Tài liệu mới phát hiện có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Yên Báy năm 1930
Việt Nam Quốc Dân Đảng qua tài liệu lưu trữ Hải ngoại Pháp
Gồm 3 bài đầy đủ.
YlymHa Sưu tầm từ Thư viện Trung tâm Lưu trữ quốc gia I/ Hà Nội
Những tài liệu trong phông Phủ Toàn quyền Đông Dương (Fonds du Gouvernement général de l’Indochine) của Lưu trữ hải ngoại quốc gia Pháp (Archives nationales d’outre-Mer – ANOM) tại Aix-en Provence.
15/09/2020
Cách đây hơn 90 năm, vào nửa đầu tháng 2-1930, một số cuộc khởi nghĩa và bạo động vũ trang do Việt Nam Quốc dân Đảng lãnh đạo đã đồng thời nổ ra tại một số nơi trên địa bàn Bắc Kỳ.
Nguyễn Thái Học – Cựu sinh viên Trường Thương mại thuộc Đại học Đông Dương (Université indochinoise), một trong số các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng khi bị bắt giam tại Hỏa Lò (Hà Nội) năm 1930. Ảnh: Wikipedia
Đó là: Khởi nghĩa ở Yên Báy, Hưng Hóa, Lâm Thao (Phú Thọ) và đồn binh chùa Thông (Sơn Tây) ngày 10-2-1930;
- Bạo động vũ trang ở Hà Nội ngày 10-2-1930;
- Khởi nghĩa ở Hải Dương, Phụ Dực (Thái Bình) và Vĩnh Bảo (Hải Phòng) ngày 15-2-1930.
Tờ Avenir du Tonkin số ra ngày 28.03.1930
Tuy xảy ra ở các địa phương khác nhau nhưng cùng do Việt Nam Quốc dân Đảng lãnh đạo, lại diễn ra cùng ở một thời điểm nên “lịch sử vẫn quen gọi chung là khởi nghĩa Yên Báy”[1].
Tại Yên Bái, quân khởi nghĩa đánh chiếm được đồn dưới và kho vũ khí, giết và làm bị thương một số sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp. Nghĩa quân đã làm chủ được một số khu vực trong thị xã, treo cờ trên các công sở và phát truyền đơn hô hào quần chúng nổi dậy. Nhưng nghĩa quân đã không chiếm được đồn cao trong đó có tên Trung tá Tư lệnh Tacon, chỉ huy trưởng người Pháp, và cũng không lôi kéo được lính khố xanh người Việt theo về với cách mạng. 8 giờ sáng ngày 10-2-1930, quân Pháp phản công quyết liệt với sự hỗ trợ của máy bay từ Hà Nội lên. Quân khởi nghĩa bị thất bại hoàn toàn.
Các cuộc khởi nghĩa khác, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trên thực tế đã không thể tiến hành được, hoặc có nổ ra nhưng rồi đều bị đàn áp thất bại.
Sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Báy thất bại, thực dân Pháp đã tiến hành một chiến dịch khủng bố rất tàn bạo. Ngày 14-2-1930, Toàn quyền Đông Dương Pasquier đã ký Nghị định thành lập Hội đồng Đề hình do Thanh tra hành chính Bắc Kỳ Poulet Osier là Chủ tịch Hội đồng để xét xử vụ án Việt Nam Quốc dân Đảng. Nghị định này cùng với một số hồ sơ về các phiên tòa do Hội đồng Đề hình mở công khai tại Hà Nội và một số nơi khác hiện nay vẫn còn được lưu giữ tại Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (fonds de la Résidence supérieure au Tonkin – RST) của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Theo tài liệu lưu trữ thì tổng số có hơn 600 đảng viên bị đưa ra xử, trên 30 người bị lĩnh án tử hình (trong đó có các lãnh tụ của đảng như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp, Trần Quang Diệu…)[2].
Các hồ sơ lưu trữ cũng phản ánh các vụ trả thù dã man của thực dân Pháp đối với các địa phương diễn ra các cuộc khởi nghĩa vũ trang như vụ triệt hạ bằng máy bay và súng liên thanh giết chết 21 người dân vô tội ở Cổ Am (Vĩnh Bảo, Hải Phòng); các cuộc khủng bố trắng tại các làng Đồng Tải, Phong Cầu, Kha Lâm (Kiến An, Hải Phòng) và một số làng khác của tỉnh Phú Thọ…
Tuy nhiên, sự khủng bố tàn bạo của thực dân Pháp đã không làm cho nhân dân ta nhụt ý chí đấu tranh. Ngược lại, cuộc khởi nghĩa Yên Báy còn có tác dụng “cổ vũ lòng yêu nước và chí căm thù giặc của nhân dân ta. Những tấm gương hy sinh quả cảm của các chiến sĩ Yên Báy đã góp phần tiếp nối truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc”[3].
Âm vang của cuộc khởi nghĩa Yên Báy và sự khủng bố tàn bạo của thực dân Pháp đã dội về chính quốc. Nó đã có tác động trực tiếp đến những sinh viên đang du học tại Paris và đã thổi bùng lên trong lòng họ tinh thần dân tộc, xót thương giống nòi thực sự.
Những tài liệu trong phông Phủ Toàn quyền Đông Dương (Fonds du Gouvernement général de l’Indochine) của Lưu trữ hải ngoại quốc gia Pháp (Archives nationales d’outre-Mer – ANOM) tại Aix-en Provence[4]cung cấp cho chúng ta những bằng chứng xác thực về sự phản kháng của sinh viên Việt Nam đối với những khủng bố tàn bạo của chính quyền thực dân ở Đông Dương sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Báy. Những tài liệu này cũng là những bằng chứng xác thực về việc chính phủ Pháp luôn chú ý theo dõi và đàn áp sinh viên không những ở thuộc địa mà ngay cả ở chính quốc. Đáng tiếc là những tài liệu này cho tới nay chưa từng được công bố, và cũng chưa từng được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào về Việt Nam Quốc dân Đảng nói chung hay cuộc khởi nghĩa Yên Báy nói riêng.
Theo trình tự thời gian, những tài liệu đó gồm:
I. Những văn bản có tính chất “thông báo” sự kiện phản kháng của 18 sinh viên du học tại Paris từ chính quốc gửi về thuộc địa.
*Công điện số 885-C.A.I ngày 13-5-1930 của Bộ trưởng Thuộc địa gửi Toàn quyền Đông Dương về đơn thỉnh cầu của các sinh viên ở Nhà nội trú của sinh viên Đông Dương tại Khu Học xá Đại học ở Paris, nội dung như sau:
“Paris ngày 13-5-1930
Bộ trưởng Thuộc địa
Gửi Ông Toàn quyền Đông Dương
Tôi hân hạnh chuyển tới Ông, để Ông được biết, bản chụp lá đơn thỉnh cầu của các sinh viên ở Nhà nội trú của sinh viên Đông Dương về những kẻ bị kết án bởi Tòa Đại hình Hà Nội.
Một lá đơn khác có cùng nội dung đã được gửi cùng ngày tới Tổng thống nước Cộng hòa [Pháp].
Công điện số 885-C.A.I ngày 13-5-1930 của Bộ trưởng Thuộc địa gửi Toàn quyền Đông Dương
Trang cuối danh sách các sinh viên Đông Dương tại Khu Học xá Paris - những người đã ký tên trong đơn gửi Bộ trưởng Thuộc địa và Tổng thống nước Cộng hòa Pháp
Ông sẽ tìm thấy kèm theo đây một bản chỉ dẫn do C.A.I[5] lập có các thông tin về những người bản xứ ký tên trong lá đơn này.
Thừa lệnh Bộ trưởng
Giám đốc Vụ Chính trị
Đã ký: JOSEPH”
Bức điện có đóng dấu “Mật” (Secret) và dòng chữ: “Trong danh sách này có tên hai con trai của Bạch Thái Bưởi”[6].
Khu học xá Đại học ở Paris (Cité Universitaire à Paris)số 41 đại lộ Jourdan, Paris – quận 14. Ảnh: https://www.paris2018.com/sites/cite-universitaire/
Kèm theo công điện số 885-C.A.I ngày 13-5-1930 của Bộ trưởng Thuộc địa gửi Toàn quyền Đông Dương là bản chụp lá đơn viết ngày 12-4-1930 của 18 sinh viên Đông Dương được gửi từ Khu Học xá, Nhà nội trú của sinh viên Đông Dương, số 41 đại lộ Jourdan, Paris, quận 14, với nội dung sau:
Bản chụp toàn văn lá đơn viết ngày 12-4-1930 của 18 sinh viên Đông Dương gửi Bộ trưởng Thuộc địa và Tổng thống nước Cộng hòa Pháp. Nội dung lá đơn yêu cầu tha cho những người đã bị Tòa Đại hình Hà Nội kết án tử hình “vì lý do chính trị” và phản đối những vụ ném bom vào các làng xóm, gây chết chóc cho những người dân lương thiện của chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương.
“Paris ngày 12-4-1930
Gửi Ông Bộ trưởng Thuộc địa,
Thưa ông Bộ trưởng,
Chúng tôi ký tên dưới đây, những sinh viên người Đông Dương ngụ tại Nhà nội trú Đông Dương ở Khu Học xá hân hạnh được kêu gọi lòng khoan dung của Ông đối với 52 đồng bào của chúng tôi đã bị kết án tử hình bởi Tòa Đại hình ở Hà Nội vì lý do chính trị.
Chúng tôi kêu gọi Ông hãy vì tinh thần Công lý và Nhân đạo mà can thiệp với Tòa án tối cao để những người này được ân xá.
