Cơ bản của chính thuyết Giải phóng Việt Nam, Cách mạng Dân Tộc.
Cao Thế Dung
1987
Trung Hiếu đánh máy lại tháng 9 năm 2023
“...Tôn chỉ và đặc tính của vai trò lãnh đạo kể trên không phải chỉ dành riêng cho cấp cao nhất của Lãnh Đạo mà cấp nào cũng phải theo những mô thức như thế, mô thức từ kinh nghiệm lịch sử dân tộc và Đạo Lý Dân Tộc. Lãnh Đạo Cách Mạng ở trong nước tuy khó khăn phức tạp vạn phần so với hải ngoại nhưng ở hải ngoại có khó khăn phức tạp của hải ngoại trong phạm vi lãnh đạo từ Cộng Đồng đến các hội đoàn và Đảng Đoàn đấu tranh. Dù ở cương vị nào và trong thực tế và bối cảnh nào, Lãnh Đạo tựu trung vẫn phải như vậy như mô thức lãnh đạo của đời Trần và Lam Sơn kháng chiến, mô thức của trượng phu hào kiệt yêu nước thương dân, thành tín với mình, với người”.
Trong 24 lần Dân tộc khởi nghĩa chống lại ngoại thù, 9 lần dân ta toàn thắng vì 9 lần dân ta được lãnh đạo. Những lần ta thất bại tuy do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là thiếu lãnh đạo. Thí dụ năm 178, nhân dân các huyện Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam cũng nổi dậy. Lương Long làm chủ quận Giao Chỉ, cuối cùng vẫn thua vì không phối hợp được các lực lượng đấu tranh toàn quốc và thiếu thống hợp lãnh đạo. Hai cuộc nổi dậy quan trọng như năm 157, Chu Đạt khởi nghĩa ở quận Cửu Chân; năm 184, binh lính ở quận Giao Chỉ nổi lên làm cuộc binh biến, cả 2 lần ta đều giết được tên Thái thú Cửu Chân và tên Thứ sử Chu Phù ở Giao Chỉ nhưng cuối cùng vẫn thua vì không có lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu năm 246 chỉ thu hẹp vào một địa phương vùng Nông Cống Cửu Chân (Thanh Hóa). Kể từ cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn năm 514, qua các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên năm 687; Mai Thúc Loan tức Mai Hắc Đế năm 722; Phùng Hưng năm 769; Dương Đình Nghệ năm 930; Ngô Quyền năm 939, các phong trào dân tộc đấu tranh giải phóng kể trên tương đối có tổ chức qui củ, đặt trong bối cảnh toàn quốc và đã lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên năm 687 đã đánh dấu một giai đoạn trưởng thành. Lý Tự Tiên nổi dậy ở vùng núi Di Lão thanh thế rất lớn sau bị Đô Hộ Lưu Diên Hựu dẹp tan và hạ sát. Đồng chí của ông là Đinh Kiên vẫn tiếp tục cuộc kháng chiến, không bao lâu thanh thế lại như cũ, quân ta vây thành Tống Bình (Hà Nội), phá được thành, giết chết tên Đô Hộ Lưu Diên Hựu. Sau quân Tàu đem đại quân qua đánh, ta mới phải thua. Tuy thua, cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên đã nêu lên một kinh nghiệm quý báu về kế tuc lãnh đạo đấu tranh.
Đức tính của lãnh đạo
Những chiến sĩ trong đấu tranh giải phóng dân tộc đều là thành phần ưu tú của Dân Tộc. Lãnh đạo thành phần ưu tú ấy phải là một sứ mệnh nếu không muốn nói là thiên mệnh. Do vậy, người lãnh đạo tự đã phải vượt lên trên tất cả những tầm thường, đòi hỏi những đức tính và đặc tính nếu không phi thường cũng phải vượt qua những tầm thường. Lê Lợi khởi nghĩa, xưng Bình Định Vương nhưng ngài đã không lấy ngôi vương mà xử thế với đồng chí và đồng bào, cho đến khi toàn thắng, Lê Lợi vẫn coi chiến hữu đều là anh em trong tinh thần Hội thề Lũng Nhai.
Người anh thứ hai của ngài là Lê Khôi "theo em khởi nghĩa công lao rực rỡ" (Phan Huy Chú, Lịch triều Hiến chương loại chí, Nhân vật chí tr.56-61). Nhưng vai trò của Lê Khôi vẫn mờ nhất, Bình Định Vương không đặt cho anh em con cháu mình bất cứ vai trò nào cao hơn người. Anh em con cháu Lê Lợi đều phải ra trận để lập công. Võ công mới là quan hệ bậc nhất cho nên dù Nguyễn Trãi là đệ nhất mưu thần, khi tuyên dương công trạng, Nguyễn Trãi đứng thứ 28 trong bản Ngự Danh (bản ghi công do chính vua Lê Thái Tổ phê). Em ruột Nguyễn Trãi là Nguyễn Như Soạn (em cùng cha khác mẹ) trên anh 3 bậc được tước Á Hầu vì có quân công.
