Nguyệt Quỳnh kể chuyện Sử
20/6/2026
Lời giới thiệu,
Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.
Rõ ràng lòng bao dung không làm yếu đi quyền lực mà đó chính là sự can đảm và sức mạnh của một chính quyền vững vàng và có chính nghĩa. Tiếc rằng chúng ta đã không có một kết thúc đẹp cho cuộc nội chiến đầy đau thương cuối tháng 4 năm 1975.
Nhắc đến quá khứ xa của "Hội Thề Đông Quan" rồi tiếc cho quá khứ gần của "tháng 4/1975", chúng ta nên cùng mong mỏi kèm nỗ lực cho hiện tại và tương lai !? Xin trân trọng gởi đến quý báo một bài học của lịch sử: “Hội Thề Đông Quan”.
Kính,
Nguyệt Quỳnh
Hội Thề Đông Quan
Nguyệt Quỳnh kể chuyện Sử
20/6/2026
Thuở người ta tin vào trời đất, coi lời thề có trọng lượng như sinh mạng. Thuở danh dự gắn liền với sự tồn vong của một quốc gia và niềm tin tâm linh gắn liền với quyền lực chính trị.
Một ngày cuối năm 1427, mây trên cổ thành Thăng Long và nước dưới sông Nhị Hà đã in dấu một sự kiện ngàn năm có một: một hội thề được thành lập giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân xâm lược nhà Minh tại phía nam thành Đông Quan.
Khởi đi từ những ngày tụ nghĩa ở Lũng Nhai, những người trai áo vải Lam Sơn như Lê Lai, Lê Nhân Chú… bước chân vào kháng chiến không chắc rằng mình sẽ có mặt tại điểm cuối. Sau mười năm gian khổ, ngày hôm ấy, họ được tận mắt chứng kiến kẻ xâm lược phải cúi đầu, giải giáp trước anh linh sông núi nước nhà.
Đầu năm 1426, Lê Lợi và Nguyễn Trãi dời đại bản doanh về bến Bồ Đề, bờ bắc sông Nhị, đối diện kinh thành ở bờ nam để vây hãm thành Đông Quan. Nghĩa quân vừa công thành, vừa dụ hàng giặc. Kế sách “ tâm công” của Lê Lợi và Nguyễn Trãi được triển khai: đánh vào ý chí giặc thay vì chỉ đánh vào thành lũy.
Lúc này, nghĩa quân Lam Sơn đã lớn mạnh, trong khi quân Minh sức cùng lực kiệt, chỉ còn cố thủ chờ viện binh.
Tháng 11 năm 1427, viện binh của giặc từ phương Bắc hối hả kéo xuống, mang theo hy vọng cứu vãn một Đông Quan đang hấp hối. Nhưng họ không ngờ rằng mình đang bước vào một thế trận đã được định sẵn.
Tại Ải Chi Lăng, nơi địa hình núi đá khép lại như một chiếc bẫy, nghĩa quân ta đánh gãy mũi tiến công, đội viện binh của Liễu Thăng tan vỡ giữa khe núi. Tàn quân vội dồn xuống Xương Giang, mong tìm được đường sống, nhưng nơi ấy đã trở thành chiếc túi khép kín. Thành bị vây, đường bị cắt, mọi hy vọng tắt lịm.
Từ Chi Lăng đến Xương Giang, số phận quân xâm lược đã được định đoạt.
Trong thành Đông Quan, Tổng binh Vương Thông lòng nóng như lửa đốt, ngóng chờ tin viện binh. Chợt nghe cấp báo: Bình Định Vương Lê Lợi cho áp giải các tướng giặc là Đô đốc Thôi Thụ, Thượng thư Hoàng Phúc đến trước cổng thành. Cùng với đó là cờ trống, vũ khí và cả song hổ phù của Liễu Thăng, có cả hai ấn Thượng thư bằng bạc của Lý Khánh và Hoàng Phúc.