Mặt khác, chúng tôi vô cùng phẫn nộ đối với những trận ném bom vào các làng xóm gây nên chết chóc cho những người dân lương thiện.
Xin Ông hãy nhận của chúng tôi, thưa Ông Bộ trưởng Thuộc địa, những tình cảm đau buồn sâu sắc nhất”.
Dưới thư là chữ ký của các sinh viên.
Cũng được gửi kèm theo công điện số 885-C.A.I ngày 13-5-1930 của Bộ trưởng Thuộc địa là danh sách 18 sinh viên đã viết lá đơn trên:
“1. Trần Bá Chi: có thể là người Nam Kỳ, quốc tịch Pháp, đi từ Sài Gòn ngày 16-8-1926, hộ chiếu số 175.
2. Nguyễn Ngọc Ky: người Nam Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số C-53513, sinh ngày11-1-1910 ở Da Phuoc, tổng Minh Dat, Bến Tre, con của Nguyễn Ngọc Tương, Tri phủ đại diện hành chính ở Xuyen Moc (Bà Rịa) năm 1928 và Bùi Thị Giàu; đi từ Sài Gòn ngày 20-8-1928.
3. Phan Ngọc Tôn: có học bổng, người Nam Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số C-37472, sinh ngày 2-11-1010 ở Tan Kien, tổng Long Hung thuong, Chợ Lớn, con của Phan Ngọc Trinh, Tri huyện năm 1929 ở Mỹ Tho; từ Sài Gòn đi Paris ngày 3-9-1929.
4. Trương Trương Vinh: có học bổng (?), người Nam Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số C-12083, sinh ngày 19-2-1905 ở Binh Duc, Long Xuyên, con của Trương Minh Giang, đốc phủ hạng nhất năm 1928 và được thưởng Bắc đẩu bội tinh hạng năm; đi từ Sài Gòn ngày 29-8-1910.
5. Nguyễn Sinh Nam: người Bắc Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số T-74900, sinh năm 1911 ở Phúc Xá, tổng Phúc Lâm, huyện Hoàn Long, Hà Đông, con của Nguyễn Văn Vy tức Félix Young.
6. Trương Minh Hàm: có thể là người Nam Kỳ, sinh năm 1909 tại Sài Gòn, đi từ Sài Gòn ngày 29-6-1921, em trai của Trương Văn Xương.
7. Trương Văn Xương: người Nam Kỳ, sinh năm 1907 tại Sài Gòn, rời khỏi Sài Gòn ngày 26-6-1921, anh trai của Hàm.
8. Lê Quang Thắng: người Nam Kỳ, gốc Sa Đéc, con trai của Lê Quang Biên, quốc tịch Pháp.
9. Nguyễn Văn Tất: người Nam Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số C-27994, sinh ngày 5-8-1902 tại Long Châu, tổng Bình Long, Vĩnh Long, con của Nguyễn Văn Thiên năm 1926 là thư ký chính hạng của Khu Hành chính Vĩnh Long, đi từ Sài Gòn ngày 25-8-1926.
10. Lê Quang Huy: không rõ tin tức ở Nhà nội trú sinh viên Đông Dương, không được nhận dạng bởi cơ quan an ninh.
11. Nguyễn Văn Nhơn Jean: có thể là người Nam Kỳ cùng tên, sinh ngày 8-7-1910 ở Phuoc Hai, tổng Bình Phước, tỉnh Trà Vinh, con của Nguyễn Văn Thuận và Nguyễn Thị Dương, đi từ Sài Gòn ngày 7-3-1927.
12. Nguyễn Huy Bao: có vẻ chắc chắn là người Bắc Kỳ cùng tên, sinh năm 1909 ở Hà Nội, số 9 đại lộ Doudart de Lagrée [phố Hàm Long], đi từ Hải Phòng ngày 26-11-1925.
13. Bạch Thái Sáu: người Bắc Kỳ, sinh năm 1908 ở Thanh Oai, Hà Đông, con của Bạch Thái Bưởi, đi từ Hải Phòng ngày 2-9-1925.
14. Lê Quang Đức: người Nam Kỳ, sinh ngày 21-8-1921 ở Sa Đéc, con trai của Lê Quang Liên, quốc tịch Pháp và Lê Thị Thi. Được phiên chế vào Pháp ngày 10-11-1928 để làm nhiệm vụ chính thức. Trong thời gian này đã có chứng chỉ học dự bị quân sự cao cấp, nằm trong tốp học sinh sĩ quan dự bị.
15. Bạch Thái Bảy: người Bắc Kỳ, em của Bạch Thái Sáu đã được chỉ rõ ở trên.
16. Thao Nhouy: người Lào, sổ đại học số 1 ngày 27-11-1929, sinh ngày 19-1-1909 ở Khong [?], Bassac [Hậu Giang], có học bổng.
17. Lê Quang Trọng: con trai của Đốc phủ quá cố Lê Quang Hiên, quốc tịch Pháp. Ở Pháp từ 1905.
18. Trần Văn Be: không rõ tin tức ở Nhà nội trú sinh viên Đông Dương, không được nhận dạng bởi cơ quan an ninh”.
II. Những tài liệu thể hiện sự chỉ đạo của chính quyền thực dân ở Đông Dương đối với hệ thống chính quyền các cấp về việc nghiên cứu và giải quyết sự kiện phản kháng của 18 sinh viên Đông Dương tại Khu học xá ở Paris.
* Công văn số 4108/SG ngày 15-7-1930 của Toàn quyền Đông Dương gửi những người đứng đầu các khu vực hành chính địa phương[7], Viện trưởng Viện Hàn lâm, Tổng Giám đốc Học chính Đông Dương ở Hà Nội.
Trong công văn này, Toàn quyền Đông Dương dùng từ “những người phản kháng” để chỉ số sinh viên đã gửi đơn thỉnh cầu ngày 12-4-1930 lên Bộ trưởng Thuộc địa và Tổng thống nước Cộng hòa Pháp. Phần quan trọng nhất của công văn, Toàn quyền Đông Dương viết: “Phần lớn trong số những người phản kháng là con của các kỳ hào bản xứ và nhất là nhờ địa vị của cha mẹ mà họ có thể được hưởng rất nhiều thuận lợi mà Khu học xá đem lại cho học sinh nội trú. Một vài trong số những thanh niên này được cấp học bổng, một số khác là công dân Pháp; nhiều người không còn là vị thành niên”.
Cuối cùng, Toàn quyền Đông Dương đưa ra ba chỉ thị đối với cấp dưới, nhưng thực chất là ba biện pháp nhằm trục xuất 18 sinh viên đã ký tên trong đơn và đàn áp sinh viên yêu nước[8]:
“1. Thông báo cho cha mẹ của 18 sinh viên đã ký đơn để họ đưa con về nước.
2. Thực hiện tất cả những biện pháp cần thiết để không còn một sự việc nào tượng tự xảy ra.
3. Thông báo cho tôi [Toàn quyền] những thông tin của Sở Cảnh sát và An ninh Trung ương về những người Đông Dương chưa rõ trong danh sách”.
Tài liệu này cũng chứng tỏ rằng, mặc dù chính quyền thuộc địa đã nỗ lực trong việc tạo ra một tầng lớp trí thức thân Pháp, mục đích xây dựng một hàng ngũ tay sai cho họ về phương diện văn hóa nhưng kết quả đã đi ngược lại với mong muốn và nỗ lực của họ.
III. Những tài liệu thể hiện các biện pháp mà chính quyền thuộc địa các cấp đã thực hiện theo sự chỉ đạo của Toàn quyền Đông Dương trong việc giải quyết sự kiện phản kháng của 18 sinh viên Đông Dương tại Khu học xá ở Paris.
* Bản sao công văn “Mật” ngày 24-7-1930 của Thống sứ gửi Đốc lý Hải Phòng chỉ thị việc giải quyết vụ hai con trai Bạch Thái Bưởi ký tên vào đơn gửi Bộ trưởng Thuộc địa và Tổng thống nước Pháp xin ân xá cho những người đã bị Tòa Đại hình Hà Nội kết án tử hình (được Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương để báo cáo việc thực hiện công văn số 4108/SG ngày 15-7-1930 về vụ việc đã nêu).
Công văn viết:
“Tôi yêu cầu Ông triệu tập ngay Bạch Thái Bưởi đến văn phòng của Ông để báo cho ông ta biết về thái độ không thích đáng của các con ông ta. Ông đừng quên nhấn mạnh rằng sự thoải mái và sự phát triển về học vấn của chúng cũng như của cải đáng thèm thuồng mà cha mẹ chúng thu được là nhờ có sự giúp đỡ và dưới sự bảo hộ của Chính quyền Pháp.
Ông cũng tuyên bố với Bạch Thái Bưởi rằng, vì các con của ông ta, sau khi đã cân nhắc, đã tự đứng trong hàng ngũ của bọn tội phạm, những kẻ đã giết các sĩ quan của chúng ta ở Yên Bái, thì kể từ nay trở đi, chúng sẽ không bao giờ được hưởng một tí nào sự khoan dung của chúng ta nữa”.
* Bản sao công văn“Mật” ngày 26-7-1930 của Đốc lý Hải Phòng báo cáo đã triệu tập Bạch Thái Bưởi đến văn phòng thông báo việc đưa Bạch Thái Sáu và Bạch Thái Bảy về Việt Nam.