Trong lãnh đạo chỉ cần một hành vi xấu cũng đủ làm hỏng tất cả, hỏng luôn cả công bình và lẽ phải. Công tác tuyên vận sẽ vô hiệu chỉ vì một gương xấu của lãnh đạo.
Trước hết, Cách Mạng Giải Phóng Việt Nam phải là một khả năng tập trung nhất, tiêu biểu nhất của Dân Tộc, phải tập hợp đầy đủ nhất về màu sắc chính trị, giai tầng xã hội và các thành phần khác nhau của Quốc Dân cho nên Lãnh Đạo cấp cao nhất phải là một chân dung toàn bích. Nước lửa có khí mà không có sinh (không phải là sinh vật) cây cỏ có sinh mà không có tri giác. Cầm thú có tri giác mà không có nghĩa, con người ta thì có đủ 4 thứ đó: khí, sinh, tri giác nên quí hơn vạn vật (Thủy hóa, hữu khí nhi vô sinh, Thảo mộc hữu sinh như vô tri. Cầm thú hữu tri nhi vô nghĩa Nhân hữu khí, hữu sinh, hữu tri, diệc thả hữu nghĩa, cố tối vi thiên hạ quý dã, Mặc Tử). Con người lãnh đạo đấu tranh là lãnh đạo những thành phần ưu tú và qua thành phần ưu tú lãnh đạo hết thẩy mọi người cho nên con người lãnh đạo phải có những đặc biệt hơn người. Cái gốc để hơn người vẫn là cái Nghĩa vẹn toàn. Đã bội nghĩa, bất nghĩa thì tự nhiên không thể lãnh đạo thảng hoặc nếu có "lãnh đạo" một nhóm hay một phe cũng chỉ là "lãnh đạo" kiểu thảo khấu rừng xanh. Cái khí của lãnh đạo phải như lửa, cái Sinh của lãnh đạo chính là sinh mệnh của Nước trong đấu tranh và cái Tri của lãnh đạo phải là cái tri quán triệt. Thế nào là cái tri quán triệt? Trước hết cái tri của lãnh đạo là cái tri khác người. Sách Tố Thư của Hoàng Thạch Công khuyên bậc lãnh đạo: "Xem mọi người đều giống như mình ắt là chịu tai ương". Sau khi lấy được thiên hạ Lưu Bang dựng nhà Hán, Lưu Bang hỏi các công thần lý do nào đã giúp Lưu Bang diệt được Sở, phá được Tần. Bầy tôi thi nhau tán tụng công đức của Lưu Bang, người thì cho Lưu Bang có mưu thần, người ca tụng Lưu Bang là bậc thiên tài quân bị. Lưu Bang đều gạt đi cho là nhận xét sai lầm về ông. Lưu Bang nói, "tài của ta, không bằng Hàn Tín, trí của ta sao so được với Trương Lương, khả năng của ta thật không bằng Tiêu Hà nhưng ta lấy được cả Thiên Hạ ấy là nhờ ta biết dùng cái tài của Hàn Tính, cái trí của Trương Lương và cái khả năng của Tiêu Hà". Lưu Bang thành công vì biết mình, biết người.
Lãnh đạo trước hết phải biết suy tư về mình, để biết mình, phải tìm hiểu con người của chính mình, có như thế mới suy tư khác nhau về người và suy tư về Đại cuộc đấu tranh. Người lãnh đạo theo định lý của Đạo đức Đông Phương, trước hết là người làm việc Nhân tức là "lấy cách đối đãi với mình mà đối với người, làm nhân chỉ có thế thôi. "(Năng cậu thủ thi khả vị nhân chi phương dã dĩ, Tử Cống, Ung Dã).
Cái thuật lãnh đạo để thu lấy thiên hạ gọn về tay mình, Khương Tử Nha chỉ giáo có hai điều cần suy, một là "Xá lỗi cho mình mà đi dạy người là nghịch lý". Hai là "Sửa mình cho ngay thẳng mà cảm hóa người" (Xá kỷ nhi giáo nhân giả nghich. Chính kỷ nhi hóa thân giả thuận). Thực vậy khi ta đã tự phê tự kiểm tự khiển trách ta thì còn ai khiển trách ta. Người lãnh đạo phải thể hiện không biết bao tính tốt và gương mẫu nhưng tựu trung có mấy điểm căn bản: phải dẹp nóng nảy, phải dẹp cá tính, phải bỏ cá biệt, không hão huyền ảo tưởng, đấu tranh là thực tế; giới hạn bàn cãi, không bao giờ bàn cãi quá xa bất cứ một vấn đề gì. Điều quan trọng hơn hết thảy là phải quên CÁI TÔI của mình để giải thể mà hòa vào cái tôi của tập thể, cái tôi của Dân Tộc.
