD, thuộc nhóm quốc gia GDP đầu người thấp nhất Viễn Đông.

    * Trước đó, năm 1938 là năm thịnh vượng nhất của Nam Kỳ (Cochinchin - thuộc địa Pháp), GDP đầu người tính theo sức mua của Nam Kỳ gấp 69% năm 1960, năm thịnh vượng nhất của VNCH, thứ nhì châu Á (sau Nhật), đúng đầu Đông Nam Á (Viễn Đông).

    Maylaysia (bao gồm cả Singapore lúc đó chưa độc lập), Philippines... theo sát vị trí này.

    Chung Hai

    Bí ẩn ba con đường xéo giữa Sài Gòn vuông vức

    Chung Hai/ Báo Tuỏi Trẻ

    17/03/2016

    Đó là ba con đường Trần Quang Khải (Q.1), Lý Chính Thắng, Kỳ  Đồng (Q.3) với những hình ảnh lạ: chạy xéo, chạy liền nhau theo một hướng và dường như cao hơn khu vực xung quanh... Bí ẩn gì ở đây?

    Vị trí lũy Bán Bích làm năm 1772 so với bản đồ hiện nay - theo bản đồ Trần Văn Học 1815, Gia Định thành thông chí 1820, bản đồ của nhà nghiên cứu Đại Thạch Lê Ước... Đồ họa: TRỊ THIÊN


    Vị trí lũy Bán Bích 1772 trên bản đồ Trần Văn Học 1815 (ghi là "cựu lũy") cho thấy lũy từ cầu Cao Miên (cầu Bông hiện nay) men theo rạch Thị Nghè lên phía Bắc, cắt ngang đường thiên lý sang Cao Miên (nay là đường Cách Mạng Tháng 8) ở khu vực gần cầu Lão Huệ (nay là một con cầu trên kênh Nhiêu Lộc) đi thẳng, cắt qua đường Hồng Bàng (nối theo đường Nguyễn Thị Minh Khai, Hùng Vương hiện nay) và bao trọn khu vực quận 5 hiện nay; tạo thành một tường thành bao quanh Sài Gòn - Chợ Lớn xưa.

    ... Đó là chỉ nói ba con đường thuộc khu vực trung tâm Sài Gòn xưa vì thật ra còn một loạt các tuyến đường cũng liền mạch ba đoạn đường chính này.

    Tất cả đều không theo quy hoạch vuông vức của Sài Gòn xưa mà chạy theo quy hoạch của chính nó trong một kế hoạch phòng thủ lẫn quy hoạch Sài Gòn khá hoàn hảo cách đây 244 năm (1772-2016): lũy Bán Bích.

    Sài Gòn - Chợ Lớn xưa trải qua và hình thành từ bao cơn binh lửa

    318 năm trước, năm 1698, chúa Nguyễn cử Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, thiết lập chính quyền, đơn vị hành chính, chia tỉnh lỵ...; chính thức xác lập chủ quyền của người Việt trên vùng đất mới, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long và xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (Quảng Bình mới), đặt ra hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định).

    Những xóm làng đầu tiên của Sài Gòn là xóm Hòa Mỹ (tức xóm Thủy Trại, gần đường Tôn Đức Thắng hiện nay), Tân Khai (khu vực cầu Mống), Long Điền, xóm Than, Bàu Sen (Cây Mai), Lò Bún, Cây Củi, Rẫy Cải, Ụ Ghe... với khoảng hơn 10.000 dân và là thủ phủ của dinh Phiên Trấn. 

    Tuy nhiên, ngay tên gọi trấn cũng cho thấy đây vẫn còn là khu vực quân sự khi nơi đây liên tục có những cuộc chiến tranh giữa nhiều thế lực quân sự: chúa Nguyễn, Xiêm La (Thái Lan ngày nay), Chân Lạp (hay Cao Miên - Campuchia ngày nay), quân Tây Sơn lẫn quân của các cựu thần nhà Minh không chấp nhận nhà Thanh chạy sang tá túc.

    Sài Gòn - Chợ Lớn xưa liên tục bị nhiều lực lượng quân sự Xiêm La, Cao Miên tấn công, quấy nhiễu từ hướng Tây.