IV. Những tài liệu thể hiện sự theo dõi sinh viên Việt Nam học tại Pháp của chính quyền thuộc địa.
* Bản sao lá thư ngày 20-7-1930 của Nguyễn Văn Trí, trú tại 41 đại lộ Magenta, Paris (quận X) gửi cho bố là ông Nguyễn Văn Thinh, trú tại nhà số 1 quai Lamothe de Carrier, Nam Định trong đó có nhắc tới việc trở về của Bạch Thái Sáu (bản sao thư do Sở Mật thám gửi Thống sứ Bắc Kỳ). Đoạn cuối thư có câu: “Bố mẹ chắc chắn sẽ ngạc nhiên khi thấy Sáu tới một mình. Nhưng bố mẹ hãy tin rằng, nếu có lần con cái không vâng lời bố mẹ, thì bởi chúng không thể làm cách nào khác. Con sẽ nói với bố mẹ về việc này lâu hơn vào một dịp khác” (những câu này đã bị mật thám gạch chân. Điều đó có nghĩa là chúng đã rất đề phòng với những người trẻ tuổi có học vấn này).
* Một số công văn trao đổi dưới dạng “Kín” (Confidentielle) giữa Thống sứ Bắc Kỳ, Giám đốc Sở Mật thám, Công sứ tỉnh Thái Bình với Tổng đốc tỉnh Thái Bình, Tri huyện Đồng Quan và biên bản hỏi cung một số sinh viên Việt Nam từng du học ở Pháp về…
Những tài liệu trên đây là những cứ liệu chứng tỏ rằng, ngay cả những người có lợi ích gắn với chính quyền thực dân ở thuộc địa cũng phản đối chúng khủng bố phong trào cách mạng trong những năm 1930, đặc biệt sau cuộc khởi nghĩa Yên Báy. Sự trục xuất 18 sinh viên Đông Dương du học ở Pháp và sự bắt bớ, theo dõi học sinh, sinh viên Việt Nam của chính quyền thuộc địa sau khởi nghĩa Yên Báy vẫn không làm cho nhân dân ta chùn bước. Mặc dù cuộc khởi nghĩa Yên Báy đã thất bại, nhưng phong trào cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn không ngừng tiến tới. Cuộc khởi nghĩa Yên Báy đã biểu thị tinh thần quật cường của dân tộc ta và góp phần đưa tới thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo[9].
[1]Nguyễn Văn Khánh: “Việt Nam Quốc dân đảng trong lịch sử cách mạng Việt Nam”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005, tr.158.
[2]Danh sách những người bị kết án có trong hồ sơ số 82.361, phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (fonds de la Résidence supérieure au Tonkin – RST) thuộc Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Hà Nội.
[3]Lịch sử Việt Nam, T.II, Nxb KHXH, H, 1985, tr. 251.
[4]Phần lớn tài liệu của phông này được đưa về Pháp theo Thỏa ước ngày 15-6-1950 ký kết giữa chính phủ Bảo Đại và chính phủ thực dân mà đại diện là Léon Pignon, số còn lại lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội).
[5]C.A.I: Comité d'amnistie indochinois (Ủy ban Ân xá Đông Dương) ?
[6]Bạch Thái Bưởi (1874 – 22-7-1932), nhà tư sản dân tộc yêu nước có thể cạnh tranh với tư bản người Hoa và tư bản người Pháp trong các lĩnh vực hàng hải, khai thác than và in ấn.
[7]Tức Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, các Thống sứ Bắc Kỳ, Cao Miên và Lào.
[8]Việc trục xuất 18 sinh viên du học tại Pháp về Việt Nam được nhắc tới trong cuốn Témoignages et documents relatifs à la colonisation française au Vietnam, H, 1945, tr. III-8. Dẫn theo Trần Huy Liệu (cb), Nguyễn Lương Bích, Mai Hạnh, Nguyễn Việt, Phan Gia Bền, Võ Văn Nhung, Hoa Bằng: “Lịch sử thủ đô Hà Nội”, Nxb Hà Nội, H, 2000, (tr.258).
[9]Hà Văn Thư-Trần Hồng Đức: “Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam”, Nxb Văn hóa-Thông tin, H, 1996, tr. 173.
TS. Đào Thị Diến
Tài liêu mới phát hiện có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930
Việt Nam Quốc Dân Đảng qua tài liệu lưu trữ Hải ngoại Pháp.
Kỳ I: Hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng qua tài liệu của mật thám Pháp
08/06/2020
Lưu trữ Hải ngoại Pháp (ANOM) lưu trữ nhiều tài liệu của Sở Liêm phóng (hay còn gọi là Sở Mật thám) Đông Dương về Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ). Đây chủ yếu là các báo cáo, đánh giá về hoạt động của đảng này, kể từ ngày thành lập (năm 1927) đến khi khởi nghĩa Yên Báy thất bại, các phiên tòa xét xử các đảng viên bị bắt.
Nguyễn Thái Học. Nguồn internet
Báo cáo của Bride, Chánh án Tòa đại hình Bắc Kỳ năm 1929 tổng hợp quá trình hoạt động của một tổ chức chính trị lớn chống Pháp có tên gọi Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ), đòi giành độc lập cho Việt Nam bằng mọi cách và mọi giá có thể. Bản báo cáo nêu khá cụ thể về nội dung các cuộc họp của VNQDĐ, cũng như đánh giá vai trò của những lãnh đạo như Nhượng Tống, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thế Nghiệp hay Nguyễn Khắc Nhu (Xứ Nhu).
Nam Đồng thư xã và tổng hợp các hoạt động của các đảng viên cao cấp
Nam Đồng thư xã được thành lập từ năm 1925, do Phạm Tuấn Lâm (Dật Công), Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên), và Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống) đứng ra thành lập, tại số 6 đường 96 khu Nam Đồng (trước Bờ Hồ Trúc Bạch, Hà Nội). Đây là nơi chuyên viết, dịch và cho xuất bản các tác phẩm cách mạng thế giới.
Tháng 7/1927, mật thám Pháp phát hiện Nguyễn Thái Học xuất hiện ở Nam Đồng thư xã, nơi được ông dùng để ở. Tháng 9/1927, Nguyễn Thái Học cùng với Phạm Tuấn Tài lên kế hoạch chống Pháp. Cũng trong tháng 9/1927, Nguyễn Ngọc Sơn lên đường sang Trung Quốc.
Tháng 11/1927, mật thám Pháp báo cáo về một cuộc nổi dậy có thể diễn ra vào ngày 11/11/1927 ở Bắc Ninh, kỷ niệm Ngày Đình chiến. Tuy nhiên, cuộc nổi dậy đã không diễn ra do Nguyễn Thái Học cho rằng thời điểm chưa thuận lợi, một cuộc nổi dậy chưa được chuẩn bị kỹ có thể ảnh hưởng không tốt đến tổ chức cũng như sự phát triển của VNQDĐ. Ngày 24,25 và 26/11/1927, Nhượng Tống, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn họp tại nhà của Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài vừa trở về từ Tuyên Quang. Mỗi người trình bày quan điểm cũng như kế hoạch của riêng mình và tuyên bố thành lập tổ chức có tên gọi Việt Nam Quốc dân Đảng (Tài liệu của VNQDĐ ghi ngày thành lập của đảng là ngày 25/12/1927[1]). Nguyễn Thái Học muốn tập hợp các đảng nhóm nhỏ chống Pháp trong vùng. Tháng 12/1927, Nguyễn Thế Nghiệp đi Nam Kỳ nghiên cứu tình hình chính trị, đến Thanh Hóa, ông đã phân công Hoàng Văn Tùng tiến hành các hoạt động tuyên truyền trong vùng cũng như Bắc Trung Kỳ. Nguyễn Ngọc Sơn đến Ninh Bình cùng với Phạm Tiềm (tức Tú Tiềm), Nhượng Tống đến Thái Bình, Nguyễn Thái Học và Hồ Văn Mịch lên Lào Cai. Phạm Tuấn Tài về lại Tuyên Quang. Tháng 2/1928, Nguyễn Thế Nghiệp từ Nam Kỳ trở về và ở lại Nam Đồng thư xã, khi đó chỉ còn lại Nguyễn Thái Học.
Vào giai đoạn này, mật thám Pháp coi Nhượng Tống là nhân vật hoạt động tích cực nhất của đảng. Ông đóng vai trò tuyên truyền, thư ký, biên tập, là cầu nối với các nhà xuất bản ở Nam Kỳ bị chính quyền Pháp nghi ngờ tham gia VNQDĐ. Ông vận động cho kế hoạch thành lập một chi bộ lớn ở Sài Gòn cũng như tại các thành phố lớn của Đông Dương. Nhượng Tống cố vấn cho những người mà ông thường trao đổi thư từ trong soạn thảo tài liệu tuyên truyền phân phát tại Bắc Kỳ, kêu gọi giành tự do cho đất nước.
Các cuộc họp của VNQDĐ không có thời gian và địa điểm cố định. Ngày 7/4/1928, Nguyễn Thái Học và Nguyễn Kim Ngữ đến Yên Phụ. Cũng trong tháng này, các đảng viên của các chi bộ trong vùng cũng về họp tại Nam Đồng thư xã để tổng kết tình hình chính trị. Biết bị mật thám Pháp theo dõi, Nguyễn Thế Nghiệp không rời khỏi nơi ở, tiếp tục soạn thảo điều lệ đảng. Tháng 5/1928, ông đi Thái Bình, Thanh Hóa và Vinh. Trong thời gian này, VNQDĐ nhóm họp dưới sự điều hành của những thành viên sáng lập. Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Thái Học, Nhượng Tống, Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Hồ Văn Mịch và Lê Văn Phúc là ủy viên lâm thời, đảm trách việc tổ chức VNQDĐ dưới sự chủ trì của Nguyễn Thái Học. Tháng 7/1928 diễn ra cuộc họp đầu tiên có sự tham dự của đại biểu các vùng và Ủy ban trung ương được thành lập. Cũng từ mốc thời gian này, mọi hoạt động của VNQDĐ bị mật thám Pháp theo dõi chặt chẽ, trong đó có các thông tin về chương trình họp, thảo luận, các cuộc họp.