Từ trên 40 năm qua, người Quốc Gia yêu nước đã chứng tỏ tinh thần hy sinh vô bờ bến cho đồng bào và dân tộc. Sự hy sinh của người Quốc Gia nếu so sánh Cộng sản không thể nào có thể sánh cho bằng. Hy sinh tài sản, hy sinh cả tương lai đã đành mà còn hy sinh cả hạnh phúc gia đình. Còn gì quý bằng mạng sống, còn gì quý bằng hạnh phúc của tình yêu, người Quốc Gia Dân Tộc vẫn dám hy sinh tất cả những thứ riêng tư cao quý ấy chỉ vì tiếng gọi của Tổ Quốc và Lý Tưởng, tuy nhiên có một điều lại không dám hy sinh là cái tôi của mình, cái tôi lớn như trời biển, núi non. Mọi sự bất thành từ đó, mọi sự đổ vỡ đến mức tang thương cũng từ đó. Từ cái tôi to lớn mà nảy sinh ra tự ái, tự ái thì vốn như một con vật kỳ lạ, bị thương tích ngất ngư chỉ vì một vết trầy sơ (manavia).
Một điểm khác nữa, lãnh đạo phải luôn luôn trau giồi trí tuệ, lấy cái trí của người làm cái trí của mình. Đây là điểm đã giúp Cộng sản thành công từ trên nửa thế kỷ qua, Lê Nin nói:"Một quân đội không học cách xử dụng tất cả những vũ khí, những phương pháp và thủ đoạn đấu tranh mà kẻ thù sẵn có hay có thể có thể đó là một điều ngu xuẩn thậm chí là tội ác nữa" (VI - Lê Nin "Toàn tập". Nhà XBST, 1969 tr. 31). Từ hiểu biết từ sự học tập, học tập từ kinh nghiệm thành công của địch, học tập từ sự thất bại của bạn trong quá khứ, học tập từng ngày từng giờ, học tập thường xuyên, có như vậy mới tạo được Viễn kiến.
Lãnh đạo là nhìn xa trông rộng, dự phóng và ước đoán. Nhờ vậy ngay trong lúc thất bại ta vẫn lạc quan để chuẩn bị cho sự thành công và ngay trong khi thành công ta đã ước tính có thể thất bại. Cái nguy của lãnh đạo là không ước lượng được thất bại khi đang thành công và điều quan trọng, không phải ta có thể sẽ thất bại không mà ta có biết chấp nhận thất bại không. Nguyễn Trãi trong bài "Phú Núi Chí Linh" nói rất rõ:" Trải nhiều biến thì mưu kế sâu, tính việc xa thì thành công kỳ".
Trí tuệ của lãnh đạo là "Làm một được hai đó là kế vạn toàn" (Lời Lê Lợi). Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc hiện nay trước sau vẫn một căn bản của Lam Sơn khởi nghĩa "Lương thực, khí giới lấy của giặc làm của mình" (Nguyễn Trãi. Chí Linh Sơn Phú). Trí tuệ của lãnh đạo đấu tranh cũng là ở chỗ "hiểu biết thời thế. Được thời và thế thì tất việc làm còn nhỏ mà hóa ra lớn" (Nguyễn Trãi, trích "Thứ thư 3 gửi quan Tổng Binh Vương Thông và các đại nhân). Bản chất của KCVN, dù tiếp nhận được sự ủng hộ não của thế giới thì vẫn phải do ta, vẫn là cuộc đấu tranh nhân dân trên căn bản nhân dân như Lam Sơn khởi nghĩa "vừa cầy ruộng vừa đánh giặc" (Nguyễn Trãi toàn tập, tr. 119). Do đó lãnh đạo cuộc đấu tranh thiêng liêng thần thánh này phải khác và hoàn toàn khác với việc lãnh đạo một chính phủ một chế độ. Trước năm 1975, dưới 2 chế độ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa, công cuộc đấu tranh chống Cộng sản là do một chính quyền, một nhà nước đảm đương. Công cuộc chống Cộng ngày nay đã khác và phải khác. Trước hết là công cuộc đấu tranh từng ngày từng giờ chống lại Cộng sản do những người không có chính quyền, không có cơ chế nào khác hơn là lực lượng đấu tranh hình thành từ nhân dân. Trước năm 1975, VNCH ở vào thế chính quyền, chống lại cuộc nổi dậy của phiến Cộng nấp sâu trong hàng ngũ nhân dân với ngụy chiêu bài dân tộc. Nay, KCVN không ở cái thế đó mà là ở thế của kẻ bị đàn áp, bị thống trị chống lại tập đoàn thống trị, nghĩa là chống lại Nhà Nước, cái Nhà Nước mà Lê Nin định nghĩa:"Nhà Nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt, nó là tổ chức bạo lực dùng để trấn áp một giai cấp nào đó" (VI Lê Nin toàn tập, tr. 26, tr. 49). Nhà Nước Cộng sản VN không những đã dùng bạo lực để chống lại một giai cấp mà chống lại cả nước, chống lại toàn dân. Lãnh đạo cuộc đấu tranh lật đổ Nhà Nước CSVN không còn và không thể là hình thái của cuộc chiến chống lại Cộng sản như trước năm 1975 hay trong thời gian Quốc Cộng tương tranh năm 1945- 1946. Do đó, quan niệm Lãnh Đạo phải khác, khác về người, khác về nội dung và thực chất, khác về chỉ đạo và quyền lực để lật đổ Nhà Nước đương tại cũng bằng bạo lực.
