Header Ads

  • Breaking News

    VNCS Giáo dục khai phóng - Kỳ 2

    Lợi Phan Mai

    24/6/2026

    “...Một bài phân tích trên tạp chí giáo dục quốc tế cũng chỉ ra gốc rễ: các đặc điểm sư phạm của giáo dục khai phóng tự thân không mang màu sắc chính trị, nhưng bản thân từ “khai phóng” hàm nghĩa tự do và quyền lựa chọn – những giá trị không được mọi nền chính trị chấp nhận như nhau, nên rất dễ bị gắn ngầm với hệ giá trị tự do kiểu phương Tây, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn vốn nhạy cảm hơn khoa học kỹ thuật”.

    TBT Tô Lâm và sự tái sinh trong kỷ nguyên vươn mình

    Sau gần nửa thế kỷ ít được nhắc tới trong văn bản chính sách cấp cao, “giáo dục khai phóng” trở lại diễn đàn chính trị Việt Nam từ năm 2025, gắn liền với cá nhân Tổng Bí thư Tô Lâm – không chỉ qua phát ngôn, mà còn qua một loạt hành động thể chế cụ thể, đứng đầu là Nghị quyết 57-NQ/TW. 

    Nhưng lần tái sinh này cũng vấp ngay những phản ứng dè dặt, có gốc rễ từ chính thất bại của lần thử nghiệm trước đó vào thập niên 1990.

    1. Bối cảnh của sự tái sinh

    Khác hẳn năm 1945, bối cảnh năm 2025-2026 là bối cảnh của một quốc gia đã qua gần bốn mươi năm Đổi mới, đạt tăng trưởng kinh tế liên tục nhưng đứng trước nguy cơ mắc kẹt ở “bẫy thu nhập trung bình”. 

    Về kinh tế, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, trong khi năng lực công nghệ lõi (bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn) còn phụ thuộc nước ngoài. 

    Về chính trị, văn kiện Đại hội XIV và các phát biểu của Tổng Bí thư liên tục dùng cụm “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” để định danh giai đoạn phát triển mới, đặt khoa học – công nghệ – đổi mới sáng tạo vào vị trí động lực hàng đầu. 

    Về xã hội, một thế hệ trẻ lớn lên cùng internet, mạng xã hội và làn sóng khởi nghiệp công nghệ đang tạo áp lực buộc giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận, không thể tiếp tục mô hình học để thi, học để nhớ.

    Khung tư tưởng nền cho toàn bộ làn sóng này được đặt ra trong bài viết “Tương lai cho thế hệ vươn mình” của Tổng Bí thư Tô Lâm, xác lập mục tiêu xây dựng một thế hệ trẻ “bản lĩnh, trí tuệ, hội nhập toàn cầu nhưng vẫn giữ bản sắc dân tộc”.

    2. Các phát ngôn trực tiếp về “giáo dục khai phóng”

    Trong vòng tám tháng, cụm từ “giáo dục khai phóng” xuất hiện trong ít nhất hai phát biểu chỉ đạo quan trọng của Tổng Bí thư Tô Lâm, ở hai bối cảnh khác nhau nhưng cùng logic.

    Tại Đại hội Đảng bộ TP.HCM nhiệm kỳ 2025-2030 (14-10-2025), Tổng Bí thư nêu: TP.HCM cần hướng tới nền giáo dục khai phóng, khuyến khích sáng tạo, bồi dưỡng tinh thần khởi nghiệp, đặt cạnh yêu cầu bảo đảm công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Việc ràng buộc trực tiếp giữa “khai phóng” và “công bằng” cho thấy chủ đích tránh để khái niệm này trôi dạt thành đặc quyền của một tầng lớp tinh hoa đô thị.

    Tại Lễ kỷ niệm 120 năm Đại học Quốc gia Hà Nội (16-5-2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị nhà trường xây dựng “triết lý giáo dục hiện đại, quản trị tiên tiến và môi trường học thuật khai phóng”, gắn trực tiếp với việc hoàn thiện Khu đô thị đại học Hòa Lạc và hệ sinh thái đào tạo – nghiên cứu – công nghệ – đổi mới sáng tạo.

    3. Hành động thể chế tương đồng: Nghị quyết 57-NQ/TW

    Điều khiến lần tái sinh này khác về chất so với các phát ngôn đơn lẻ trước đây là sự hiện diện của một văn bản hành động cụ thể, ra đời sớm hơn các phát biểu trên gần một năm: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, do chính Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành và trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương – một vị trí mà theo giới quan sát chính sách, thể hiện mức độ cam kết chính trị chưa từng có tiền lệ với một nghị quyết về khoa học công nghệ.

    Nghị quyết 57 tuy không dùng trực tiếp cụm từ “khai phóng”, nhưng về bản chất chính là bản đặc tả thể chế cho tinh thần khai phóng mà các phát biểu sau đó nêu tên: giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, cán bộ, tài chính, chuyên môn cho các tổ chức nghiên cứu khoa học công lập; cho phép sử dụng ngân sách nhà nước thuê chuyên gia, sử dụng tài sản trí tuệ để liên kết với doanh nghiệp; đặt mục tiêu kinh phí nghiên cứu – phát triển đạt 2% GDP vào năm 2030, trong đó trên 60% từ xã hội; phát triển trường, trung tâm đào tạo trí tuệ nhân tạo tiên tiến; thu hút chuyên gia trong và ngoài nước, xây dựng mạng lưới chuyên gia quốc tế. 