Tổ chức của Việt Nam Quốc Dân Đảng
Chuyến đi của Nguyễn Thế Nghiệp ở Trung và Nam Kỳ tháng 12/1927
Tại Vinh, Nguyễn Thế Nghiệp gặp rất nhiều nhà cách mạng tham gia và liên quan đến vụ lưu vong bí mật ở Móng Cái, đa số họ đã là đảng viên của VNQDĐ ở Bắc Trung Kỳ. Tại Huế, ông gặp Phan Bội Châu. Ở Sài Gòn, ông gặp Vũ Đình Dy - chủ bút của tờ «Thanh niên Đông Dương», Nguyễn Khánh Toàn, cựu chủ bút của tờ «Nhà quê» (năm 1929, đã chuyển sang sống ở Marseille, Pháp). Hai ông đã cung cấp cho Nguyễn Thế Nghiệp thông tin về tình hình chính trị và tổ chức của các hội nhóm do Nguyễn An Ninh, Trần Nguyên Phú và Nguyễn Đinh Kiêm lãnh đạo. Gấp gáp trở về Bắc Kỳ tham dự lễ thành lập VNQDĐ, tháng 3/1927, Nguyễn Thế Nghiệp lên tàu về Bắc Kỳ cùng với Nguyễn Văn Ngọc và Cao Hữu Tạo, mà theo mật thám Pháp cho là nhân viên Ngân hàng Đông Dương.
Chuyến đi tuyên truyền ở Xiêm La (Thái Lan) tháng 6/1927
Chuyến đi này được những người khởi xướng thành lập VNQDĐ quyết định ngày 22/05. Nguyễn Thái Sơn, Hồ Văn Mịch và Phạm Tiềm (tức Tú Tiềm) đã tới Xiêm La vào tháng 6/1927. Ba người tới Udon ở Tây Bắc Thái Lan, gặp nơi có nhiều chí sĩ Việt Nam lưu vong sinh sống, trong đó có Hy Tống và Ngọc Ân của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Ba ông tham dự cuộc họp tưởng niệm người đã hy sinh trong vụ ám sát Toàn quyền Đông Dương Merlin năm 1924. Nhân dịp này, ba ông đã có những bài phát biểu, vận động hợp nhất với Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, nhưng đảng này đã trả lời cần phải tham vấn ý kiến của những người cộng sản ở Quảng Châu. Cuối tháng 7/1927, Tú Tiềm về nước và có bản báo cáo về chuyến đi trong cuộc họp ngày 02/9.
Chuyến đi của Nguyễn Ngọc Sơn và Hồ Văn Mịch tới Nam Kỳ
Nguyễn Ngọc Sơn và Hồ Văn Mịch không trở về Bắc Kỳ sau khi rời Xiêm La mà tới Nam Kỳ, với mục đích thành lập các chi bộ tại đây. Cả hai có các cuộc gặp với Nguyễn An Ninh, Tú Kiên và Trần Nguyên Phú, những nhà lãnh đạo của các phong trào chống Pháp tại Nam Kỳ. Theo Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn An Ninh là người vừa trở về từ Pháp, mang tư tưởng phương Tây và đảng do Nguyễn An Ninh lập nên không có cơ sở vững chắc, vì một người trong gia đình khi gia nhập đảng, đồng nghĩa với tất cả gia đình của họ cũng trở thành đảng viên của đảng. Do vậy tuy đảng có số lượng thành viên đông nhưng nhiều người không có khả năng, không có sự bình đẳng giữa các đảng viên. Nguyễn Ngọc Sơn đã chứng minh cho Nguyễn An Ninh thấy những ưu điểm trong tổ chức của VNQDĐ. Nguyễn An Ninh bị bắt và Nguyễn Ngọc Sơn buộc phải dừng kế hoạch hợp tác với Nguyễn An Ninh. Tú Kiên và Nguyễn Ngọc Sơn cũng đã gặp nhau. Tú Kiên là lãnh tụ của Đảng Tân Việt ở Trung Kỳ. Ông cũng cho Nguyễn Ngọc Sơn biết ông hy vọng dẫn đắt đảng của ông thành công trong 3 năm tiếp theo. Việc Tú Kiên bị Pháp bắt đã giáng đòn mạnh vào đảng của ông và bất chấp mọi nỗ lực của Tú Kiên sau khi ra tù, Đảng Tân Việt không thể vực dậy. Trần Nguyên Phú, một thợ ảnh là người sáng lập một đảng chính trị mang khuynh hướng cộng sản. Trong thời gian lưu trú ở Nam Kỳ, Nguyễn Ngọc Sơn đã tổ chức thành công 8 chi bộ và khi về Bắc Kỳ, ông được Trần Nguyên Phú thông báo có thêm 4 chi bộ được thành lập. Dựa vào những hoạt động trên, Đào Khắc Hùng ra thông tri về việc Tú Kiên và Trần Nguyên Phú đã chấp nhận hợp nhất với VNQDĐ tại Nam Kỳ trên nguyên tắc. Thông tin này được mật thám Pháp nắm được khi thu được cuốn sổ tài liệu của VNQDĐ. Cũng trong thời gian lưu trú tại Nam Kỳ, Nguyễn Ngọc Sơn đã tới Cao Miên (Campuchia) để gặp một người tên là Trần Đinh Sóc, cháu của Ba Liệu (Nguyễn Công Riệu) song không có kết quả.
Chuyến đi của Chu Dưỡng Bình tới Trung Quốc
Cuối tháng 12, Chu Dưỡng Bình[2] đến Quảng Châu, nơi diễn ra cuộc họp về các vấn đề quân sự. Ủy ban ngoại giao dự kiến cầu viện giúp đỡ về quân sự của Phi Long và Phi Hồ, hai nhân vật có ảnh hưởng ở Quảng Tây. Theo tài liệu mà mật thám Pháp thu được, đặc biệt là cuốn sổ ghi chép của những người bị bắt và của Đào Khắc Hùng cho thấy, các nhà lãnh đạo VNQDĐ quan tâm đến việc thắt chặt quan hệ với công dân của các cường quốc nước ngoài. Cuốn sổ của Đào Khắc Hùng ghi: «… 2. Về phía Trung Quốc, ông X… có thể được dùng làm trung gian trong quan hệ cần duy trì với Tú Đại Từ. Những người quê gốc Thất Khê trở về từ Quảng Tây có quan hệ chặt chẽ với hai lãnh tụ Trung Quốc (Phi Long và Phi Hồ) có thể cung cấp thông tin họ. Phi Hồ chỉ huy 7.000 quân và Phi Hùng là 5.000 quân… 5. Ở Xiêm La, có những lãnh đạo chỉ huy người Việt Nam». Phi Long và Phi Hồ được giới thiệu trước các thành viên của Tổng bộ như là các tướng lĩnh và cựu tổng đốc của Quảng Tây. Mong muốn duy trì, thắt chặt quan hệ với những lãnh đạo của các cường quốc bị một số đảng viên VNQDĐ không tán đồng. Không tin tưởng Chu Dưỡng Bình và cho rằng ông này không sang Trung Quốc, Tổng bộ đã quyết định cung cấp đầy đủ phương tiện cho một số đại biểu đi kiểm chứng những báo cáo trên.
Phân bố các chi bộ của VNQDĐ giai đoạn cuối năm 1928 đầu 1929
Kỳ II : Quốc dân Đảng những năm 1928-1929
[1].Việt Nam Quốc dân Đảng, Hoàng Văn Đào, 1970, trang 29-40.
[2] . Tài liệu lưu trữ Pháp ghi là Chu Diên Bình.
Ngọc Nhàn
Việt Nam Quốc dân Đảng qua tài liệu lưu trữ Hải ngoại Pháp.
Kỳ II : Quốc dân Đảng những năm 1928-1929
08:06 PM 17/06/2020
Báo cáo quý I năm 1928 của mật thám Pháp đã liệt Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) vào tầm ngắm theo dõi các đảng chính trị chống Pháp quyết liệt tại Đông Dương, với tiền thân là Nam Đồng thư xã dưới vỏ bọc một hội truyền bá văn hóa.
Biên bản phiên tòa ngày 02 và 3.07.1929
Chủ trương dùng bạo lực ?
VNQDĐ thành lập ủy ban biên soạn sách, tạp chí tuyên truyền nhằm mục đích truyền bá, tuyên truyền tới quần chúng. Đầu tiên là Hồn Cách Mệnh: trong số thứ hai, nội dung đề cập đến việc hành động bằng bạo lực. Một số ấn phẩm đang trong giai đoạn chuẩn bị như bản thông tri của Đào Khắc Hùng, cuốn sách về lịch sử giành độc lập của nước Mỹ, một cuốn sách về chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa đế quốc, cuốn sách viết về người tiên phong trong cách mạng.