Lãnh đạo đấu tranh giải phóng Việt Nam trong thời hiện tại không thể do một người hay một nhóm người, mà là một hệ thống son sắt kết hợp trên dưới và khắp mặt. Một bí thư chi bô chính là cấp lãnh đạo từ cơ sở căn bản. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tất yếu phải do người trong nước chủ động lãnh đạo, nhưng thực tế Việt Nam ngày nay, Dân Tộc ta đã có 2 thành phần một trong một ngoài. Người ở ngoài tuy số lượng ít chỉ là một triệu dân phân tán khắp thế giới nhưng lại là cái lực mà bên nhà chưa thể có được. Cái thế của CMGPVN nằm ở quốc nội, hải ngoại không có cái thế ấy, nhưng cái thế ấy lớn nhanh hay chậm và bề chặt như thế nào lại tùy thuộc một phần quyết định nơi hải ngoại. Lãnh đạo CMGPVN ngày nay là lãnh đạo một tổng thể phức tạp giữa Thế và Lực. Trong hoàn cảnh đa đoan phức tạp như vậy thì lãnh đạo lại càng không thể đặt riêng vào tay một cá nhân hay một phe nhóm. Mô thức tập thể lãnh đạo vẫn là mô thức thực tế và lý tưởng. Lãnh đạo là sự tham dự tích cực theo hệ thống từ dưới lên trên và ngược lại từ trên xuống dưới. Người lãnh đạo tối cao chỉ là tiêu biểu mà không phải là quyền lực độc tôn. Trung Tâm quyền lực của lãnh đạo nằm trong tập thể lãnh đạo.
Tập đoàn Cộng sản Việt Nam sở dĩ thắng lớn và thành công trên 40 năm qua, trước hết chúng bịp giỏi, bịp một cách sáng suốt nói theo Sử gia Joseph Buttinger. "Việt Minh (tức CS) thành công là vì họ làm những người bịp sáng suốt”. (Việt Nam: A dragon embattled - N.Y 1976 tr. 266). Tuy nhiên, điểm căn bản giúp CSVN, thắng lợi vẫn là căn bản CS có lãnh đạo và lãnh đạo dù trên căn bản bá đạo, chúng lại được giữ kỷ luật theo đúng lời Lê Nin "Kỷ luật là căn bản để thắng" (Lê Nin, "Về xây dựng Đảng", Nhà XBST, 1970 tr. 143). Chẳng phải một Lê Nin nói như thế, Hoàng Thạch Công, người trao cho Trương Lương bộ "thiên thư" để làm mưu thần chước thánh giúp Lưu Bang đánh bại Tần Sở, ông cũng đã quan niệm:" Mệnh lệnh mà thi hành trái ngược, thì trăm lệnh đều thất bại". Kỷ luật là giềng mối của Tổ Chức. Muốn triệt để thi hành kỷ luật thì lãnh đạo phải có uy quyền. Uy quyền trong đấu tranh do binh quyền đã đành, đó là biện pháp cuối cùng nhưng uy quyền lãnh đạo phải do tinh thần trước đã. Kháng chiến quân Lam Sơn phải theo triệt để để 3 điều răn:
1. Cấm lừng khừng
2. Cấm khinh mạn
3. Cấm gian dâm
Có binh quyền thì thi hành 3 điều răn ấy không khó, nhưng để triệt để tuân theo toàn bộ và trên dưới nhất loạt thì đòi hỏi phải có thứ quyền lực tinh thần trong sáng nhất, hào quang rực rỡ nhất. Uy quyền ấy do đâu? Do 4 điều cơ bản: LỄ, NGHĨA, THÀNH, TÍN.
Trước khi khởi nghiệp, Lê Lợi đã chủ trương lấy Lễ làm căn bản, "Ngầm nuôi kẻ mưu trí, nhún lời, hậu lễ để thu hào kiệt" (Nguyễn Trãi, Toàn tập, tr. 37). Lấy chữ Lễ làm vốn quí, dù chỉ là phú hào, chẳng bao lâu Lê Lợi đã thu hút được bao hào kiệt từ Trần Nguyên Hãn đến Nguyễn Trãi... Giới khoa bảng lũ lượt kéo vào Lam Sơn như nhà nho Bùi Quốc Hương, công đầu trong Lam Sơn khởi nghĩa làm quan võ đến Thiếu Úy (tương đương Trung Tướng), các Tiến sĩ như Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân đều kéo về Lam Sơn như Lê văn Linh, con quan Hoàng Giáp, Lê văn Phong làm quan Hành Khiển đời Trần, sau ở ẩn đi tu chùa, giặc Minh giết, Lê văn Linh dựng cờ dấy nghĩa, là tay văn học mưu trí, dân theo rất đông, sau đem cả dân quân theo phò Lê Lợi làm đến Thái Phó (chức vụ cao nhất, nhà Lê không có Thái Sư).
Nguyễn Chích chỉ là nông dân, thuở nhỏ đi ở chăn trâu năm 25 tuổi là lúc giặc Minh chiếm được nước, ông đứng lên khởi nghĩa trước cả Lê Lợi, sau trở về Lam Sơn qui phục tôn phò Lê Lợi. Nguyễn Xí, người làng Thương Xá, huyện Chân Phúc, Nghệ An, 19 tuổi vào Lam Sơn theo Lê Lợi, có mặt trong Hội Thề Lũng Nhai, Lê Lợi kết làm em trao cho nhiệm vụ nuôi 100 con chó săn. Nguyễn Xí có tài dậy quân khuyển chỉ dùng một cái lắc để ra hiệu lệnh tập hợp chó, Lê Lợi sai ông chỉ huy đội quân Thiết Đột, kháng chiến thành công, Nguyễn Xí được phong Long Hổ Thượng Tướng Quân (Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Nhân vật chí, Q.IX tr.25-31).
Xét theo sử liệu, từ bậc mưu thần như Nguyễn Trãi đến đại khoa như Nguyễn Mộng Tuân, từ Hoàng thân Nhà Trần như Trần Nguyên Hãn, nắm binh quyền của Lam Sơn kháng chiến cho đến Nguyễn Xí, Trương Chiến, Nguyễn Chích vốn là nông dân, Lê Lợi đều lấy Lễ để cư xử và cư xử công bằng như nhau trong nghĩa anh em "LƯU, QUAN, TRƯƠNG vườn đào".
Xin nêu một thí dụ về chữ Lễ trong thuật lãnh đạo của Lam Sơn khởi nghĩa, chúng tôi viết về Lam Sơn khởi nghĩa mà không nói riêng Lê Lợi vì lãnh đạo Lam Sơn vốn đã là lãnh đạo tập thể bao gồm Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Bùi Quốc Hương, Nguyễn Chích v...v... Thuở ấy có anh thợ nề rất giỏi, làm thợ cả, người họ Mai, làng Nga Sơn, Thanh Hóa, trước đã có công đứng xây thành Tây Giao cho Hồ Quí Ly, người rất hào hiệp, không vợ con, dân gọi là Trọng Nghĩa. Tướng nhà Minh Trương Phụ cho người đến dụ dỗ Trọng Nghĩa giúp giặc sửa lại thành Đông Quan (Hà Nội) thành Xương Giang, thành Con Cuông (thành Nam), thành Rum (Nghệ An) nhờ đó Trọng Nghĩa nắm được hết cơ cấu mấy thành trì lớn của quân Minh. Lê Lợi biết Trọng Nghĩa rất lợi hại, cho người đến dụ Trọng Nghĩa theo kháng chiến Lam Sơn, Trọng Nghĩa không theo vì sợ sẽ bị trả thù vì tội theo giặc Minh. Biết rõ vai trò quan trọng của Trọng Nghĩa, chính Lê Lợi đích thân đến chiêu dụ Trọng Nghĩa.
Cảm kích Đức Lớn và Lễ Nghĩa của Bình Định Vương, Trọng Nghĩa theo Lê Lợi giúp kháng chiến xây thành Lục Niên ở núi Thiên Nhẫn, thành Bình Ngô ở vùng Chợ Rỡ (Thanh Chương Nghệ An), Trọng Nghĩa lại chỉ cho kháng chiến quân chỗ yếu, chỗ mạnh của thành Đông Quan, Xương Giang, thành Rum mà Trọng Nghĩa đã rõ cơ cấu.
