Header Ads

  • Breaking News

    Văn chương hải ngoại: nỗi chữ – nỗi quê

    Kỳ 4

    Tác giả: Trần Doãn Nho 

    12/5/2026

    Tự…vong thân

    Chấn động văn hóa biến người di dân luôn luôn sống trong tình trạng bất ổn của môi trường lai ghép, pha trộn, xô lệch, bất ổn. Đối với thế hệ thứ nhất, đó là nỗi khổ hội nhập, đồng thời cũng là xung đột giữa những gì đã có (hoài niệm) và những gì đang có (hiện thực); tranh chấp giữa ký ức như một thực thể thân quen (nhưng) đã bị thất lạc và khát vọng hội nhập như một hiện thực xa lạ (nhưng) cấp thiết. Ký ức là một cái gì vỡ vụn, chập chờn  nhưng bướng bỉnh; hiện thực trước mắt thì cụ thể, nhưng nhạt nhẽo, vô hồn và tạm bợ. Đối với thế hệ một rưởi hay thế hệ thứ hai, đó là hai xung đột văn hóa diễn ra cùng một lúc: một, giữa mình và thế hệ đi trước; hai, giữa mình và chính mình.

    Thể hiện trong văn chương, đó là một thách đố. Về đạo lý, giữa “vọng nội” và “vọng ngoại”, giữa truyền thống và lai–căng. Về chính trị, giữa trung thành và phản bội; giữa chối bỏ và níu kéo. Về ngôn ngữ, giữa giữ gìn và phá bỏ. Hội nhập thành công vào xứ người là xé bỏ lai lịch. Giữ gìn thành công ngôn ngữ và truyền thống của mình là ly khai với hiện thực. Cách này hay cách kia đều đưa đến tình trạng “vong thân” (alienation), tự đánh mất mình. Viết trong thân phận di dân, nhất là di dân tị nạn, là một vong thân kép, tự đánh mất mình hai lần. Nhà văn vừa xa lạ đối với chỗ mình đang ở (đất tạm dung) lại vừa xa lạ nơi mình muốn (nói) về. Cả hai, xứ người và quê hương, đều xa lạ. Không có chỗ nào là “nhà” thực sự. Và đều bị/được cả hai cư xử như “người khác”. Hắn không thuộc về nơi nào cả. Căn cước bản thân của hắn, rốt cuộc, là một tách rời, ly khai.

    Viết với hắn, do đó, luôn luôn là một đong đưa, chập chờn, nghiêng ngả. Ca tụng nơi đang tạm cư là mất gốc; khát khao muốn trở về nơi chốn cũ là phụ bạc. Cảm thấy ngập ngừng khi viết, cảm thấy hụt hẫng khi đọc lại. Ấy thế mà vẫn cứ muốn viết, viết hoài. Với hắn, trạng thái vong thân, vô hình trung, trở thành một kích thích để được hiện hữu như một cá thể, phải chăng?!

    9. Thành tựu

    Thế mà ta vẫn có thể nói đếnthành tựu.

    Tại sao không?!

    Vào đầu năm 2007 (1/2007), một cuộc hội thảo về “Văn Học Hải Ngoại: Thành tựu và tiềm năng” được tổ chức tại hội trường nhật báo Việt Báo, do bốn tạp chí “Văn Học”, “Văn”, “Hợp Lưu”, “Thế Kỷ 21” cùng với tạp chí mạng “Da Màu” và “Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt–Mỹ” (VAALA) bảo trợ, với sự tham dự của gần 100 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo đến từ nhiều nơi trên thế giới. Hoặc trực tiếp phát biểu và góp ý cũng như tranh cãi trong cuộc hội thảo như: Võ Phiến, Nguyễn Hưng Quốc, Bùi Vĩnh Phúc, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Ngọc–Tuấn, Nguyễn Hương, Đặng Hiền, Nguyễn Xuân Nghĩa, Cao Xuân Huy, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Quỳnh Mai, Trần Hữu Thục, Phùng Nguyễn…; hoặc gửi bài đến tham gia như: Trần Vũ, Đỗ Quyên, Trần Mộng Tú. Mỗi người một ý, bi quan có, lạc quan có, nhưng nói chung, tất cả mọi diễn giả đều thừa nhận, văn học hải ngoại là một đóng góp tích cực đối với nền văn học Việt Nam.

    Hình bìa tạp chí “Thế Kỷ 21”số 215 (3/2007) Số đặc biệt: tường thuật cuộc hội thảo Văn Học Hải Ngoại

    Trong lời “Đề dẫn”, Nguyễn Hưng Quốc đến từ Úc, chỉ ra rằng, văn học hải ngoại có những thành tựu đáng ghi nhận so với trong nước (vào thời điểm 2007). Hải ngoại có những tạp chí chuyên về văn học với tuổi thọ khá cao như “Văn” hay “Văn Học”; lại có tạp chí hoàn toàn chuyên về thơ như “Tạp chí Thơ”; có những website văn học thuần túy: Tiền Vệ, Gió O, Da Màu, Tạp chí thơ, Tân Hình Thức…Về phương diện thể loại, hải ngoại có: “trường thiên tiểu thuyết”, có “truyện thật/cực ngắn”, có “hồi ký”. Anh khẳng định, “Về phương diện mỹ học, phong cách sáng tác, kỹ thuật, ở đâu có sáng tác “hiện thực thần kỳ” (magical realism) được thử nghiệm đầu tiên? Ở hải ngoại. Ở đâu tư tưởng nữ quyền được đề cao một cách quyết liệt và với sự tự giác cao nhất? Ở hải ngoại! Ở đâu cái riêng tư, kể cả trong đời sống tình dục, của con người được khám phá nhiều nhất? Ở hải ngoại! Ở đâu chủ nghĩa hậu hiện đại được quảng bá sớm và với nhiều nhiệt tình nhất? Cũng ở hải ngoại!” [1]