Bên cạnh đó, VNQDĐ đẩy mạnh tuyên truyền trong binh lính. Mua chuộc binh lính được xem là một trong những phương cách đánh đuổi quân Pháp, đối tượng nhắm tới là bộ phận chỉ huy các toán quân, những người làm việc liên quan đến thiết bị chiến tranh, tuyên truyền kết nạp họ tham gia hoạt động đấu tranh của đảng nhằm hỗ trợ trang bị quân sự cho các đảng viên khác. Một số chi bộ quân sự được thành lập. Những quân nhân bị bắt thừa nhận tham gia VNQDĐ, nhưng luôn phủ nhận ủng hộ bạo lực và kêu gọi cầm vũ khí, mật thám Pháp khẳng định các điều lệ của VNQDĐ lại cho thấy điều đó. Những chú thích tìm thấy trên sổ ghi chép của Nguyễn Ngọc Sơn ghi khá cụ thể về thiết bị vũ khí, số lượng quân Pháp đóng ở Hà Nội.
Mật thám Pháp đã phục hồi được các báo cáo của Nguyễn Thế Nghiệp bị tiêu hủy trong các vụ bắt bớ, lục soát ở Nam Đồng thư xã. Đó là những tài liệu quân sự, có hướng dẫn về sử dụng lựu đạn. Viên Chánh án Tòa đại hình Brides khẳng định, hoạt động của VNQDĐ không chỉ dừng lại ở mức độ hòa bình, kêu gọi binh lính Việt trong quân đội Pháp nổi dậy cũng như cầu viện giúp đỡ quân sự từ nước ngoài.
Cuộc họp ngày 01/07/1928
Cuộc họp dự kiến diễn ra ở Gia Lâm với sự tham dự của tất cả các đại biểu, nhưng cuối cùng lại được quyết định diễn ra ở Nam Đồng thư xã. Cuộc họp cũng thống nhất cử ba đại biểu đi Xiêm La (Thái Lan) để kết nối liên lạc với các nhóm chí sĩ yêu nước lưu vong lưu trú tại đây. Trên thực tế, ba đại biểu được cử là Nguyễn Ngọc Sơn, Hồ Văn Mịch và Tú Tiềm đã thực hiện nhiệm vụ này từ tháng 6/1928. VNQDĐ quyết định mở các cửa hàng nhằm cung cấp tài chính cho các cuộc ám sát.
Cuộc họp ngày 02/09/1928
Cuộc họp diễn ra ở số 5 đường Sơn Tây (Route de Sơn Tây, Hà Nội) do Nguyễn Thái Học chủ trì. Ông đã khen ngợi 19 đảng viên bất chấp các vụ bắt bớ của Pháp vẫn tới dự họp. Ông kêu gọi các đảng viên hy sinh vì đất nước để một ngày nào đó lá cờ độc lập có thể tung bay trên đất Việt Nam, làm biến mất vĩnh viễn lá cờ của Pháp. Chương trình nghị sự của cuộc họp gồm: cử đại biểu đến Vân Nam, Quảng Châu và Quảng Tây cũng như các vùng biên giới để tiến hành các chiến dịch tuyên truyền ủng hộ đảng. Gửi đại biểu đến gặp Phan Bội Châu để thảo luận các vấn đề tuyệt mật. Thành lập Khách sạn Việt Nam để đại biểu các tỉnh có thể lưu trú trong thời gian ở Hà Nội cũng như tăng thêm nguồn tài chính cho đảng. Thành lập tờ báo xuất bản bằng chữ quốc ngữ, tăng cường xuất bản sách về cách mạng. Yêu cầu con của các đảng viên khi trưởng thành phải gia nhập đảng, tăng mức độ tuyên truyền trong lính bản xứ (khố đỏ và khố xanh). Phân phát bản tổng kết hoạt động của đảng trong tháng 7 và 8. Cũng trong cuộc họp này, số đầu tiên của Hồn Cách Mạng đã được phát cho các đại biểu nhưng các đại biểu đánh giá là có nội dung không phù hợp với trình độ của đa số đảng viên.
Cuộc họp ngày 01/11/1928
Cuộc họp diễn ra tại ngõ Bourrin (phố Yên Ninh ngày nay, Hà Nội) do Nguyễn Thái Học chủ trì. Ông đã quyết định quyên góp tiền để đưa các đại biểu sang Trung Quốc. Hội nghị bàn về những đảng viên được cử đi sang Trung Quốc. Báo cáo tài chính tháng 9 và 10 không hoàn tất và phiên họp bất thường được quyết định diễn ra vào ngày 11/11.
Cuộc họp ngày 11/11/1928 tại Khách sạn Việt Nam
Trong cuộc họp này, ba đại biểu đã được cử sang Trung Quốc và các đảng viên được kêu gọi quyên góp tiền để chi trả cho chuyến đi này. VNQDĐ cũng quyết định gửi 100 đồng hỗ trợ Nguyễn Ngọc Sơn quay về Bắc Kỳ. Các đảng viên thống nhất đóng 5% lương hoặc thu nhập. Cuộc họp cũng ca ngợi lòng dũng cảm của các đảng viên đương đầu với những hiểm nguy trong hành động cách mạng, tổng kết tài chính tháng 9 và 10 của đảng, chương trình hành động. Tạp chí Hồn Cách Mạng số thứ 2 với những thay đổi về nội dung cho phù hợp được phát cho các đại biểu dự họp. Chính trong cuộc họp này mà kế hoạch ám sát Toàn quyền Đông Dương Pasquier đã được đưa ra. Sự sụp đổ của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tức Thủ tướng) Pháp Poincaré xoa dịu các lo ngại của các đảng viên của Tổng bộ. Họ cho rằng sự kiện này sẽ ngăn viên Toàn quyền rời khỏi Đông Dương.
Cuộc họp ngày 25/12/1928
Cuộc họp diễn ra tại phố Charron kéo dài (phố Mai Hắc Đế ngày nay, Hà Nội), vẫn do Nguyễn Thái Học chủ trì với sự tham dự của các đại biểu của nhiều tỉnh. Điều lệ đảng đã có những sửa đổi, được sao chép và phân phát cho các đảng viên dự họp. Tổng bộ cũ kết thúc nhiệm kỳ và Tổng bộ mới ra đời phù hợp với điều lệ vừa được sửa đổi. Các ban Lập pháp và Hành pháp cần phải được thành lập. Cuộc họp tiến hành bầu thành viên của ban Lập pháp, sau đó chỉ định các thành viên của Ủy ban thuộc ban Hành pháp. Các đại biểu khác được phân bổ về hai bộ. Trước khi giải tán, Tổng bộ cũ đã đọc các báo cáo về tình hình của đảng, dự đoán về một sự can thiệp từ bên ngoài, những quan hệ cần duy trì để đạt được các mục tiêu: Nguyễn Thái Học và Tú Tiềm được chỉ định để hoàn thành sứ mệnh bên Trung Quốc. Cuối cuộc họp, tổng bộ cũ đã trao lại quyền cho tổng bộ mới và cuộc họp tiếp theo dự kiến diễn ra ngày 01/01/1929.
Cuộc họp ngày 01/01/1929 vẫn tại địa điểm cũ. Đây là cuộc họp của Ban Hành pháp và Lập pháp. Ban Hành pháp do Nguyễn Khắc Nhu chủ trì, Lê Xuân Hy là Phó chủ tịch. Ban Hành pháp do Nguyễn Thế Nghiệp làm Chủ tịch, Lê Văn Phúc là Phó chủ tịch. Nguyễn Khắc Nhu đọc diễn văn nói về tình hình đất nước bị quân Pháp chiếm đóng, mọi tự do bị bóp nghẹt và đảng phải sử dụng mọi sức mạnh để phát động cách mạng. Nhiều câu hỏi được đưa ra trong chương trình nghị sự liên quan đến vấn đề tài chính như việc gửi 2.000 đồng cho Nguyễn Thái Học và Tú Tiềm đang ở Trung Quốc. Nguyễn Thế Nghiệp giải thích về các quy chế liên quan đến việc phân chia Tổng bộ thành hai ban. Mục đích của biện pháp này là dẫn tới nguyên tắc phân chia quyền lực. Các quyết định khác được xem xét kỹ lưỡng. Chương trình nghị sự do chủ tịch ban Lập pháp đưa ra gồm :
1. Xem xét học thuyết Tam dân; 2. Xem xét các kỷ luật. Nguyễn Thế Nghiệp cũng trình bày một số vấn đề khác : quy chế quy định cách thức hợp tác giữa hai ban, xem xét tình hình của khách sạn, các khoản vay cần tiến hành. Ông cũng nói về chuyến đến sắp tới của Toàn quyền Đông Dương cũng như các vấn đề xoay quanh chủ đề này. Hoàng Văn Tùng cho biết đã xem xét đến vấn đề đó, nhưng cần giữ bí mật ở mức cao nhất có thể, ngay cả trong các cuộc họp của đảng.
Vừa trở về từ Nam Kỳ, Nguyễn Ngọc Sơn, đã báo cáo kết quả của các hoạt động tuyên truyền, những kết nối liên lạc với Nguyễn An Ninh, Trần Nguyên Phú và Nguyễn Đinh Kiêm.
Cuộc họp ngày 20/01/1929
Cuộc họp được tiến hành tại nhà của Hoàng Thúc Gị, phố Goussard (phố Thái Phiên ngày nay, Hà Nội). Chu Dưỡng Bình, người từng được cử sang Trung Quốc để liên lạc với một số lãnh đạo Trung Quốc báo cáo kết quả công việc. Nguyễn Thế Nghiệp và một số đại biểu tham dự nêu câu hỏi. Nguyễn Thế Nghiệp muốn thông qua Phan Bội Châu để tiếp cận với các lãnh đạo Trung Quốc. Trước tình hình tài chính đáng lo ngại của Khách sạn Việt Nam, ông kêu gọi các đảng viên quyên góp tiền để duy trì sự tồn tại của nhà nghỉ.