Với nhân chứng và di vật rành rành đã gây chấn động mãnh liệt, từ tổng binh Vương Thông cho đến quân lính trong thành đều hết sức khiếp sợ.
Biết rằng mọi con đường sống đã khép lại, Vương Thông đành nuốt lệ xin giảng hòa. Ngày 16 tháng 12 năm 1427, bên bờ sông Nhị, hội thề lịch sử được thành lập.
Giữa không khí còn vương khói lửa chiến tranh, hai bên đứng trước nhau, cùng đọc bài Văn hội thề do Nguyễn Trãi soạn. Theo đó, Vương Thông cam kết rút toàn bộ quân về nước, không chờ viện binh, trên đường rút quân không cướp bóc dân chúng, và không bao giờ xâm phạm Đại Việt nữa. Phía ta, Bình Định Vương bảo đảm cho quân địch được toàn mạng trở về, đồng thời sẽ làm biểu cầu phong với triều Minh.
Tham dự hội thề, Ngoài Lê Lợi còn có các tướng: Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú, Phạm Vấn, Lê Ngân, Phạm Văn Xảo, Bùi Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Nguyễn Lý, Phạm Bối, Lê Văn An, Bế Khắc Thiện, Ma Luân.
Phía quân Minh, dẫn đầu là Tổng binh Vương Thông và các tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ, Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Trần Tuấn, Trần Hựu, Chu Kỳ Hân, Quách Vĩnh Thạnh, Dực Khiêm, Lục Quảng Bình, Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh, Dương Thời Tập, Quách Đoan.
Sau đó Lê Lợi hạ lệnh: Số giặc về bằng đường thuỷ thì cấp cho 500 chiếc thuyền giao cho Phương Chính và Mã Kỳ nhận lãnh. Số giặc về bằng đường bộ thì cấp thêm lương thảo giao cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc nhận lãnh. Riêng số giặc bị bắt hoặc đầu hàng từ trước, tổng cộng hơn hai vạn người cùng với hơn hai vạn con ngựa thì giao cho Mã Anh nhận lãnh và cho tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo.
Tất cả quân Minh đều kéo nhau tới dinh Bồ Đề để lạy tạ mà về. Tướng giặc là Phương Chính phần xúc động, phần hổ thẹn mà rơi cả nước mắt.
Sử gia Trung Quốc, Cốc Vĩnh Thái trong Minh sử kỷ sự bản mạt có lời bình về việc nhà Minh ra lịnh bãi binh ở Đại Việt như sau:
Vương Thông lực yếu mà phải xin hoà, Liễu Thăng lại sang rồi bị thua chết. Sau đó lại xuống chiếu sai sứ sang giao hảo và rút quân về, nhục nhã thực bằng Tân, Trịnh hội thề dưới chân thành, hổ thẹn ngang với Kính Đường cắt đất giảng hoà vậy.
Ngày 29-12-1427, Vương Thông bắt đầu cho quân rút lui, đến ngày 3-1-1428 thì đất nước ta sạch bóng quân thù.
Mười năm kháng chiến của một dân tộc nhỏ bé đã khép lại bằng lời thề trước anh linh tiền nhân tại Hội Thề Đông Quan - một chiến thắng với biểu tượng của lòng nhân nghĩa: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo."
Nhiều năm sau, bản “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vẫn khiến một số học giả Trung Quốc khó chịu, họ chỉ trích rằng bản văn mang “lời lẽ ngỗ nghịch”. Tuy nhiên, nhiều học giả Trung Quốc thời nay đã phải công nhận rằng “Bình Ngô Đại Cáo” không chỉ là một văn kiện lịch sử giá trị, mà còn là một áng “thiên cổ hùng văn”.
Nguyệt Quỳnh
Mời đọc thêm YlymHa sưu tầm.