Với Lễ Nghĩa làm căn bản, lãnh đạo kháng chiến Lam Sơn lại lấy Thành Tín làm nền. Đã hứa là làm, không vọng động, lộng ngôn. Nhờ có thành tín cho nên các nhóm kháng chiến trên khắp nước đều kéo về Lam Sơn tự giải thể để chỉ còn một lá cờ Lam Sơn. Đối với giặc thì lấy chữ Tín để thương thuyết và chiêu hồi. Trong lá thư gửi chiêu dụ bọn Tướng Nhà Minh, Nguyễn Trãi bảo đảm về chữ Tín "Chúng ta đã xét những việc đắc thất của cổ nhân như Bạch Khởi nước Tần, Hạng Vũ nước Sở, giết kẻ đầu hàng, trái lời đã ước, ta quyết không làm như thế" (Quân Trung Từ Mệnh tập, Bản dịch Phan Duy Tiếp, Nhà XB Sử học 1961, tr.42).
Lãnh Đạo hễ thất tín, bội tín thì đại cuộc sớm muộn cũng tan vỡ. Đối với Đông Phương và như cuộc đấu tranh của dân tộc Việt hiện nay thì qui luật tổng thể của đấu tranh vẫn phải là LỄ NGHĨA THÀNH TÍN, sau nữa là Cần Kiệm Liêm Chính để như Lam Sơn "một mũi tên không phí" (trích bài Chí Linh Sơn Phú) và TRỌN ĐẠO LÀM NGƯỜI.
Cuộc tổng khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 thành công mau chóng vì trước hết Hai Bà Trưng lấy Lễ Nghĩa để khởi nghiệp, nhờ thế chỉ một tuần trăng nhân dân Cửu Chân Nhật Nam Hợp Phố đều theo Hai Bà, dễ như trở bàn tay, lấy gọn 65 thành, xưng Vương (Đại Việt Sử ký toàn tập, tập III tr.2). Cũng nhờ chủ yếu từ Lễ Nghĩa, kháng chiến Lam Sơn thành công mau chóng "Đánh đến đâu, mộ quân đến đó, giải phóng xong Tân Bình, Thuận Hóa đã mộ được vài vạn quân khỏe mạnh dũng cảm" (Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập VIII, tr. 24). Kháng chiến quân như vết dầu loang rồi ào ào như thác đổ vì được lãnh đạo một cách có nghệ thuật và lương hảo, lại "Tưởng thưởng trọng hậu tướng sĩ" (Toàn Thư, tập III, tr.32).
Đã có bao nhiêu phong trào kháng chiến phất cờ dấy nghĩa trước cả Lê Lợi, khi Lam Sơn mới có 200 dũng sĩ thì phong trào kháng chiến Áo Đỏ có tới 10.000 quân. Tuy nhiên theo Minh Sử (q. 321) "cho đến mùa thu năm Vĩnh Lạc thứ 19, tức 1421 "giặc bị dẹp hết chỉ còn Lê Lợi là chưa dẹp được (trích Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Trãi Đánh Giặc Cứu Nước, NXB/QDND 1973 tr. 116). Mặc dầu không thiếu binh lực, lòng dân vẫn sôi nổi diệt thù ngay từ ngày đầu quân Minh xâm lược, năm 1400 dân ta chán ghét nhà Hồ nhưng vẫn hăng hái đánh giặc, như trong vùng kinh lộ "Các quân nhân và đinh nam đều đến môn quân tự nguyện, gắng sức lập công" (Toàn Thư t. II tr. 128) dù vậy vẫn thất bại vì không có lãnh đạo, vì thiếu Thành Tín nên dân không tin tưởng.
Đã có Lễ Nghĩa Thành Tín làm chỉ đạo tinh thần, Lãnh Đạo còn phải là một quyền lực tập thể mà không một ai được độc tôn và đơn phương nhất là lãnh đạo chiến tranh giải phóng, thắng bại chỉ trong đường tơ kẻ tóc thì lãnh đạo phải là một ý chí keo sơn, tập trung nhất, đồng tâm nhất, sắt thép nhất và phải như Lam Sơn kháng chiến bao giờ cũng "bàn kỹ mới đánh, chắc ăn mới đánh, bàn kỹ nên đánh thành nào trước" (Cương Mục, tập VIII, tr.19). Lãnh Đạo trong thực tế tóm lại một chữ Bàn và Tính. Bàn kỹ, tính kỹ đó là đặc điểm của tập thể lãnh đạo.