Cuộc họp ngày 02/02/1929, cũng vẫn tại nhà Hoàng Thúc Gị
Đây là cuộc họp cuối cùng, với vấn đề chính được nêu ra là việc quản lý kém Khách sạn Việt Nam của Hoàng Văn Đào tức Mỹ Hữu Đào. Một số đảng viên đề nghị thành lập một số nhà nghỉ tự quản mỗi tỉnh. Có chia rẽ trong nội bộ đảng.
Nguyễn Thái Học, Nguyến Thế Nghiệp dự kiến việc kinh doanh nhà nghỉ là nguồn thu thường xuyên của đảng, để không phải quyên góp tiền từ các đảng viên. Đề nghị này từng được trình lên trong cuộc họp hồi tháng 7/1928 và đã được chấp nhận dù có những phản đối. Tháng 9/1929 Nguyễn Thái Học đi Thanh Hóa và quyết định giao cho Hoàng Văn Đào làm chủ nhà nghỉ. Khách sạn Việt Nam mở cửa từ ngày 26/10 tại phố Hàng Bông nhưng Hoàng Văn Đào bị ban quản trị từ chối thừa nhận là người đứng đầu nhà nghỉ. Nguyễn Thái Học buộc phải tìm người thay thế là Hoàng Văn Đào. Thời gian đầu, nhà nghỉ kinh doanh có lãi, nhưng sau đó bắt đầu thua lỗ. Nguyên nhân của những thua lỗ được thu ngân Nguyễn Đức Lung viết trong thư gửi tỉnh bộ Hà Nội như sau: Nhà nghỉ đang nợ nần, quỹ trống không, không có khách, trước đây, các ngày chủ nhật và thứ năm đều thu về hơn 200 đồng, nhưng nay không đến 100 đồng. Không có lãi : mỗi bữa ăn giá 0,90 đồng, trong khi chi phí hết 0,70 đồng, không kể cà phê. Chúng tôi không biết lấy tiền ở đâu để trả tiền thuê nhà, điện, nước, nhân công… Các nhân viên không tận tụy, nghỉ làm từ 9h tối vì họ do các đảng viên chọn, các nhân viên nhà bếp hoang phí, người quản lý trích tiền hoa hồng quá cao, ông ấy lấy thực phẩm từ Thanh Hóa mà không quan tâm đến việc chúng đắt hơn so với ở Hà Nội. Cựu thu ngân Nguyễn Văn Kính mắc nhiều sai phạm. Các thành viên của VNQDĐ đến ăn nhưng không trả tiền, không chỉ 3,4 lần mà có khi đến nhưng lại từ chối thanh toán chi phí phải trả. Các phòng nghỉ không đáp ứng được mục đích sử dụng, mọi chi tiêu không được các đảng viên thanh toán đầy đủ. Mỗi người điều hành nhà nghỉ theo cách của họ. Hoàng Văn Đào và Hoàng Văn Tùng đối xử không tốt đối với các đảng viên làm việc tại nhà nghỉ. Một số đảng viên yêu cầu quỹ của đảng trả tiền cho các chi tiêu cá nhân của họ. Nhà nghỉ hiện bị nợ hơn 2.000 đồng tiền nợ cần phải thu về phần lớn trong đó là không thể. Khách sạn Việt Nam là nguồn thu chính của VNQDĐ. Trong tổng số tiền 10.000 đồng quyên góp để lập nhà nghỉ này, 6.000 đồng đã tiêu hết trước khi khai trương.
Nguồn thu của VNQDĐ mỗi quý ước chừng 2.000 đồng và ngày 01/01/1929, đảng ra quyết định quyên góp tiền bằng cách trích 5% lương hoặc thu nhập của các đảng viên. Khách sạn Việt Nam được lập ra nhằm cung cấp tài chính cho hoạt động tuyên truyền, nhưng trên thực tế, nó lại ngốn phần lớn nguồn tài chính của đảng và duy trì tồn tại nhờ vào tiền quyên góp tự nguyện từ đảng viên.
Cũng trong cuộc họp, người soạn thảo chương trình hành động của VNQDĐ là Ngô Văn Triện ( tức Trúc Khê) đã nêu ra những điều kiện của một nhà tuyên truyền giỏi : có thể chất, trí tuệ và đạo đức tốt. Ông cũng đưa ra những lời khuyên trong việc tuyển thêm đảng viên, xem xét cá nhân cũng như cách tiếp cận tiếp xúc.
Thư của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Piétri gửi Toàn quyền Đông Dương ngày 17.12.1929 về việc một số đảng viên VNQDĐ tìm cách đi sang Nga
Phiên tòa ngày 02/07/1929 xét xử các đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng
Ngày 29/02/1929, tên trùm mộ phu Bazin bị ba đảng viên của VNQDĐ là Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Đức Lung (Ký Cao) ám sát. Trong bốn tháng sau đó, Pháp đã tiến hành bắt bớ 227 người, ba người trốn thoát. Cũng theo báo cáo này, nhà tù Hỏa Lò - nơi giam giữ 227 tù nhân không đáp ứng được các điều kiện giam giữ cần thiết số lượng tù nhân chính trị lớn như vậy. Bản báo cáo của Brides khẳng định toàn bộ 227 người trên đều tham gia các phong trào đấu tranh chống Pháp, phần lớn trong số những người bị Pháp kết án làm việc trong chính quyền Pháp hoặc bản xứ :
Thư ký các tòa Công sứ : 8 người
Giáo viên bản xứ trường tư thục : 4 người
Giáo viên dạy chữ Hán : 2 người
Sinh viên : 6 người
Nghị viên, hội viên, nhân viên trong chính quyền bản xứ : 13 người
Phóng viên : 4 người
Nhân viên : 10 người
Thư ký tại các cơ quan chính quyền khác : 28 người
Giáo viên dạy tại các cơ sở công : 36 người
Địa chủ, làm nông, thầy lang : 37 người
Buôn bán, thợ thủ công và các nghề khác : 39 người
Quân đội : 40 người
Ngày 02 và 03/07/1929, Tòa Đại hình Bắc Kỳ tuyên án 227 người bị bắt, 147 người trong số đó được miễn tố do vai trò của họ trong các cuộc đấu tranh, 78 người bị kết án. Tình hình sức khỏe của Hồ Văn Mịch rất yếu, ông ho ra máu và được chuẩn đoán chỉ còn sống được ít ngày .
Kết án vắng mặt :
Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Dương Hạc Đình : 20 năm tù giam ;
Nguyễn Tường Loan : 10 năm tù giam
Nguyễn Như Hy : 5 năm tù giam
Nguyễn Văn Viên (Hà Nội) : 15 năm tù giam
Nguyễn Văn Viên (Bắc Ninh): 10 năm tù giam
Kết án :
Phạm Tuấn Tài : 15 năm tù giam
Hoàng Thúc Gị : 10 năm tù giam
Nguyễn Ngọc Sơn : 10 năm tù giam
Lê Văn Phúc : 10 năm tù giam
Tương Đan Bảo[1]: 10 năm tù giam
Nguyễn Thế Nghiệp : 10 năm tù giam
Đào Khắc Hùng (tức Đào Nam Hinh, Đào Hinh, Đào Hinh Nam) : 10 năm tù giam
Nguyễn Thái Trác : 5 năm tù giam
Hồ Văn Mịch : 5 năm tù giam
Hoàng Trác : 10 năm tù giam
Hoàng Phạm Trân (tức Nhượng Tống), Lê Xuân Hy (tức Cử Hy), Nguyễn Văn Năng, Trần Văn Môn, Đặng Xuân Tiếp, Phạm Hữu Phùng, Nguyễn Công (Ngọc) Riêu, Hoàng Hồ, Lê Văn Chu, Đoàn Mạnh Chế, Trần Bích, Phạm Duy Kiêu (tức Hàn Kiêu), Nguyễn Danh Doi, Đặng Đình Hướng, Nguyễn Văn Đàm : 5 năm tù giam
Lê Thành Vị, Chu Dưỡng Bình, Phạm Hữu Chinh, Phạm Tiềm, Trương Văn Tân, Đặng Đình Diên, Nguyễn Văn Kệch, Đoàn Tiệp (tức Phó Tiệp), Nguyễn Văn Khoa (có sách ghi là Khác), Đào Danh Hợi, Đào Viết Chuyên, Trần Hưng Long, Đặng Ngọc Như (tức Giáo Như), Nguyễn Canh Hoan, Nguyễn Trọng Phú, Trần Bình Kim, Nguyễn Đăng Đóa, Phùng Văn Đê : 5 năm tù giam
Nguyễn Hữu Đạt, Hà Đức Vong, Hoàng Văn Đao, Chu Văn Phác, Nguyễn Văn Loan, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Kim Ngữ, Vũ Đức Hiền, Trần Xuân Ngưỡng, Vũ Tá Chu, Trần Văn Chinh, Ngô Thúc Địch, Lê Văn Quyền, Đặng Minh Phụng, Lê Đức Phong, Liễu Bá Dung, Nguyễn Văn Vỵ, Nguyễn Duy Cương, Phạm Hữu Nữu, Phạm Liên Hoa, Ngô Văn Triên, Trịnh Thế Hưng, Lê Trọng Dang, Nguyễn Văn Tôn, Lê Văn Tô, Nguyễn Thư Hoàng, Lê Duy Châu, Nguyễn Văn Tâm, Phó Đức Chính, Nguyễn Đức Phương, Mai Ngọc Thiệu (Cả Sâm), Nguyễn Huy Viên, Phạm Minh Đức : 2 năm tù giam
Nguyễn Hữu Đạt, Chu Dưỡng Bình, Phạm Hữu Chinh, Phạm Tiềm, Hà Đức Vương, Nguyễn Văn Loan, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Kim Ngữ, Vũ Đức Hiền, Trần Xuân Ngưỡng, Đặng Đình Diên, Trần Văn Chinh, Ngô Thúc Địch, Lê Văn Quyền, Đặng Minh Phụng, Lê Đức Phong, Liễu Bá Dung, Phạm Hữu Nữu, Ngô Văn Triện, Trịnh Thế Hưng, Lê Văn Tô, Nguyễn Thư Hoàng, Nguyễn Văn Tâm, Phó Đức Chính, Nguyễn Đức Phương, Nguyễn Huy Viên tạm thời được hoãn thi hành án.