Bài văn Hội thề Đông Quan
Ghi rõ: năm Tuyên-đức thứ hai của nước Đại Minh là năm Đinh Mùi tháng 11 ngày mồng 1 là ngày Ất Dậu qua đến ngày 24 là ngày Mậu Thân.
Tôi là đại đầu mục nước An-nam tên là Lê (Lợi) và bọn Trần Văn Hãn, Lê Nhân Chú, Lê Vấn, Trần Ngân, Trần Văn Xảo, Trần Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Trần Lý, Phạm Bôi, Trần Văn An, Bế Khắc Thiệu, Ma Luân, cùng với:
Quan Tổng binh của Thiên triều là Thái tử Thái bảo Thành-sơn hầu tên là Vương Thông, và các quan Tham tướng hữu Đô đốc là Mã Anh, Thái giám là Sơn Thọ, Mã Kỳ, Vinh Xương bá là Trần Trí, Yên Bình bá là Lý An, Đô đốc là Phương Chính, Chương đô ti sự Đô đốc Thiêm sự là Thuế Lự, Đô đốc thiêm sự là Trần Hựu, Giám sát ngự sử là Châu Kỳ Hậu, Cấp sự trung là Quách Vĩnh Thanh, Bố chính là Dặc Kiêm, tả Tham chính là Thanh Quảng Bình, hữu Tham chính là Hồng Thừa Lương, hữu Tham nghị là Lục Trinh, Án sát sứ là Dương Thời Tập, Thiêm sự là Quách Hội.
Kính cáo Hoàng thiên (Trời), Hậu thổ (Đất) cùng với Danh sơn (Núi), Đại xuyên (Sông) và thần kỳ các xứ:
Chúng tôi cùng nhau phát tự lòng thành, ước hẹn thề thốt với nhau:
Từ sau khi lập lời thề này, quan Tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông quả tự lòng thành, đúng theo lời bàn, đem quân về nước, không thể kéo dài năm tháng, để đợi viên binh đến nơi. Lại phải theo đúng sự lý trong bản tâu, đúng lời bàn trước mà làm.
Bọn Lê (Lợi) chúng tôi nếu còn chứa giữ lòng làm hại, tự làm việc lừa dối, không dẹp xa ngay quân lính ngựa voi, việc làm không đúng lời nói ngầm sai… Các việc nói trên tuy là không tự mình làm lấy, lại chuyển sang người khác có xâm phạm đến một chút nào tức thì Trời, Đất, thần minh, núi cao sông lớn, cho đến thần kỳ các xứ, tôi cùng con cháu thân của tôi, và người cả một nước tôi, giết chết hết cả, không để sót lại mống nào.
Về phía bọn quan Tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông, nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thề (đối với việc) người phục dịch và các thuyền đã định rồi, cầu đập đường sá đã sửa rồi, mà không làm theo lời bàn, lập tức đem quân về nước, còn kéo dài năm tháng để đợi viên binh, cùng là ngày về đến triều đình lại không theo sự lý trong bản tâu, không sợ thần linh núi sông ở nước An-nam lại bàn khác đi, hoặc cho quan quân đi qua đâu cướp bóc nhân dân, thì Trời, Đất cùng là Danh sơn, Đại Xuyên và thần kỳ các xứ tất đem bọn quan Tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông, tự bản thân cho đến cả nhà, thân thích, làm cho chết hết, và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà.
Nếu mà cả hai bên đều do lòng thành cả thì Trời Đất thần minh đều phù hộ cho đến bản thân mình mạnh khỏe, trong nhà mình vinh thịnh, cùng hưởng lộc vị, đều được bình yên.
Trời, Đất thần kỳ cùng soi xét cho!
Diễn biến sau Hội thề Đông Quan
Vương Thông về đến Long Châu, vua Minh đã liệu trước bọn Vương Thông cùng quẫn, việc đã đến thế, không làm thế nào được nữa, đành sai bọn La Nhữ Kính mang thư sang phong Trần Cảo là An Nam Quốc vương, bãi bỏ quân nam chinh, ra lệnh cho Thông trở về Bắc, trả lại đất cho An Nam, việc triều cống theo lệ cũ năm Hồng Vũ, cho sứ thần đi lại.