    Hoàng Hưng, nhà thơ ở trong nước, thừa nhận: “Thậm chí có phong trào văn học hải ngoại đã lan truyền vào trong nước, như trường hợp thơ “Tân hình thức” do nhà thơ Khế Iêm khởi xướng. Đặc biệt là từ khi xuất hiện những tờ báo mạng “Talawas” ở Đức, “Tiền Vệ” ở Australia và “Da Màu” ở Mỹ, thì ảnh hưởng của văn học hải ngoại đến các tác giả trong nước, nhất là những cây viết trẻ, rất mạnh mẽ. Đã xuất hiện một bộ phận người viết chọn công bố tác phẩm của họ trên những tờ báo mạng ấy thay vì chịu tự kiểm duyệt để được xuất hiện trên sách báo chính thống trong nước.” [2]

    Hiện diện là thành tựu

    Phát biểu trong dịp hội thảo này, tôi cho rằng thành tựu lớn nhất của văn học hải ngoại là sự hiện diện của nó. Hay nói một cách khác, chính sự hiện diện đã là một thành tựu. Nhờ nó, những người thua cuộc và cộng đồng lưu vong có tiếng nói. Những đau khổ, lưu lạc được ghi lại. Một Việt Nam khác đuợc tồn tại và đi vào lịch sử, khỏi bị bên thắng cuộc triệt tiêu và xóa bỏ. Nhờ nó, những dòng văn chương cũ được giữ gìn, được phục hồi, không những thế, được nối dài và mở rộng. Chính vì thế, một mặt, văn học hải ngoại có vẻ như tách khỏi quê hương hay (bị lên án) chống lại quê hương, nhưng mặt khác, về lâu về dài, nó lại là cầu nối giữa hải ngoại và quê hương. Đó là hành trình “trở về”.

    Mời đọc lại vài dòng nhận xét (đã trích dẫn ở phần trên) của mấy tác giả trong nước:

    Vương Trí Nhàn: “…khi sống ở nước ngoài, cảm hứng về tiếng Việt của một số tác giả càng nhạy bén và chính xác hơn khi họ ở trong nước. Tôi cảm thấy mình có thêm những người đồng hành gần gũi trong những quan sát và tìm tòi ngôn ngữ mỗi khi cầm bút.”

    Lý Hoài Thu – Nguyễn Thu Trang: “Đọng lại trên từng trang viết, vượt lên mọi biến cố dồn dập, vượt lên cả những bi kịch của sự vỡ mộng, khổ đau, qua những mảnh đời và những năm tháng nhọc nhằn, chúng ta cảm thấu được một tinh thần Việt trong hành trình sống, đối mặt và nếm trải những thăng trầm của đời tha hương. Đó là “kênh giao tiếp” để chúng ta hiểu sâu sắc hơn đời sống cũng như thân phận của người Việt xa xứ – một phần máu thịt của cộng đồng dân tộc.”

    Đỗ Thị Phương Lan: “Bi kịch thuyền nhân với nhiều trang truyện ngắn chân thực và xúc động về những chấn thương vượt biển đã là một trong những nội dung viết đặc thù của nhà văn di dân trong những năm đầu của văn học hải ngoại. Viết về sự kiện thuyền nhân đã khiến cho văn học hải ngoại lớn mạnh thêm về lực lượng cầm bút, sâu sắc thêm về tính nhân văn và đậm tính thời sự về nội dung phản ánh.” [3]

    Những ý kiến như thế nghe cũng…ấm (nức) lòng (người) hải ngoại.

    Ngoài ra, sự hiện diện của văn học hải ngoại (tiếng Việt và tiếng Anh, tiếng Pháp) còn là một hành trình “hướng tới”: cách tân hình thức, đa dạng hóa và toàn cầu hóa văn chương và văn hóa Việt Nam. Nó giúp xóa bỏ biên giới quốc gia, mở rộng tầm nhìn, đưa đến giao lưu quốc tế, một bước nhảy vọt từ truyền thống đến hiện đại. Những Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương, Nam Lê…là bằng chứng sống động.

    Tái bản tác phẩm cũ

    Trong lúc nhà nước cộng sản phát động phong trào quy mô nhằm tịch thu, đốt sách và bắt giam văn nghệ sĩ (kiểu “phần thư khanh nho” thời nhà Tần bên Tàu) sau tháng 4/1975, thì ở hải ngoại, một số người yêu văn chương tìm cách tái bản những tác phẩm của nền Văn Học Miền Nam. Nhưng do hạn chế nhiều mặt (thiếu tài liệu và phương tiện in ấn), nên công việc này gặp rất nhiều trở ngại. Trong số những người kiên trì tìm cách phục hồi lại di sản của nền văn học đã mất, có nhà văn Trần Hoài Thư (1942–2024). Anh thực hiện dự tính của mình bằng cách kiên trì lục tìm sách, báo cũ miền Nam trong các thư viện Mỹ, tự xuất bản chúng qua nhà xuất bản “Thư Ấn Quán” và/hoặc đăng tải trên tạp chí “Thư Quán Bản Thảo” do anh thành lập. [4] Kết quả là một số sách báo cũ đã được tái bản ở Mỹ. Xin ghi lại một số dữ liệu sau đây:

    – Các bộ sách (sưu tầm và chọn lọc): “Văn miền Nam” (4 tập, tổng cộng 2200 trang), “Thơ miền Nam” (5 tập, tổng cộng khoảng 3000 trang) gồm: “Thơ miền Nam thời chiến” (tập I &II), “Thơ tình miền Nam”, “Lục bát miền Nam”, “Thơ tự do miền Nam”.    

    –  Tái bản tác phẩm (thơ, văn, biên khảo, dịch thuật) của một số nhà văn, nhà thơ miền Nam (trước 1975): Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Thanh Sâm, Bùi Đăng, Hạc Thành Hoa, Hoài Khanh, Hoàng Ngọc Hiển, Hoa Vân, Hoàng Hương Trang, Lê Văn Thiện (Văn Lệ Thiên), Lê Văn Trung, Lữ Kiều, Mang Viên Long, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyên Minh, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Ngọc Lư, Phan Nhự Thức, Trần Phù Thế, Từ Thế Mộng, Vũ Hữu Định, Phạm Ngọc Lư, Viêm Tịnh, Phùng Thăng.

    Ngoài sách, Trần Hoài Thư còn sưu tập được khá nhiều tạp chí văn học nghệ thuật miền Nam như “Chính Văn”, “Mai”, “Sáng Tạo”, “Tình Thương”, “Văn Hóa Á Châu”, “Văn Nghệ”, “Vấn Đề”, “Hiện Đại”, “Tân Phong”, “Tân Văn”, “Văn Hóa Nguyệt San”, “Khởi Hành”. Anh lần lượt đưa chúng làm chủ đề và trích đăng lại bài vở của chúng trên nhiều số tạp chí “Thư Quán Bản Thảo”.  Chẳng hạn, số 60 (2014), giới thiệu tạp chí “Sáng Tạo”; số 69 (2016), giới thiệu bán nguyệt san “Mai”; số 73 (1/2017), giới thiệu tạp chí “Văn Hóa Nguyệt San”…

    Trần Hoài Thư–Chân Phương–Nguyễn Trọng Khôi–Trần Doãn Nho, (New Jersey, Hoa Kỳ)

    Chị Trần Hoài Thư–Trần Hoài Thư–Trần Doãn Nho (New Jersey, Hoa Kỳ)

    Đồng thời, “Thư Ấn Quán” cũng xuất bản một số tác phẩm (sau 1975) của các tác giả còn ở trong nước, điển hình như: “Tưởng chừng đã quên” (Nguyên Minh), “Sông chảy về núi”, “Mưa trên sông ĐaKbla”, “Trang sách và những giấc mơ bay” (Nguyễn Lệ Uyên), “Những tháng năm cuồng nộ”, “Người giữ nhà thờ họ” (Khuất Đẩu) “Nửa khuôn mặt” (Khoa Hữu) “Đan tâm”, “Mây nổi” (Phạm Ngọc Lư) “Biển của hai người” (Mang Viên Long), vân vân.

    Một số lớn các tác phẩm hay tạp chí sưu tập, tái bản hay xuất bản đã được Trần Hoài Thư đưa lên trên “Blog THT & Thư Quán Bản Thảo”:

    https://tranhoaithu42.com

    hay:

    https://trahoaithu.blogspot.com

    Riêng tạp chí Khởi Hành (1969–1973) do Viên Linh phụ trách, có thể vào đọc ở:

    https://tranhoaithu42.com/2020/03/02/ngay–mot–du–an–lon–hoan–tat

    Xuất bản tác phẩm bị cấm

    Các nhà xuất bản ở hải ngoại như Lá Bối, Tân Thư, Việt Thường, Trình Bầy, Tự Do, Văn Học, Văn Nghệ, Trăm Hoa, Tin Paris, Quê Ngoại, Tiếng Quê Hương, Thư Ấn Quán, Tổ Hợp Xuẩt Bản Miền Đông, Diễn Đàn Thế Kỷ, Nhân Ảnh, Người Việt Books, Tuần Báo Trẻ…đã xuất bản khá nhiều tác phẩm bị cấm hay không được phép xuất bản ở trong nước. Xin tạm liệt kê một số tác giả và tác phẩm điển hình như sau (chắc chắn là không đầy đủ): [5,6]

    • Hồ Khanh/Doãn Quốc Sỹ (Đi!), Lá Bối 1982.

    • Trần Kha/Thanh Tâm Tuyền (Thơ Trần Kha), Lá Bối 1982.

    • Cung Tích Biền (Thằng bắt quỷ) Tân Thư 1993

    • Bùi Giáng (Thơ Bùi Giáng), Việt Thường 1999.

    • Khoa Hữu (Hai mươi bài lục bát), Trình Bầy 1994; (Thơ Khoa Hữu), Văn Học 1997.

    • Nguyễn Hiến Lê (Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê), Văn Nghệ.

    • Lê Đạt (Từ tình Ép–Phen) 1998.

    • Trần Quốc Vượng (Trong cõi) Trăm Hoa, 1993.

    • Nguyễn Ngọc Lan (Nói thẳng nói thật, Nhật ký 1990–1991), Tin Paris.

    • Hà Sĩ Phu (Chia tay ý thức hệ).

    • Đào Hiếu (Nổi loạn).

    • Tiêu Dao Bảo Cự (Nửa đời nhìn lại) 1994.

    • Trần Vàng Sao (Bài thơ của một người yêu nước mình),1994.

    • Nguyễn Thụy Long (Hồi ký viết trên “gác bút”, Thuở mơ làm văn sĩ, Giữa đêm trường, Thân phận ma trơi), 2000.

    • Thế Phong (Hồi ký ngoài văn–chương).

    • Hữu Loan (Thiên đường máu).

    • Văn Quang (Sài–gòn  Cali 25 năm gặp lại, Ngã tư hoàng hôn, Soi bóng cuộc tình).

    • Tạ Duy Anh (Đi tìm nhân vật, Sinh ra để chết).

    • Nguyễn Viện (Rồng và Rắn, Chữ dưới chân tường, Đĩ thúi & phần còn lại ở cõi chết, Ma & Người,  Trong hàng rào kẽm gai,  Tôi thở , Có những kẻ đi mãi không về).

    • Bùi Ngọc Tấn (Chuyện kể năm 2000).

    • Nguyễn Bình Phương (Xe lên xe xuống).

    • Cung Tích Biền (Mùa hạ, Xứ động vật, Đành lòng sống trong phòng đợi của lịch sử).

    • Phùng Cung (Truyện và thơ chưa hề xuất bản).

    • Tạ Phong Tần (Tuyển tập).

    • Bùi Thanh Hiếu/Người Buôn Gió (Đại vệ chí dị).

    • Trần Đĩnh (Đèn cù).

    Vân vân.

    Viện Việt Học

    Trong việc gìn giữ và bảo tồn văn hóa và văn học nghệ thuật, không thể không nhắc đến “Viện Việt Học”: https://www.viethoc.com/Home

    Viện được thành lập ngày 26 tháng 2 năm 2000 tại Quận Cam, California. Mục đích của Viện được xác định như sau: “Do hoàn–cảnh lịch–sử, dân–tộc Việt–nam hiện nay không chỉ sinh sống trong lãnh–thổ Việt–nam mà đã trải rộng khắp thế–giới. Để các thế–hệ trẻ của cộng–đồng Việt–nam tại hải–ngoại không xa lìa gốc rễ văn–hoá – vốn là sức mạnh tinh–thần của dân–tộc – việc nghiên–cứu và giảng dạy ngôn–ngữ, văn–học, văn–hoá, lịch–sử, địa–lý Việt–nam tại hải–ngoại đã trở nên vô cùng khẩn–thiết.”