Mật thám Pháp cũng cho rằng VNQDĐ đứng sau vụ ám sát Trịnh Thị Nhu và Trịnh Thị Uyển ở Hải Phòng. Hai người này bị nghi ngờ đã phản bội VNQDĐ và vụ ám sát này có nhiều điểm khá tương đồng với vụ ám sát trùm mộ phu Bazin.
Viên Chánh án Tòa đại hình Bắc Kỳ đánh giá VNQDĐ đã hoạt động khá thành công, khi kết nạp nhiều đảng viên là viên chức làm việc trong chính quyền Pháp hay chính quyền bản xứ. Hơn thế, chỉ trong thời gian ngắn (hơn 1 năm), Nguyễn Thái Học và các cộng sự của ông đã biến tổ chức quy mô nhỏ là Nam Đồng thư xã thành một đảng chính trị chống Pháp có quy mô lớn, với các ban Lập Pháp, Hành pháp, Tòa án tối cao. Tháng 12/1928, mật thám Pháp ước tính VNQDĐ khoảng 800 đảng viên thuộc 70 chi bộ và đến tháng 2/1929, khoảng 1540 đảng viên thuộc 120 chi bộ.
Danh sách các bắt bớ đảng viên VNQDĐ tại các tỉnh
[1] Tương Đan Bảo , 21 tuổi, là con trai của Tương Văn Tu và Trịnh Thị Tiến, thư ký Khách sạn Việt Nam, sinh ở Hải Phòng, ngụ tại số 38 Hàng Bông (Hà Nội).
Ngọc Nhàn
Việt Nam Quốc dân Đảng qua tài liệu lưu trữ Hải ngoại Pháp.
Kỳ III: Phiên tòa xét xử tại Yên Bái sau thất bại của cuộc tổng khởi nghĩa
28/06/2020
Chủ nhật ngày 9/02/1930, Yên Báy đang chìm trong giấc ngủ đêm, nhưng đó chỉ là bề ngoài bởi lửa cách mạng đang nhen nhóm và sẽ bùng lên trong những thời khắc sau đó. Một Yên Bái đêm rực lửa sắp bắt đầu.
Áp phích kêu gọi mít tinh ủng hộ những người bị kết án ở Yên Bái, nguồn ANOM
Điện mật của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương về việc xử tử một số đảng viên VNQDĐ ngày 09.03.1931
Khởi nghĩa Yên Báy đêm 09 rạng ngày 10/02/1930
VNQDĐ quyết định tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa đồng loạt ở một số tỉnh Bắc Kỳ vào đêm 9 rạng sáng ngày 10/2/1930. Cuộc tổng khởi nghĩa tại Yên Báy do Nguyễn Văn Khôi (Thanh Giang) và Nguyễn Nhật Thân lãnh đạo; Sơn Tây do Phó Đức Chính; Hưng Hoá và Lâm Thao do Nguyễn Khắc Nhu; Phả Lại và Hải Dương do Nguyễn Thái Học; Hải Phòng và Kiến An do Vũ Văn Giản tức Vũ Hồng Khanh, và Hà Nội do Đoàn Trần Nghiệp lãnh đạo.
VNQDĐ quyết định chọn Yên Báy vì đây là vị trí quan trọng trên tuyến đường nối Hà Nội với Lào Cai và Vân Nam. Đây cũng là nơi đóng quân của 4 đại đội thuộc tiểu đoàn số 2, trung đoàn lính khố đỏ số 4.
Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa ở Yên Báy, hai đảng viên Nguyễn Thị Giang và Nguyễn Thị Bắc được phái tới thành lập và tổ chức binh đoàn Yên Báy, đồng thời gây dựng cơ sở trong lực lượng lính khố đỏ tại đây. Một chi bộ VNQDĐ gồm binh lính người Việt trong quân đội Pháp được thành lập. Lính khố xanh và chi bộ tại Xuân Lũng (Phú Thọ) hứa ủng hộ và tham gia khởi nghĩa. Tuy nhiên, sắp tới ngày khởi nghĩa thì người chỉ huy là Quản Cầm bị bệnh và chữa trị tại bệnh viện Lanessan nên cử Ngô Hải Hoàng thay thế.
Theo mật báo của Công sứ Yên Báy là De Bottini gửi Toàn quyền Đông Dương Pasquier, đêm ngày 9/02/1930[1], ngay khi có kèn hiệu tắt đèn ở trại lính, lực lượng nổi dậy đã đột nhập và hội với lực lượng binh lính nổi dậy bên trong. Mũi quân thứ nhất và thứ hai chiếm đánh hai khu nhà ở của đại đội số 5, 6, 7 và 8 (hay còn gọi là đồn Cao và đồn Dưới) thuộc Trung đoàn lính khố đỏ Bắc Kỳ số 4. Mục đích là tiêu diệt các chỉ huy người Pháp, chiếm kho vũ khí. Tại đồn Cao, hạ sĩ Cuneo và trung sĩ Chavalier bị giết. Tại đồn Dưới, trung sĩ Damour bị giết, trung sĩ nhất Renaudet, trung sĩ Rolland và hạ sĩ Trotoux bị thương nặng. Trung sĩ nhất Bouhier bị đâm 14 nhát và trúng 4 viên đạn. Khoảng 5-6 lính khố đỏ bị thương. Mũi tấn công thứ ba đánh thẳng vào khi nhà ở của các sĩ quan Pháp nằm giữa hai khu nhà ở trên. Chỉ trong thời gian ngắn, hai sĩ quan Pháp bị giết : trung úy Robert và đại úy Jourdan, hai sĩ quan Pháp khác bị thương là đại úy Gainza và trung úy Reul. Tên tiểu đoàn trưởng, thiếu tá Le Tacon đã chốt chặt ở đồn Cao và đánh trả lực lượng tấn công. Quân nổi dậy dần rơi vào bất lợi do chỉ có ít lính khố đỏ theo còn lính khố xanh không những không theo như đã hứa mà còn chống lại.
Đến 7 giờ sáng ngày 10/02, Tacon chỉ huy 3 đạo quân Pháp do đại úy Roccas, thiếu úy Varenne và trung sĩ Ollivier cầm đầu phản công. Trước sức tấn công mạnh của đối phương, nghĩa quân thất bại và dần tan rã. Quân Pháp tái chiếm được lại toàn bộ trại lính, bắt giữ 4 cai và 22 lính khố đỏ cùng 25 người tham gia khác. Phía quân Pháp, thiệt hại là 2 sĩ quan, 3 hạ sĩ quan, 6 cai và lính khố đỏ bị giết, 2 sĩ quan, 4 hạ sĩ quan, 4 cai và lính khố đỏ bị thương, 8 lính khố xanh mất tích. Theo báo cáo của Tacon, có khoảng 50 trong tổng số 600 lính khố đỏ đóng tại Yên Báy đã tham gia cuộc khởi nghĩa. Vào lúc 9h30, Công sứ Yên Bái gửi điện tín thông báo cuộc khởi nghĩa đã gần như bị dập tắt, lính Pháp, lính khố xanh, khố đỏ đi tuần trên các phố và khu vực lân cận, một máy bay được điều từ Hà Nội lượn trên bầu trời Yên Báy nhằm kiểm soát tình hình.
Báo cáo mật số 7880 ngày 18.6.1930 về vụ hành quyết 13 đảng viên VNQDĐ tham gia khởi nghĩa Yên Báy
Danh sách những người bị kết án sau khởi nghĩa Yên Báy
Các tỉnh trung du và miền xuôi
Ba giờ sáng ngày 10/02, Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy quân đánh vào thị xã Hưng Hóa nhưng không đạt kết quả. Sáng ngày 10/02, Pháp điều 50 lính lê dương từ PhúThọ phản công, quân khởi nghĩa bị đánh tan, Nguyễn Khắc Nhu bị bắt và sau đó tự sát. Tại phủ Lâm Thao, cánh quân do Bùi Xuân Mai (tức Lý Mai) chỉ huy nhanh chóng làm chủ, truy đuổi tri phủ Đỗ Kim Ngọc, treo cờ, đốt lửa báo tin thắng lợi. Sáng hôm sau, quân Pháp do Phó công sứ Phú Thọ là Chauvet chỉ huy tấn công quyết liệt, tái chiếm phủ, nghĩa quân phải rút vào các làng lân cận, một số bị bắt, trong đó có Bùi Xuân Mai. Do kế hoạch bị lộ từ trước nên cuộc tấn công vào thị xã Sơn Tây tại đồn Chùa Thông cũng không giành được thắng lợi. Sáng ngày 10/02, Phó Đức Chính bị bắt.