Tổng cộng 10 vạn quân Minh đã được hồi hương an toàn. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo viết rằng:
...Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng,
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu,
Cũng là chưa thấy xưa nay...
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Dưới đây là danh sách các cống phẩm Lê Lợi gửi sang triều Minh cầu phong, chép theo sách Quân trung từ mệnh tập, thư cầu phong của Lê Lợi:
Hai pho tượng người vàng người bạc thay cho bản thân để tạ tội, cộng nặng 200 lạng (1 pho vàng nặng 100 lạng; 1 pho tượng bạc nặng 100 lạng).
Sản vật địa phương: Lư hương bạc 1 cỗ, bình cắm hoa bạc một đôi, cộng nặng 300 cân, lụa thổ sản 300 tấm, ngà voi 10 chiếc, hương xông áo 20 bánh, cộng 130 cân; hương nén 20.000 nén; trầm hương, tốc hương 24 khối.
Số người đầu mục tiến kinh: Đầu mục 4 người là: Lê Dĩnh, Lê Cảnh Quang, Lê Đức Huy, Đặng Hậu Lộc. Người giúp việc 4 người là: Đỗ Thế Lãnh, Lê Trạch, Đặng Lục, Trình Nghiễm.
Các hàng trả về:
Hai đài Song hổ phù của Tổng binh quan An Viễn hầu lĩnh Chinh Lỗ phó tướng quân. Một quả ấn bạc.
Các quan và quân nhân: 13.587 viên danh, Quan coi quân: 280 viên, Quan coi dân và điển lại: 137 viên, Kỳ quân: 13.170 viên danh; Ngựa: 1.200 con.
Số lượng vũ khí do Đại Việt thu được từ quân đội nhà Minh
Theo sử gia Sun Laichen thì sau khi Chu Nguyên Chương đánh bại Mông Cổ thành lập nên nhà Minh, vị vua này đã thủ đắc mọi loại hỏa lực hiện hữu từ trước đến nay, và giữ chúng trong các kho vũ khí của ông. Từ năm 1380 đến 1488, nhà Minh có hai phòng sản xuất vũ khí chính yếu tại các kinh đô; phòng đầu tiên được yêu cầu sản xuất 3000 “đại bác có miệng súng cỡ bát ăn”, 3000 khẩu súng tay, 90000 mũi tên và 3000 súng báo hiệu cho mỗi ba năm một. Nhờ số lượng và chất lượng hỏa khí vượt trội, họ đã thành công trong nhiều chiến dịch quân sự đương thời, đặc biệt chiến tích dễ dàng đánh bại Đại Ngu vào thế kỉ 15.
Nhưng các chiến thắng quân sự, đặc biệt ở Trận Tốt Động-Chúc Động và Trận Chi Lăng - Xương Giang, nghĩa quân Lam Sơn đã lấy được số lượng vũ khí rất lớn của quân Minh. Nhờ số lượng vũ khí và quân nhân nhà Minh làm tù binh đã hướng dẫn cho nghĩa quân Lam Sơn sử dụng vũ khí nên Lê Lợi đã dùng chính vũ khí của nhà Minh để đánh bại họ. Lượng vũ khí cũng như người Minh còn ở lại Đại Việt sau khi quân Minh rút lui đã gây lo ngại lớn cho triều đình phương Bắc. Nhà Minh liên tục đòi Đại Việt trao trả các quan binh và vũ khí. Về vũ khí, mặc dù chính thức thì bảo đã trả hết, nhưng Đại Việt không trả lại món nào và cuối cùng triều Minh phải từ bỏ yêu sách.
YlymHa
Nguồn: Hội thề Đông Quan – Wikipedia tiếng Việt
Không có nhận xét nào