    Trịnh Hoài Đức (1765-1825) ghi nhận trong Gia Định thành thông chí (viết khoảng năm 1820-1822) về nền lũy Hoa Phong do Thống suất Chưởng cơ Nguyễn Lễ (Nguyễn Hữu Cảnh) sai đắp năm 1700 để chống Cao Miên vẫn còn. Nghĩa là lũy Hoa Phong này từng tồn tại đến ít nhất 120 năm.

    Theo nhà văn Sơn Nam, người chỉ huy công trình là một thuộc tướng của Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh tên Cầm nên còn gọi là lũy Lão Cầm. (Cũng theo ông, hiện lũy này thuộc khu vực đường Địa Đạo, Tân Phú, TP.HCM).

    Ông cũng cho biết thêm: năm 1731, lũy Tây Hoa được đắp nối với lũy Lão Cầm do lúc ấy, một người Lào tên là Sa Tốt xách động một nhóm người Chân Lạp quấy nhiễu Bến Lức (Long An), 18 thôn Vườn Trầu (Hóc Môn). 

    Một người Gia Định dựng Lũy Bán Bích

    Nguyễn Cửu Đàm quê Gia Định, là một danh tướng thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (năm sinh chưa rõ, chết trận năm 1777) với hàm Hữu quân Phó tiết chế, tước Đàm Ưng hầu (ông vốn là anh trai bà Thị Nghè, người đã xây cây cầu nay vẫn mang tên bà, cầu Thị Nghè).    

    Hiện nay, tên võ tướng Nguyễn Cửu Đàm và lũy Bán Bích được đặt tên cho hai con đường ở quận Tân Phú, TP.HCM. Riêng đường Lũy Bán Bích chạy dài từ quận Tân Phú tới quận 11, thuộc khu vực cuối lũy Bán Bích do Nguyễn Cửu đàm xây dựng.

    Năm 1767, Miến Điện (Myanmar hiện nay) tấn công Xiêm La, bắt vua Xiêm. Năm 1768, một người gốc Quảng Đông (Trung Quốc) tên Taksin (tức Trịnh Quốc Anh) khởi binh lên làm vua.

    Nặc Tôn, vua Cao Miên cho rằng Taksin không thuộc người Xiêm nên không chịu cống nạp. Taksin kéo quân qua Cao Miên hạ bệ Nặc Tôn, thay bằng Nặc Nộn, chiếm đóng Nam Vang (Pnompenh hiện nay).

    Cuối năm 1771, Taksin đem binh thuyền vây Hà Tiên để bắt con vua Xiêm La cũ là Chiêu Thúy. Đô đốc Mạc Thiên Tứ chạy về Cần Thơ...

    Tháng 6-1772, chúa Nguyễn Phúc Thuần cử Thống suất Nguyễn Cửu Đàm đem quân tái chiếm Hà Tiên. Cả Taksin lẫn Nặc Nộn tháo chạy. Nguyễn Cửu Đàm phản công tới tận Nam Vang, đưa Nặc Tôn về làm vua lại, rồi rút quân về Gia Định.

    Về lại Gia Định, phòng ngừa Xiêm quấy rối, cuối năm 1772, Thống suất Nguyễn Cửu Đàm cho đắp lũy Bán Bích dài khoảng 8 cây số rưỡi, từ cầu Cao Miên (cầu Bông hiện nay) men theo rạch Thị Nghè (nay gần như trùng khớp với 3 con đường xéo "bí ẩn" Trần Quang Khải - Lý Chính Thắng - Kỳ Đồng), lên phía Bắc (thuộc khu vực xung quanh đường Trần Văn Đang hiện nay) cắt ngang đường thiên lý sang Cao Miên (nay là đường Cách Mạng Tháng 8) đi thẳng và bao trọn khu vực quận 5 hiện nay; tạo thành một vòng cung bao quanh Sài Gòn - Chợ Lớn.