Đêm ngày 14 rạng sáng ngày 15/02/1930, VNQDĐ tiến hành khởi nghĩa tại Phả Lại, Vĩnh Bảo, Kiến An, Phụ Dực. Tại Vĩnh Bảo (Hải Dương), Trần Quang Diệu chỉ huy quân khởi nghĩa từ làng Cổ Am tiến lên tấn công huyện lỵ, giết Tri huyện Hoàng Gia Mô rồi tự giải tán. Tại Phụ Dực (Thái Bình), nghĩa quân đánh chiếm được phủ huyện, đốt giấy tờ sổ sách nhưng do lực lượng không đủ nên tự giải tán.
Kế hoạch khởi nghĩa tại Kiến An bị lộ, Công sứ tỉnh Kiến An là Saillenfest de Soudeval cùng phó sứ là L. Gorrec đã ra lệnh bắt giam toàn bộ lính khố đỏ, tổ chức canh phòng cẩn mật nên quân khởi nghĩa tự giải tán. Quân khởi nghĩa cũng gặp thất bại ở Đạo quan binh Phả Lại.
Tại Hà Nội, Đoàn Trần Nghiệp chỉ huy đội cảm tử gồm có Nguyễn Văn Liên, Mai Duy Xứng, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Quang Triệu và Nguyễn Bá Tâm, tiến hành ném bom ở năm địa điểm ở Hà Nội, trong đó có nhà Chánh mật thám Arnoux: 2 trái; Hỏa Lò: 8 trái; Sở Sen đầm: 2 trái. Bom nổ nhưng không có ai thiệt mạng. Đoàn Trần Nghiệp bị truy nã khắp nơi, sau đó thì bị bắt tại Nam Định và bị hành quyết tại Hà Nội.
Ngày 27 /02/1930, 15 người của quân khởi nghĩa đã bị đem ra tòa xử và 4 trong số đó bị tử hình.
Tờ Avenir du Tonkin số ra ngày 27.03.1930
Phiên tòa ngày 27/03/1930 tại Yên Báy
Sau khi một loạt lãnh đạo của VNQDĐ bị bắt, ngày 23/3/1930, thực dân Pháp đưa 87 người tới Yên Báy xử. Những người bị kết án và có liên quan bị giam giữ tại nhà tù Yên Báy dưới sự canh gác cẩn mật của lính lê dương[2]. Có 15 người bị kết án, 87 người liên đới, tổng cộng là 102 tù nhân. Ngày 27/3, đoàn luật sư người Pháp gồm luật sư Mandrette (Văn phòng Kỷ luật luật sư bào chữa), hai luật sư Bona, Mayet (Văn phòng luật sư Mourlan và Pascalis), luật sư Maistre (Văn phòng luật sư Mansohn) đi tàu đến Yên Báy. Phiên tòa diễn ra trong hai ngày do viên quan cai trị dân sự hạng nhất-thanh tra các sự vụ chính trị ở Bắc Kỳ Poullet Osier làm chủ tịch, trợ tá là Công sứ Yên Báy Bottini, thẩm phán: đại úy Guillaumin, lục sự: Stalter và thông ngôn: Duvillier. Sau phiên tòa tại Yên Báy, Tòa đại hình Bắc Kỳ mở tiếp phiên tòa tại Phú Thọ và Kiến An để xét xử những người tham gia khởi nghĩa tại hai địa phương này[3].
Trong phiên thẩm vấn ngày thứ hai. Nguyễn Thị Bắc (hay còn được gọi là Cô Bắc) khẳng khái : «Tôi là người cách mạng bởi vì tôi là người Việt Nam ». Phó Đức Chính hiên ngang trả lời : «Trong đảng của chúng tôi, không có ai là thủ lĩnh, chúng tôi bình đẳng. Tôi nhận trách nhiệm trong vụ tấn công ở Yên Báy ». Bùi Tử Toàn thừa nhận là liên lạc viên, tham gia sản xuất bom cũng như vụ tấn công ở Yên Báy, còn Nguyễn Văn Khôi nhận là chỉ huy lính khố xanh tham gia khởi nghĩa. Lê Xuân Huy khai tham gia VNQDĐ, cùng với Bùi Xuân Mai sản xuất bom ở Xuân Lũng và Sơn Dương. Bị Pháp buộc tội là một trong những người tham gia tích cực trong cuộc khởi nghĩa, Nguyễn Hữu Liên (hay Nguyễn Như Liên, tức Ngọc Tỉnh) nhận đã kêu gọi lính khố xanh tham gia khởi nghĩa.
Ngày 03/05/1930, Toàn quyền Đông Dương Pasquier gửi điện cho Thống sứ Bắc Kỳ để thông tin về sắc lệnh ngày 01/05/1930 của Tổng thống Pháp quyết định ân xá một số tù nhân[4] bị kết án sau khởi nghĩa Yên Báy, trong đó ghi rõ :
Giảm từ án tử hình xuống tù khổ sai chung thân đối với : Nguyễn Văn Thịnh (cai), Nguyễn Văn Hồng (lính khố đỏ), Bùi Văn Bôn (lính khố đỏ).
Giảm từ án tử hình xuống lưu đày biệt xứ đối với : Đặng (Trần) Văn Hợp (thầy đồ), Phan Cao Kiên (buôn bán), Đặng Văn Trươc (làm nông).
Giảm từ án tử hình xuống đi đày đối với : Nguyễn Thế Khoat (làm nghề bán thuốc), Bùi Văn Bồi (tài liệu lưu trữ Pháp ghi là Hồi) (lính khố đỏ), Đặng Văn Tinh (buôn bán).
Duy trì án tử hình đối với Nguyễn Thanh Thuyết (cai-y tá), Đặng Văn Tiếp(Tiệp), (nguyên là lính khố đỏ), Ngô Hải Hoàng (cai), Đặng Văn Luông (làm nông). Bốn người bị hành quyết tại Yên Bái rạng sáng ngày 08/5/1930.
Điện mật đề ngày 12/04/1930 của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Thống đốc Nam Kỳ thông báo, 4 hiến binh người Âu và bản xứ cùng 12 lính khố xanh được lệnh áp giải từ nhà tù Hỏa Lò ra ga Hà Nội 50 đảng viên của VNQDĐ bị Tòa đại hình Yên Báy kết án tù khổ sai để lên tàu hỏa xuống Hải Phòng. Họ tiếp tục bị dẫn lên tàu « Claude Chappe », tàu nhổ neo rời cảng lúc 4 giờ sáng ngày 10/04/1930 đến Côn Đảo.
Ngày 16/6/1930, 13 nghĩa sĩ gồm Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Bùi Tử Toàn, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Hà Văn Lạo, Đào Văn Nhít, Ngô Văn Du, Nguyễn Đức Thịnh (tài liệu lưu trữ Pháp ghi là Văn Thịnh), Nguyễn Văn Tiềm, Đỗ Văn Sứ (trong tài liệu lưu trữ Pháp ghi Văn Tứ), Bùi Văn Cửu (tài liệu lưu trữ Pháp ghi là Nguyễn Văn Cửu), Nguyễn Như Liên (Ngọc Tỉnh) bị áp giải từ nhà tù Hỏa Lò lên Yên Báy dưới sự áp tải của viên thanh tra phụ trách sự vụ chính trị Servoise để thi hành án chém đầu diễn ra vào lúc 5 giờ10 đến 6 giờ sáng ngày 17/6. Theo báo cáo ngày 18/6/1930 của Chánh mật thám Bắc Kỳ gửi Thống sứ Bắc Kỳ và Giám đốc Sở Liêm Phóng Đông Dương, máy chém được dựng tại khu đất gần khu nhà ở của lính khố xanh. Một hàng rào bảo vệ gồm lính lê dương, lính khố đỏ và cảnh sát đã được huy động. Lần lượt từng nghĩa sĩ bị một toán lính lê dương áp giải ra máy chém trước sự chứng kiến của Công sứ De Bottini. Nguyễn Như Liên là người bị hành quyết đầu tiên, Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Học là hai người bị hành quyết cuối cùng. Cai Thuần, người thứ 11 bị hành quyết cách máy chém vài mét đã hô to « Việt Nam » và bị vài tên linh lê dương xông tới bịt miệng. Phó Đức Chính trước khi lên máy chém đã hô to «Việt Nam Vạn Tuế ». Nguyễn Thái Học là người cuối cùng bước lên máy chém. Ông lướt mắt nhìn những người tới xem vụ hành quyết, các toán lính Pháp, lính khố xanh và máy chém rồi mỉm cười. Ông cũng hô to đầy nhiệt huyết «Việt Nam Vạn Tuế ».
Khởi nghĩa Yên Báy thất bại nhưng đã gây được tiếng vang lớn, tờ l’Humanité (Nhân đạo) của Pháp, số ra ngày 06/03/1930 đã gọi những bản án xử tử, khổ sai, đi đày mà thực dân Pháp tuyên cho những nghĩa sĩ của VNQDĐ là « tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp » đối với những nhà cách mạng Đông Dương.
[1]. Yên Báy –Đêm rực lửa (La nuit rouge à Yên Bay), Bốn Mắt, Hà Nội, 1931, trang 9-24.
[2].TờTương lai Bắc Kỳ (Avenir du Tonkin), số ra ngày 27/03/1930.
[3].TờNgười bạn nhân dân (Ami du Peuple) số ra ngày 01/04/1930.
[4]. Tên của một số đảng viên bị kết án không được tra cứu đầy đủ do khi bị Pháp thẩm vấn, nhiều đảng viên khai sai tên hoặc khai bí danh để tránh liên lụy đến những người khác, theo cuốn Việt Nam Quốc dân đảng của tác giả Hoàng Văn Đào.
Ngọc Nhàn
Không có nhận xét nào