    Trong vòng một năm triển khai, 100% bộ, ngành, địa phương đã ban hành hoặc tích hợp kế hoạch thực hiện, với 1.298 nhiệm vụ được giao – một quy mô huy động hệ thống chính trị hiếm thấy đối với một nghị quyết về giáo dục – khoa học.

    Ở cấp cơ sở, tinh thần này đã bắt đầu hiện hình cụ thể: nhiều trường đại học hình thành phòng thí nghiệm mở, trung tâm ươm tạo công nghệ, không gian làm việc chung cho sinh viên và nhóm nghiên cứu; chương trình đào tạo tích hợp tư duy thiết kế, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, đưa bài toán thực tế của doanh nghiệp vào giảng dạy thay vì lý thuyết thuần túy.

    4. Những luận điệu và quan điểm đang phản bác

    4.1. Bóng ma thất bại của thập niên 1990

    Đây là luận điểm có sức nặng lịch sử lớn nhất, vì nó đến từ chính người trong cuộc. Theo GS Lâm Quang Thiệp, khi thực hiện đổi mới giáo dục đại học từ những năm 1990, nhóm nghiên cứu của ông học tập mô hình các đại học Hoa Kỳ, đưa chương trình đại học Việt Nam thành hai phần đại cương và chuyên ngành theo tinh thần khai phóng, coi con người là mục đích chứ không phải công cụ. 

    Nhưng việc triển khai “rất khó khăn, vấp phải nhiều ý kiến phản đối” và cuối cùng không thành công, một phần vì khi đó số người hiểu biết về mô hình khai phóng còn quá ít để tạo được sự hưởng ứng rộng rãi. 

    Phe hoài nghi hiện nay đặt câu hỏi: điều gì bảo đảm lần này sẽ khác, khi nhận thức xã hội về khai phóng dù đã cải thiện nhưng vẫn chưa đồng đều?

    4.2. Lo ngại về gốc gác ý thức hệ

    Nối tiếp luận điểm đã nêu ở Kỳ I, nhận định của TS Bùi Trân Phượng về việc tự do học thuật bị “thách thức từ năm 1975” tiếp tục là điểm tham chiếu của những người thận trọng với khái niệm khai phóng. 

    Một bài phân tích trên tạp chí giáo dục quốc tế cũng chỉ ra gốc rễ: các đặc điểm sư phạm của giáo dục khai phóng tự thân không mang màu sắc chính trị, nhưng bản thân từ “khai phóng” hàm nghĩa tự do và quyền lựa chọn – những giá trị không được mọi nền chính trị chấp nhận như nhau, nên rất dễ bị gắn ngầm với hệ giá trị tự do kiểu phương Tây, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn vốn nhạy cảm hơn khoa học kỹ thuật.

    4.3. Khoảng cách giữa tốc độ chính sách và tốc độ thực thi

    Ngay trong các báo cáo chính thức tổng kết một năm triển khai Nghị quyết 57, bên cạnh những con số tích cực, cũng đã thừa nhận một số hạn chế: tiến độ và chất lượng thực hiện chưa đồng đều giữa các địa phương, độ trễ giữa quy định mới và quy định cũ, hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao và liên thông dữ liệu. 

    Đây là cơ sở để giới phản biện chính sách lo ngại rằng “tinh thần khai phóng” trong Nghị quyết 57 và các phát biểu liên quan có nguy cơ giữ nguyên ở tầng văn bản, trong khi văn hóa quản trị đại học, cơ chế đánh giá cán bộ khoa học và tâm lý sợ trách nhiệm ở cấp thực thi vẫn theo lối cũ – một khoảng vênh giữa “quyết tâm chính trị” cấp Trung ương và năng lực hấp thụ chính sách ở cấp cơ sở.

    4.4. Câu hỏi về đối tượng thụ hưởng

    Mặc dù phát biểu tại Đại hội Đảng bộ TP.HCM gắn khai phóng với công bằng xã hội, một số ý kiến trong giới giáo dục cho rằng trên thực tế, các điều kiện để “khai phóng” phát huy – phòng thí nghiệm mở, trung tâm ươm tạo, kết nối doanh nghiệp công nghệ – đang tập trung chủ yếu ở các đại học lớn tại Hà Nội và TP.HCM, trong khi giáo dục phổ thông ở vùng sâu, vùng xa vẫn loay hoay với những vấn đề căn bản hơn nhiều, như thiếu giáo viên hay cơ sở vật chất. 

    Nguy cơ khai phóng trở thành đặc quyền của một nhóm nhỏ tinh hoa đô thị, vì vậy, vẫn là một luận điểm phản biện chưa được hóa giải triệt để bằng phát ngôn chính trị.

    Đọc tiếp phần 3


    Không có nhận xét nào