Thiếu lãnh đạo, thiếu sáng suốt lãnh đạo thì không thể nào đạt được chiến thắng, phê bình sự thật bài của phong trào kháng chiến Trần Ngỗi và Trùng Quang (1400-1414), Nguyễn Trãi cho rằng "Thời Hưng Khánh (Trần Ngỗi) Trùng Quang không thành công vì không có lãnh đạo, chỉ uổng hư danh, không thành công nghiệp, đó là vì nhiều người nắm quyền (Quân Trung Từ Mệnh, tập, tr. 85). Nói tóm lại, lãnh đạo dù là lãnh dạo tập thể nhưng phải nhất trí không thể "lắm thầy thối ma, năm cha ba mẹ".
Một số nhà "lãnh đạo" mà tôi gọi là "Lãnh đạo non" đã lầm lẫn đi theo con đường của Machiavel qua cuốn "Quân Vương" (Le Prince) mà cho rằng dùng bất cứ phương thuật thủ đoạn nào cũng được miễn sao thành công. Chủ trương của Machiavel với nguyên tắc trong cuốn "Quân Vương" không thể thích hợp trong hoàn cảnh và tâm lý xã hội Việt Nam ngày nay nơi đang là một hỏa ngục, nơi đã có đầy đủ kinh nghiệm về những lọc lừa và thủ đoạn đê tiện nhất của tập đoàn thống trị cho nên hơn bao giờ hết đại cuộc giải phóng Việt Nam phải được lãnh đạo với căn bản đạo lý truyền thống của Dân Tộc mà không thể thủ đoạn lãnh đạo kiểu Machiavel hay Cộng sản. Trong Bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác viết "Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng vào để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản" (C. Mác Ph Ang Ghen).
Tuyển tập I, Nhà XBST 1970- tr. 37. Bản Tuyên ngôn tr. 28-65) theo như Mác, ta có lấy vũ khí của Cộng sản đánh lại Cộng sản không? Xin trả lời ngay là có và phải học tập cách xử dụng vũ khí ấy nhưng phải theo cái thuật của Mộ Dung Công Tử "gậy ông đập lưng ông". Về lãnh đạo thì nhất định không thể theo Cộng sản và kể cả thuật làm "quân vương" của Machiavel. Dân đã chán ghét lọc lừa, thủ đoạn.
Phải lấy kinh nghiệm lãnh đạo của nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống Mông làm căn bản. Đó là mô thức lãnh đạo tập thể nhưng nhất trí và do một người được ủy nhiệm tổng chỉ huy nhưng quyết định là tập thể quyết định.
Khi quân Nguyên sang xâm lăng, triều đình triệu tập hội nghị quân sự Bình Than tháng tám năm Nhâm Ngọc (2-10-1282). Hội nghị nhất trí quyết chiến. "Tháng 10 năm Thiệu Bảo (20-11-1283), vua Trần đích thân chỉ huy các Vương hầu điều quân thủy bộ ra tập trận" (Toàn thư q.5 t.41-43). Vua Nhân Tôn trao toàn quyền cho Trần Hưng Đạo làm Tiết Chế (Tổng Tư lệnh) thống lãnh toàn quân. Thái Sư Trần Quang Khải, tức Chiêu Minh Vương, con thứ 3 của Trần Thái Tôn được phong Tướng Quốc Thái úy (Thái Úy là cấp tương đương Đại Tướng), sau thăng Thượng Tướng nhưng Thái Sư Trần Quang Khải vẫn đặt mình dưới quyền Tiết Chế Trần Hưng Đạo dù là người mà Thái Sư vốn hiềm khích bất hòa nhưng vì thù chung đều bỏ qua. Một hôm Trần Hưng Đạo ở Vạn Kiếp về kinh đô, Thái sư Trần Quang Khải xuống thuyền chơi, nhận thấy Quang Khải vốn ngại tắm, Hưng Đạo sai quân đun nước trầm hương rồi tự Vương cởi áo Quang Khải xối nước tắm cho Thái sư, Vương nói đùa:
- Thân thể Thượng Tướng nhiều cáu ghét lắm, xin cho phép tắm rửa.
Quang Khải vui vẻ đáp: "Rất sung sướng được Quốc Công tắm rửa cho".