    Viện Trưởng đầu tiên là cố giáo sư Nguyễn Đình Hòa, tiếp đến cố giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, kế đến là giáo sư Trần Ngọc Ninh, rồi giáo sư Lê Bảo Xuyến làm Xứ Lý Thường Vụ. Ban Cố Vấn gồm 9 vị giáo sư Đại học thời Việt Nam Cộng Hòa. Ban Giảng Huấn gồm 20 giáo sư dạy các bộ môn: Văn minh Việt Nam, Sử địa, Ngữ học, Văn chương, Giáo dục và Sư phạm, Việt ngữ căn bản. Về phần văn học, Viện Việt Học đã tổ chức lớp “Đại cương về văn học” Việt Nam 1 và 2, với các đề tài: Văn học chữ Hán, Văn học quốc âm qua các thời, Văn học miền Nam, Văn chương cách mạng, Văn học dân gian, Văn học trong giai đoạn chiến tranh 1946–1954, Văn học trong giai đoạn đất nước chia đôi 1954–1975.

    Ngoài việc dạy học, Viện còn tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa khác nhau, hoặc hội thảo, thuyết trình về những đề tài như: Hệ thống hóa chữ Quốc ngữ Việt Nam, Chữ Mường cổ trên trống đồng Đông Sơn, Hình ảnh thơ phương Đông và phương Tây, Đặc điểm và vai trò của tiếng Hán Việt trong ngôn ngữ Việt; hoặc trình diễn âm nhạc: Đêm nhạc thính phòng, Đêm nhạc Hoàng Ngọc–Tuấn…; hoặc các sinh hoạt khác: Điêu khắc dân gian, Hải Thượng Lãn Ông…

    Trang mạng của Viện “https://www.viethoc.com/Home” là nơi lưu trữ nhiều tài liệu quý về văn hóa, văn học và ngôn ngữ, chẳng hạn như các bộ tự điển (Tự điển Hán Nôm, Việt Hán Tự Điển…), các văn bản điện tử về ngôn  ngữ (Chữ Nôm và sự cống hiến của chữ Nôm đối với văn học cổ Việt Nam, Truyện Kiều, Nôm và Quốc Ngữ…), các văn bản điện tử về văn học, vân vân.

    Số–hóa

    Mặt khác, một số khá nhiều các tạp chí, nguyệt san, tuần báo cũng như nhật báo phát hành ở trong nước từ thời tiền chiến cho đến tháng 4/1975, đã được “số hóa” (digitalize) và đưa lên các trang mạng dưới hình thức “sách điện tử” (e–books) hoặc “sách lật điện tử” (flipbooks), giúp độc giả đọc và tra cứu tài liệu một cách dễ dàng.

    • Thời tiền chiến (tạp chí): Nam Phong, Thanh Nghị, Thanh Nghị Trẻ Em, Phong Hóa, Ngày Nay, Tri Tân,  Phụ Nữ Tân Văn, Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn.

    • Thời VNCH (tạp chí): Văn Hóa Ngày Nay, Bách Khoa, Tập San Sử Địa, các nhật báo Hòa Bình, Sóng Thần, Thời Luận, Tiền Tuyến, các tuần báo Con Ong, Thời Mới, Tuổi Ngọc; nguyệt san Phổ Thông.

    • Hải ngoại (tạp chí): Thế Kỷ 21, Văn Học, Dòng Việt.

    Tạp chí Văn Học (sách lật điện tử)                                        

    https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_100?mode=window&viewMode=doublePage

    Trong số các tạp chí trên, “Dòng Việt” tương đối chưa phổ biến, nhưng chứa đựng nhiều tài liệu quý giá về văn hóa nước nhà, đuợc các chuyên viên điện toán hiện đang sinh sống và làm việc ở hải ngoại chung tay thực hiện. Đây là một tạp chí biên khảo, sưu tập và nghiên cứu văn hóa rất đa dạng của những học giả, giáo sư, nhà nghiên cứu thời VNCH đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau: “Ngôn ngữ văn tự Việt Nam”, “Viện Đại Học Huế”, “Đại Học Văn Khoa Sài Gòn”, “Kỷ niệm 200 năm Cố Đô Huế”, “Văn Học Nam Kỳ Lục Tỉnh”, “Văn Học triều Nguyễn”, “Tuyển tập phê bình Đoạn Trường Tân Thanh”, vân vân.            

    Độc giả có thể tìm kiếm các sách, báo điện tử nêu trên hoàn toàn miễn phí trong các trang mạng sau:

    • Nhật báo Người Việt:

    https://www.nguoi–viet.com/ThuVienNguoiViet/thuvien–NV.php

    • Nam Kỳ Lục Tỉnh:

    https://namkyluctinh.org/tap–chi.html

    • Viện Việt Học:

    https://www.viethoc.com/Home

    • Kho Sách Xưa:

    http://ndclnh–mytho–usa.org/KhoChuaSachCu.htm

    • Tạp chí mạng Da Màu (phần “Sách báo miền Nam trước 30.4.1975”)

    https://damau.org

    Những người viết mới

    Bỏ nước ra đi là một hoàn cảnh mới, vô cùng mới.

    Cái mới này tất phải tạo ra (những) cái mới khác. Trong đó, có những người viết mới.

    Văn học hải ngoại đã mang lại cho văn học Việt Nam một số lượng đáng kể những người bắt đầu cầm bút khi ra hải ngoại. Dù thuộc thế hệ nào (“một”, “một rưởi” hay “hai”), họ cũng thổi một luồng sinh khí mới cho sinh hoạt văn học trên nhiều phương diện.

    Theo Nguyễn Hưng Quốc, “Trong cuốn tuyển tập thơ văn do nhà xuất bản Văn Hữu in năm 1982, nhà văn Võ Phiến đếm được 90 tác giả, trong đó có 28 người viết sau 1975. Trong cuốn Thơ Văn Việt Nam Hải Ngoại do nhà xuất bản Sông Thu in năm 1985, tập 1 đã phát hành có 60 tác giả, trong đó có 12 tác giả mới. Tập 2 chưa phát hành có 44 tác giả, trong đó có 21 tác giả mới. Từ 1985 đến nay, đã có thêm nhiều cây bút mới gạo cội xuất hiện. Một lực lượng cả cũ lẫn mới thật đông đảo.” [7]

    Mô tả sự nhộn nhịp của khung cảnh sinh hoạt văn học hải ngoại khi người Việt đã bắt đầu an cư sống tập quần đầu thập niên 1980 và khi Mai Thảo cho tục bản tạp chí “Văn”, Trần Vũ viết:

    Bằng kinh nghiệm của một chủ bút tài hoa lẫy lừng, Mai Thảo nhanh chóng khám phá, thừa nhận và thúc đẩy những ngòi bút nữ: Lê Thị Huệ, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Trần Diệu Hằng, Phạm Thị Ngọc, Cao Bình Minh sẽ làm nên hiện tượng nữ sau đó. Không chỉ phát hiện những cây bút nữ, mục Người Viết Trẻ mỗi tháng giới thiệu một gương mặt mới, có tháng trong cùng một số báo có đến 4 người viết mới Nguyễn Thạch Giang, Ý Ngôn, Vũ Phương Nam, Ðặng Mai Lan. Suốt 6 năm 82– 87 tạp chí Văn không thiếu sáng tác, không thiếu người viết lẫn sự trợ giúp đông đảo của các văn hữu.”

    Trong không khí đó, tạp chí Làng Văn xuất hiện. Trần Vũ nhận định:

    Làng Văn thừa hưởng không khí bừng bừng khí thế của một cộng đồng đang độ tăng trưởng chín muồi sung mãn, kèm nỗi nhớ nhà nóng bỏng của lớp người mới vượt biên. Một tạp chí mới, một lớp độc giả mới với một tâm tình mới. Huyền Châu, Tuệ Nga, Hồ Trường An, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Ngọc Ngạn, Lê Văn Lân, Ngọc Khôi, Nguyễn Tấn Hưng, Thái Văn Kiểm, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Ba, Trần Long Hồ, Phan Ni Tấn, Luân Hoán, Lâm Hảo Dũng, Diệu Tần, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Ðức Bạt Ngàn… đem đến cho Làng Văn những độc giả trung thành trường kỳ. Những năm 84–89 thời kỳ cực thịnh, Làng Văn thành công rực rỡ, số bán vượt xa các tạp chí khác.”

    (…) “Cùng thời gian đó, 1985 Võ Phiến tục bản Văn Học Nghệ Thuật bộ mới, rồi từ tháng giêng 86 đổi tên là tạp chí Văn Học do Nguyễn Mộng Giác điều hành có thể xem là tạp chí uy tín nhất của giai đoạn 85–88. Ða số những bài viết xuất sắc đều xuất hiện trên diễn đàn này và bên cạnh những nhà văn cộng tác trụ cột thường xuyên Nhật Tiến, Võ Ðình, Lê Tất Ðiều, Ðịnh Nguyên, Tưởng Năng Tiến, Võ Phiến, Nguyễn Bá Trạc, Hà Thúc Sinh, Nguyễn Tất Nhiên, Thế Uyên, Hoàng Khởi Phong, Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Xuân Hoàng, xuất hiện vô số người viết mới: Khế Iêm, Ngu Yên, Phạm Việt Cường, Phan Tấn Hải, Kiệt Tấn, Thường Quán, Cao Xuân Huy, Trịnh Y Thư, Nguyễn Ðức Lập, Nguyễn Ý Thuần, Hồ Ðình Nghiêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Mạnh Trinh, Trần Trúc Giang, Trần Thị Kim Lan, Trần Thị Lai Hồng, Trân Sa, Lê Bi, Vũ Huy Quang, Trương Vũ, Thế Giang, Trần Vũ, Ðỗ Kh., Mai Kim Ngọc, Vũ Quỳnh Hương, Nhược Thủy (Y Chi)… Cũng chính trên diễn đàn này khởi đầu nền phê bình ngoài nước qua các bài viết đầu tiên của Thụy Khuê, Bùi Vĩnh Phúc và Nguyễn Hưng Quốc. Văn Học như thế đã ra đời trong hoàn cảnh vô cùng thuận tiện, với một nguồn nhân lực mới mẻ hùng hậu đang trong giai đoạn khởi viết.” [8]

    Văn chương tiếng Việt

    Tôi viết khá nhiều, đủ loại: thơ, truyện ngắn, truyện dài, tiểu luận, nhận định văn chương, văn học. Tôi đọc càng nhiều hơn. Đọc và học. Không những chỉ những “kiệt tác” và những tác phẩm nổi tiếng của những tác giả nổi tiếng, mà đọc tất. Hay cũng đọc, mà không hay cũng đọc. Tác giả thành danh cũng đọc mà tác giả mới cũng đọc. Cái hay, thậm chí cái kiệt tác, đôi khi nằm ở những tác phẩm vốn rất bình thường. Tôi đọc như một độc giả thích đọc. Đọc và viết về những gì đã đọc. Tuy có đọc và tham khảo nhiều lý thuyết văn chương loại này loại khác, nhưng vốn là một người không ưa lập thuyết, không thích đóng khung, không muốn bị giới hạn vào một mô thức tiền chế, nên tôi chỉ viết theo/từ cảm quan riêng của chính tôi như một độc giả. 

    Xin được ghi lại vài nét tiêu biểu về một số tác giả mà tôi có dịp đọc và viết về tác phẩm của họ qua một số trích đoạn (vắn tắt) sau, được lấy ra một cách ngẫu nhiên từ một số bài nhận định đã đăng trên các tạp chí (giấy hay mạng).

    Về sáng tác

    Phùng Nguyễn: Nói chung, dù bắt đầu sự nghiệp văn chương khá muộn, nhưng so với một số cây bút khác cùng độ tuổi, cách viết của Phùng Nguyễn khá tân kỳ và sắc sảo. Trong nhiều truyện ngắn, văn phong của anh thay đổi, tùy nội dung của truyện. Khi thì anh sử dụng “giòng ý thức”, giọng văn chảy một mạch như nước, theo dòng, không chấm câu; khi thì anh cho tác giả và nhân vật cùng “sống” với nhau trong truyện; khi thì anh cho câu chuyện nhập nhằng giữa chữ và nghĩa; khi thì anh dùng chuyện để “lý sự” về một vấn đề nào đó trong cuộc sống. Nhưng nói chung, không khí truyện của anh luôn luôn là một chao đảo giữa hai thế giới: đất nước dung thân và quê hương.

    Cao Bình Minh: Độc đáo trong cách viết. Câu kéo viết ra hoàn toàn được tùy nghi, thả lỏng. Tác giả rề rà kể, cứ để cho chữ chạy theo chữ, câu chạy theo câu, kể đến đâu hay đến đấy, sự kiện này chen ngang, trộn lẫn, có khi cắt đứt sự kiện khác. Đối thoại hòa tan trong câu chuyện; văn viết trộn lẫn trong văn nói. Như bà già ngồi kể chuyện với cháu, mọi sự diễn tiến thong thả, chậm rãi, chuyện nọ xọ chuyện kia, chuyện này chưa xong đã nhảy qua chuyện khác, chuyện này sinh ra chuyện khác, chuyện này dính líu chuyện khác, kéo dài liền liền không dứt. Kết hợp giữa cách dùng chữ và cách viết tạo thành một văn phong dân dã, phổ thông, thoải mái, nhẹ nhàng và ý vị. Không triết lý dài dòng. Không ám chỉ xa xôi bóng bẩy.

    Chân Phương: Hiện thực trong “Chú thích cho những ngày câm nín”, đề cập những ngày anh còn sống dưới chế độ cộng sản sau 1975, được chắt lọc, được vắt hết râu ria, được tinh chế để lột trần ra cốt lõi của nó. Một thứ hiện thực được trí tuệ hóa. (…) Ngôn ngữ trong “Chú thích cho những ngày câm nín”như những nhát dao chém vào hiện thực, chất ngất suy tư, và qua đó, chất ngất những lên án đanh thép. Thấp thoáng đàng sau thứ ngôn ngữ khô và lạnh lùng là cái sắc bén của sự suy ngẫm.

    Đinh Trường Chinh: Anh làm thơ vừa trộn ý vừa pha chữ và thỉnh thoảng, pha màu. (…) Trong thơ anh, chữ nhấp nháy, nhảy vọt, kết tụ, phân tán. Thơ anh đầy những mảnh vụn: những mảnh vụn đời sống, những mảnh vụn ý nghĩ, những mảnh vụn ký ức, những mảnh vụn hiện thực, những mảnh vụn chữ nghĩa, những thoáng qua, những chợt đến và chợt đi. Những mảnh chữ. Chữ ráp nối chữ, có khi rất ngẫu nhiên, có khi tiền–chế, có khi cấu trúc kỷ hà. Anh biến những ký hiệu vô hồn thành nỗi dằn vặt: dằn vặt chữ.

    Đỗ Lê Anh Đào: một cây bút trẻ hải ngoại thuộc thế hệ một rưởi, mang dáng nét đặc biệt rất riêng của một cô gái đứng giữa hai thế giới, vừa chứa đựng chút o ép của nền văn hóa cũ, lại vừa có chất phóng túng của nền văn hóa mới. Cô có giọng văn, giọng thơ tinh nghịch, giễu cợt qua nhiều đề tài khác nhau, diễn đạt cái tâm thức đậm nét Mỹ trong một thứ ngôn ngữ Việt khá nhuần nhuyễn, tinh tế. Khi viết về tình dục, cô táo bạo một cách rất hồn nhiên, cụ thể nhưng không sống sượng; ngổ ngáo nhưng không sỗ sàng.

    Phan Nhiên Hạo: cách tân triệt để khi làm thơ. Vượt ra ngoài vòng cương tỏa của vần, điệu đã đành, mà nó còn là một trộn lẫn nhiều thể loại khác nhau: thơ, tùy bút, truyện kể, kể cả lịch sử. Có thể gọi đó là một kết hợp giữa thơ và phi–thơ.(…) Thơ Phan Nhiên Hạo là một vận dụng ngôn ngữ dựa trên nhận thức và cảm quan thẩm mỹ đối với sự vật. Bằng một thứ ngôn ngữ có tính cách mô tả, đôi khi trông rất dửng dưng, lạnh lùng, vô cảm, Phan Nhiên Hạo chuyển tải những cảm xúc vừa chân thật vừa mới mẻ. Ẩn khuất đàng sau đó, người đọc còn tìm thấy một tính chất khác: nhận thức sâu sắc về sự vật và sự kiện và qua đó, tính nhân văn của chúng.

    Thận Nhiên: Thơ anh không (nhằm) gây xúc động, ngược lại, kích thích suy tưởng. Những ý tưởng riêng hình thành từ nhiều mảng hiện thực, được chắt lọc cẩn thận, khai triển và thể hiện bằng ngôn ngữ, hình ảnh và khái niệm, trước khi đóng lại một cách bất ngờ, khi thì mạnh mẽ, dứt khoát khi thì lơi lỏng, lửng lơ ở phần kết thúc.

    Hoàng Chính: Truyện của anh như một món trộn, trộn chữ trong truyện, trộn truyện trong chữ. Từng tầng lớp chữ chồng chất, chen chúc nhau. Thoạt đầu, ta hơi bối rối. Chữ miên man trôi, mang theo đủ thứ hình ảnh, cảm giác, sự kiện, đột nhiên, một chi tiết nòng cốt hiện ra. Rồi lại chữ nối tiếp chữ. Rồi một chi tiết nòng cốt nữa xuất hiện. Cứ thế, người đọc, sẽ từ từ nhặt ra các chi tiết và ráp lại thành…truyện. Sở dĩ thế vì câu chuyện anh kể thường vùi sâu trong các lớp chữ, và qua đó, trong các sự kiện. Khi tìm được mạch rồi, mọi sự như sáng hẳn ra, khiến ta thích thú.

    Hồ Đình Nghiêm: Đọc các truyện Huế của anh, “Hành lý”, “Và Sầu ơi”, “Am khuất”, chẳng hạn, tôi tưởng như đang ngồi nhẩn nha uống cốc trà hay cốc cà phê, nghe một người Huế kể chuyện đời, rề rà, chậm rãi, chi li. Văn của anh, nói chung, là một trộn lẫn khá lạ giữa sự nghiêm túc và nét dí dỏm lại đượm mùi chua chát, được giấu một cách khá kín đáo qua cách diễn đạt trông rất thành thật, tự nhiên.

    Khoa Hữu: Toàn bộ những bài thơ của Khoa Hữu là một chuỗi dài những tiếng kêu bi phẫn. Có thể nói, chúng là một trường ca bi phẫn. Một bi phẫn không cạn, không ngưng nghỉ, không mệt mỏi. Trong anh là sự hội tụ đến cực điểm của tâm thức người lính bại trận, của người tù chung thân, của người mất quê hương. Và bàng bạc tình đồng đội. 

    Lê Minh Hà: viết nhiều, đa dạng. Nhưng cái làm cho Lê Minh Hà độc đáo, theo tôi, là hơi văn. Hơi văn có lúc làm người đọc quên cả câu chuyện. Truyện ngắn của Lê Minh Hà, “Những giọt trầm” chẳng hạn, nói truyện thì là truyện, nói tùy bút thì là tùy bút, nói tản văn thì là tản văn.

    Phan Thị Trọng Tuyến:  viết văn thoải mái, không gò bó, câu thúc, giòng văn tuôn tràn theo cảm hứng, với rất nhiều chi tiết và hình ảnh sống động xuất phát từ một thu nhặt tinh, nhạy từ đời sống. Giòng văn đó pha trộn nhiều cách diễn đạt khác nhau, vừa nghiêm túc lại vừa ngẫu hứng, vừa văn hoa lại vừa thông tục, tạo thành một hơi văn khá riêng, ít lẫn với người khác. Chị viết truyện như viết ký, chất hiện thực ngồn ngộn, tràn trề trên từng trang sách, khiến cho người đọc, dẫu biết là hư cấu nhưng vẫn có cảm giác đang chạm trán với từng mảnh cuộc sống cụ thể mà tác giả thực sự đã kinh qua.

    Trần Thị Diệu Tâm:  Tình yêu trong văn Trần Thị Diệu Tâm không éo le, gay cấn, không đẫm lệ, không tang thương sầu muộn. Tình nào cũng rất nhẹ. Như hơi gió thoảng. Như sợi mây mỏng. Như vết trầy qua da. Nhớ cũng được mà quên thì cũng thôi. Nhưng đọc xong, cái tình đó đọng lại những bụi phấn, vương vướng đâu đó, phủi hoài không hết. Chị không bi kịch hóa tình yêu, mà cũng không tô son vẽ phấn tình yêu.

    Trần Trung Đạo: Vừa làm thơ vừa viết chính luận. Đã một thời, tiếng thơ Trần Trung Đạo là tiếng lòng của những người con lưu lạc xứ người. Thế nhưng, ở chính luận Trần Trung Đạo, cảm hứng thơ của anh không hề biến mất. (…) Trong một số bài, tôi tìm thấy dấu vết và âm hưởng của những bài thơ da diết tình người tình nước của anh dạo nào, như “Em bé Việt Nam và viên sỏi”, “Thương Paris như nỗi nhớ Sài Gòn”. “Con sinh ra trên đất Mỹ”…Anh viết chính luận trong tâm cảm của một nhà thơ.

    Nguyễn Xuân Thiệp: Thơ anh dồi dào hình ảnh và nhịp điệu, tràn đầy thiên nhiên, sự vật và hoa cỏ. Nhiều gió, nhiều hoa, nhiều mưa, nhiều chim, nhiều nắng, và nhiều thứ vô cùng quen thuộc của cái thế giới thân quen chung quanh chúng ta, từ vườn, phố, núi, sông cho đến cây đàn, chiếc võng, bức tường, hiên nhà, sỏi đá rồi những sói, vịt trời, quạ, cua, cọp, dế, gà, ngựa…Anh thổi lòng anh vào thế giới chung quanh và mang nó vào cõi trăn trở riêng của mình: từ tình yêu, cuộc nhân sinh đến thế sự, kỷ niệm, và đôi khi, trăn trở đến cả những trăn trở của chính mình.

    Phạm Thị Hoài:  Truyện ngắn “Ám thị”  của Phạm Thị Hoài khai thác một đề tài rất mới: một ông chồng học nghề tẩm quất bằng cách để cho ông thầy mù dùng thân thể vợ mình làm chỗ chỉ dẫn và thực tập. Truyện chẳng có “biến cố” nào ngoài tâm cảm của người đàn bà nghe ngóng chuyển động của bàn tay ông thầy mù được gọi gọn là “tay ấy” trên thân thể mình. “Tay ấy” thông minh, rành rọt mọi ngóc ngách trên thân thể nhạy cảm của thân xác phụ nữ. Nó “vê”, nó “vuốt mu”, nó “quây gọn”, nó “nhổ …tí tách”, nó “trườn ngang”, nó “lùa trên”, nó “chườn quanh”, nó “lội qua ngực”, nó “miết dọc”, nó “lách giữa”…Chừng như nó nắm rất vững mọi cảm giác của nhân vật vợ. Tác giả nỗ lực lột tả những cảm giác hết sức tinh tế và đặc thù của người phụ nữ trong một tình huống cũng hết sức đặc thù. Ta có cảm giác như những con chữ xoắn xít, chen chúc, dồn đẩy nhau. Hơi chữ toát lên vẻ trông ngóng tinh nghịch và …erotic! Trong lúc truyện dường như chẳng erotic chút nào cả. Chỉ là ám thị!

    Nguyễn Thụy Đan: là hiện tượng độc đáo, gần như chưa có tiền lệ trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Sinh ra ở Mỹ, giỏi tiếng Anh, thông thạo tiếng Việt và tiếng Hán. Anh tìm đọc những tác phẩm cổ điển Trung Hoa như Hán Thư, Đường Thi, Tống Từ, Tứ Thư, Đạo Đức Kinh, vân vân. Sáng tác nhiều bài “từ” bằng chữ Hán, gộp chung lại thành “Chướng Vân Tập”, nghiên cứu thêm về Thần Học Công Giáo và Chính Thống Giáo,  nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của tư tưởng Việt Nam thời trung đại và cận đại. Ngoài ra cũng nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng Tống Nho, và đặc biệt nghiên cứu về một danh nho Việt Nam dưới thời Tự Đức là Nguyễn Đức Đạt.

    Trần Mộng Tú: Thơ về tình yêu của Trần Mộng Tú, ngoài cái da diết, nồng nàn, đam mê, lãng đãng của Nguyên Sa, còn có cái táo bạo, nóng bỏng, erotic và vô thời, không tuổi (ageless) rất riêng. Bằng những ví von độc đáo, thơ TMT hình thành nên những hình tượng đầy ám ảnh…những chiếc lá thất thân đã sang màu rạo rực; anh là gió tháng mười/em buồn như âm lịch/không đuổi kịp mặt trời…Hơi thơ nghe vừa nóng vừa ấm vừa lạnh. Với chất trữ tình mạnh mẽ trong cách sử dụng ngôn ngữ, khi nói “thơ Trần Mộng Tú” cũng là nói “thơ tình Trần Mộng Tú” mà cũng là nói “thơ tình”. Nói không ngoa, đọc thơ tình Trần Mộng Tú chẳng khác gì đọc thơ của một…người tình.

    Trần Vũ: Gây ấn tượng mạnh bằng một văn phong hết sức mới lạ. Anh sử dụng và tận dụng tính đa nghĩa của ngôn ngữ như một dụng cụ đa năng, không những để phản ảnh hiện thực (lịch sử hay sự vật) đã rồi, không chỉ để nhào nặn hay bóp méo hiện thực để tạo ra một hiện thực khác phù hợp với trạng thái tâm lý, mà còn là để chống lại và phá phách…hiện thực. Sử dụng sự vật như hình ảnh, tận dụng hình ảnh sắc cạnh, cụ thể của sự vật để diễn tả/ví von với tâm cảm. Vận dụng lối ví von và những tính từ đầy hình ảnh, Trần Vũ đã tạo những câu văn bất ngờ, kích thích: “Giọng ồ ề vỡ ra như tiếng thác đổ vào giữa khuya”;  “Tiếng nước rỏ xuống sâu, nghe váng âm hắt dội giữa trưa vắng tịch mịch, chợt vang vang thành bước chân của những tên khổng lồ đuổi bắt thời gian”; “mặt trời đã trở nên cực hung hãn, mặt trời như có đúc vàng đặc cứng chật căng trên da mặt.”, v..v.

    Đặng Thơ Thơ: Sử dụng nhiều cách viết khác nhau trong các sáng tác, pha trộn giữa truyền thống và các lý thuyết văn học hiện đại về văn phong, kết cấu cũng như kỹ thuật. Trong tập truyện “Khả thể”, chị vừa đứng trong hiện thực vừa đứng ngoài nó. Vừa sống trong nó vừa bước ra ngoài để nhìn ngắm “dung nhan” của nó, không còn một biên giới cụ thể và rõ ràng giữa nhân vật và tác giả, giữa sự kiện và câu chuyện, giữa nhân vật này và nhân vật khác, giữa việc diễn tả sự kiện và ý niệm hình thành từ sự kiện đó. Trong tiểu thuyết “Ai”, kết cấu chuyện là một mớ bòng bong; chuyện trong truyện và truyện trong chuyện; sự kiện, biến cố chen chúc với khái niệm và ký hiệu; không gian trộn lẫn vào thời gian; tình cảm và xúc động đôi khi đi đôi với ký hiệu và quan điểm; câu chuyện đôi khi bỗng chấm dứt vào lúc người ta thấy nó bắt đầu và ngược lại.

    (còn nữa)

    Trần Doãn Nho

    …………………

    Chú thích:

    [1] Nguyễn Hưng Quốc, “Văn Học Hải Ngoại: thành tựu và tiềm năng”

    NHQ, Thế Kỷ 21 số 215, tháng 3/2007)

    [2] Hoàng Hưng, Phỏng vấn của Da Màu

    https://damau.org/103674/tro-chuyen-voi-nha-tho-hoang-hung

    [3] Xem tiết mục “Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước” ở phần trước.

    [4] Xem: Trò chuyện cùng Trần Hoài Thư về Thư Ấn Quán và Thư Quán Bản Thảo

    https://damau.org/11834/tro-chuyen-cung-tran-hoai-thu-ve-thu-an-quan-thu-quan-ban-thao

    [5] Xem: Nguyễn Vy Khanh, Văn học Việt Nam Trong Ngoài

    (Ngôn Ngữ, số 3, 1-9-2019)

    https://www.namkyluctinh.org/tuyen-tap/nguyen-vy-khanh/tuyen-tap/van-hoc-viet-nam-trong-ngoai.html

    [6] Xem: Trần Hoài Thư

    https://tranhoaithu42.com/category/tac-pham-thu-an-quan-xb

    [7] Thế Kỷ 21 – Bộ 1 – Số 1 – Ngày 1 tháng 5 năm 1989,

    [8] Trần Vũ, Trang tôn kinh….

    *Trần Doãn Nho: Văn chương hải ngoại: nỗi chữ – nỗi quê. (Kỳ 1)

    *Trần Doãn Nho: Văn chương hải ngoại: nỗi chữ – nỗi quê (Kỳ 2)

    *Trần Doãn Nho: Văn chương hải ngoại: nỗi chữ – nỗi quê (Kỳ 3)


    Không có nhận xét nào