    Đường Trần Quang Khải (Q.1, TP.HCM) dài 900m gần như nằm hoàn toàn trên đoạn đầu lũy Bán Bích xưa, vùng đất phên dậu đầu tiên bảo vệ và hình thành khu vực Sài Gòn xưa -Ảnh: M.C

    Với rạch Thị Nghè (hướng Bắc), sông Sài Gòn (Đông), rạch Bến Nghé (Nam) và lũy Bán Bích (Tây), cả vùng Sài Gòn (tên xưa là Bến Nghé - lúc ấy chỉ nằm ở khu vực quận 1 hiện nay, rộng khoảng 1km2) - Chợ Lớn (tên xưa là Sài Gòn - thuộc khu vực quận 5 hiện nay - cũng rộng chỉ khoảng 1km2) nằm trong một khu vực phòng thủ từ xa với có diện tích khoảng 25km2.

    Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, với tuyến phòng thủ sông rạch tự nhiên cùng với lũy Bán Bích, "thành phố này không còn sợ gì bất trắc nữa. Trong thực tế, quân Xiêm đã xâm phạm bờ cõi phía Nam nhiều lần, song lần nào cũng bị quân Việt đánh tan trước khi tới cửa ngõ thành phố".

    (Tuy nhiên, hệ thống phòng thủ này không cản nổi lực lượng Tây Sơn từ biển Cần Giờ tấn công vô nhiều lần suốt 12 năm, từ 1776-1788 để tận diệt dòng họ chúa Nguyễn. Có lần đã bắt sống được chúa Nguyễn Phúc Thuần lẫn chúa Nguyễn Phúc Dương (con Nguyễn Phúc Thuần).

    Theo Trương Vĩnh Ký, cả hai cha con chúa Nguyễn này đều bị mang ra hành quyết ở ngôi "quốc tự" - chùa Kim Chương.

    Chùa Kim Chương (Kim Chương Tự) ở làng Tân Triêm, thuộc Gia Định xưa (hiện thuộc khu vực từ đầu đường Nguyễn Trãi đổ ra Cầu Kho; theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, ngôi cổ tự này ở khu vực chùa Lâm Tế, đầu đường Nguyễn Trãi, Q.1, TP.HCM hiện nay). 

    Khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ trước quân Pháp (1861), chùa Kim Chương được tháo dỡ mang về xã Mỹ Thiện, tỉnh Định Tường (nay thuộc huyện Cái Bè, Tiền Giang) dựng lại với tên khác, Hội Thọ tự.

    Sài Gòn - Chợ Lớn bắt đầu hình thành đô thị

    Quả thực như thế, sau khi lũy Bán Bích xây dựng xong, hầu như khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn hoàn toàn vững vàng trước các thế lực quân sự nước ngoài muốn tấn công từ phía Bắc và phía Tây thành phố.

    18 năm sau, thế phòng thủ lại được củng cố thêm bằng thành Gia Định (thành Quy) được xây dựng năm 1790 với quy mô lớn hơn, vững chắc nhất trong toàn bộ hệ thống thành lũy thời nhà Nguyễn, thậm chí còn hơn kinh thành Huế sau này.

    Không chỉ vậy, cuối năm 1772,  thống suất Nguyễn Cửu Đàm cho đào kênh Ruột Ngựa (lớn như sông nên còn có tên gọi là Mã Trường giang) thẳng "như ruột ngựa" chạy từ cửa Rạch Cát cho đến Lò Gốm, tức thông từ Bến Nghé (Sài Gòn hiện nay) ra miền Tây để thuận tiện cho thuyền bè buôn bán, vận chuyển hàng hóa, gạo... xuống miền Tây.

    ...  Thế là từ đó, hàng loạt những thôn xóm, khu dân cư trong tuyến phòng thủ này được hình thành và phát triển mạnh, sầm uất mà bài "Cổ Gia Định phong cảnh vịnh" đầu thế kỷ 18 đã mở đầu bằng những vần thơ ca ngợi: "Phủ Gia Định, phủ Gia Định, nhà đủ người no chốn chốn - Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn, ở ăn vui thú nơi nơi...".

    Chung Hai/ Báo Tuổi Trẻ


    Không có nhận xét nào