Thật là hình ảnh rất đẹp của tính chiến hữu như anh em ruột thịt. Trần Hưng Đạo vốn có mối thù nhà với vua Trần Thái Tôn và Trần Quang Khải do việc Trần Thủ Độ cưỡng bức Thái Tôn lấy vợ của Anh Sinh Vương Trần Liễu là anh Thái Tôn phu nhân đã có chửa sẵn. Bị cướp vợ, Anh Sinh Vương nuôi lòng cừu hận. Năm 41 tuổi, lúc sắp lâm chung Trần Liễu dặn con là Trần Hưng Đạo:"Mai sau nếu con không vì ta mà lấy thiên hạ thì ta nằm dưới lòng đất cũng không nhắm mắt được". Năm 1287 Hưng Đạo đã nắm trọn binh quyền trong tay, giữa cơn quốc biến, có thể lật Nhân Tôn bất cứ lúc nào, Hưng Đạo đem lời thân phụ ra hỏi thử hai gia nô là Yết Kiêu Dã Tượng thì hai gia nô đều can gián. "Làm việc ấy hẳn là giàu sang một thời đấy nhưng sẽ mang tiếng xấu muôn đời. Đại Vương bây giờ đã chẳng đã giàu sang rồi ư? Còn chúng tôi thà chết làm gia nô còn hơn làm quan không Trung Hiếu". Đức Thánh Trần rất cảm kích ngài lại đem ý ấy ướm lời hỏi thử Hưng Quốc Vương, người con này chống lại nhưng Hưng Nhượng nói:" Tống Thái tổ ngày xưa chỉ là anh nhà quê vậy mà biết lợi dụng thời cơ, nắm được thiên hạ". Quốc Tảng nói xong Ngài tuốt gươm toan chém Tảng và kể tội con:"Xưa nay kẻ loạn thần nghịch tặc đều là đứa bất trung bất hiếu". Người trong nhà khóc lóc van xin Hưng Đạo mới tha, nhưng đẩy Quốc Tảng đi xa lại dặn:" Khi nào chết áo quan đậy nắp mới cho Quốc Tảng đến viếng". Ngày 20 tháng Tám năm Canh Tý (1300) Hưng Đạo Vương qua đời. Khi lâm chung vua Trần Anh Tôn đến bên giường bệnh thăm Vương và vấn kế. Vua nói:"Rủi Đại Vương mất đi rồi, giặc Bắc lại sang thì phải đối phó như thế nào?" Vương chỉ dẫn cho vua nhiều điều quan hệ và quan hệ hơn cả là sự đồng lòng nhất trí, Ngài nói:"Đinh, Lê thắng được Bắc phương vì dùng người hiền lương, trên dưới đồng một ý, lòng dân không chia lìa, đắp thành Bình Lỗ mà phá được giặc Tống".
Thực vậy, lãnh đạo đấu tranh phải trên dưới một lòng, một hệ thống chặt kín, toàn bích.
Một Tiểu đội trưởng kháng chiến quân, một cơ sơ trưởng tiếp vận, một xã ủy chính trị, một bí thư chi bộ sinh viên thảy đều là lãnh đạo trong một hệ thống lãnh đạo trên dưới khắp mặt để thực hiện đúng cái nguyên tắc ngăn đời của dân tộc đấu tranh "trên dưới cùng một lòng, anh hùng gắng sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh" (Nguyễn Trãi, Quân Trung Từ Mệnh Tập, tr. 50) nhưng bao giờ cũng như bao giờ lãnh đạo phải khiêm nhượng, cao ngạo sẽ tan vỡ, kiêu căng hợm hĩnh sẽ tàn vong mau chóng. Gương Lê Lợi trong mười năm Lam Sơn kháng chiến phải là tôn chỉ của đạo đức lãnh đạo. Mặc dù đang thắng lớn, giải phóng từ thành Cổ Lộng Sơn Nam vào đến Thuận Quảng, đang vây chặt Đông Đô, Lê Lợi khi đóng quân ở Bồ Đề, ngày vẫn khiêm tốn Sĩ thứ tới cửa trại Nhà Vua đến nhún mình, hậu lễ, tiếp đãi" (Lam Sơn Thực Lục, tr. 41).
Tôn chỉ và đặc tính của vai trò lãnh đạo kể trên không phải chỉ dành riêng cho cấp cao nhất của Lãnh Đạo mà cấp nào cũng phải theo những mô thức như thế, mô thức từ kinh nghiệm lịch sử dân tộc và Đạo Lý Dân Tộc. Lãnh Đạo Cách Mạng ở trong nước tuy khó khăn phức tạp vạn phần so với hải ngoại nhưng ở hải ngoại có khó khăn phức tạp của hải ngoại trong phạm vi lãnh đạo từ Cộng Đồng đến các hội đoàn và Đảng Đoàn đấu tranh. Dù ở cương vị nào và trong thực tế và bối cảnh nào, Lãnh Đạo tựu trung vẫn phải như vậy như mô thức lãnh đạo của đời Trần và Lam Sơn kháng chiến, mô thức của trượng phu hào kiệt yêu nước thương dân, thành tín với mình, với người.
CAO THẾ DUNG
Không có nhận xét nào