Header Ads

  • Breaking News

    50 năm Sài Gòn đổi tên

    Tác giả: Song Chi 

    03/7/2026

    Và cuối cùng, giá trị của một thành phố không chỉ ở những công trình kiến trúc mới. Linh hồn của một thành phố nhiều khi nằm trong từng viên gạch cũ, từng hàng cây cổ thụ, một quán café xưa…Ở đó những dấu ấn lịch sử, những dấu vết thời gian đi qua còn in lại. Và người ta gắn bó với một thành phố lắm khi chỉ từ những thứ nhỏ nhặt như thế.

    Sài Gòn/TP.HCM bây giờ. Photo: Lan Yao, pexels.

    Ngày Sài Gòn đổi tên

    Đúng 50 năm trước, vào ngày 2/7/1976 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VI, kỳ họp thứ nhất, đã thông qua nghị quyết đổi tên thành phố Sài Gòn – Gia Định là TPHCM. Thực ra, ý tưởng đổi tên này từ phía những người cộng sản không phải đến năm 1976 mới xuất hiện. Theo Bên thắng cuộc của Huy Đức và nhiều tài liệu lịch sử khác, chủ trương này đã được nhen nhóm từ nhiều thập niên trước, thậm chí có những đề xuất công khai từ năm 1946 (1)

    Còn đối với phần lớn người dân miền Nam từng sống dưới chế độ VNCH, việc đổi tên đó là một sự đau buồn và tiếc nuối. Nhiều nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ của miền Nam đã có những sáng tác “khóc” cho sự đổi tên này. Trong đó có nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn với bài “Sài gòn niềm nhớ không tên” sau đó được đổi tên lại chính thức là “Nước mắt cho Sài Gòn”.

    Bài hát có những câu:

    “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên
    Như giòng sông nước quẩn quanh buồn
    Như người đi cách mặt xa lòng
    Ta hỏi thầm em có nhớ không

    … Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên
    Như mộ bia đá lạnh hương nguyền
    Như trời sâu đã bỏ đất sầu
    Còn gì đâu”

    Hồi đó nhiều người Việt ở trong nước và người Việt lưu vong, có lẽ đã rơi nước mắt mỗi khi nghe bài hát này.

    Nhà văn Song Thao trong loạt tùy bút “Ký ức Sài Gòn” (2) có kể lại hoàn cảnh ra đời của bài hát.

    Và như một phản ứng thầm lặng, những người yêu Sài Gòn vẫn tiếp tục gọi tên thành phố là Sài Gòn, chứ không gọi là TP.HCM.

    Sau 50 năm nhìn lại, dù đã bị đổi tên hay bây giờ trở thành tên của một cái…phường trong đợt sáp nhập mới nhằm “sắp xếp lại giang sơn”, cái tên “Sài Gòn” vẫn được sử dụng rộng rãi trong đời sống, giao tiếp hàng ngày của người Việt Nam.

    Ngay với tôi, một người đã sống ở Sài Gòn gần 40 năm trước khi rời Việt Nam ra đi, một người luôn tự nhận mình là người Sài Gòn, cho dù không sinh ra và có thể, cũng sẽ không sống những ngày cuối đời tại đây, Sài Gòn bao giờ cũng là… Sài Gòn. Cái tên thành phố Hồ Chí Minh, khi còn ở Việt Nam, chỉ là cái tên tôi buộc phải sử dụng trên những giấy tờ, đơn từ… Với tôi, Sài Gòn luôn luôn là một thành phố đặc biệt, mà quả thật, từ vị trí địa lý, lịch sử cho đến văn hóa Sài Gòn, tính cách con người Sài Gòn… đã làm nên cái đặc biệt của thành phố này so với những thành phố khác của Việt Nam.

    Thủ đô Sài Gòn của VNCH với tinh thần tự do, cởi mở, nhân bản và khai phóng

    Trước năm 1975, Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa. Một quốc gia với một nền dân chủ còn non trẻ và đầy khiếm khuyết, lại đang trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt không có được một ngày bình yên, nhưng vẫn cố gắng để xây dựng một xã hội tự do, dân chủ, cởi mớ, nhân bản và khai phóng. