Thanh Phương / RFI
22/06/2026
Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu.
Nhà máy điện than Cao Ngân, Thái Nguyên, Việt Nam. Ảnh chụp ngày 28/01/2025. AP - Yannick Peterhans
Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than.
Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á:
“Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.”
Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.”
Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025.
Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu:
“Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác.
Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa.
Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện.
Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn….
Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam."
Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn.
Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”.
Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải.
Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận:
“Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết.
Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam."
Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính phủ Hà Nội đã phê duyệt "Đề án cập nhật triển khai tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng" (JETP). Sau năm 2030, chính phủ yêu cầu không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa với các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm, không thể chuyển đổi nhiên liệu và không thể đáp ứng lộ trình giảm thải khí nhà kính.
Thanh Phương
Không có nhận xét nào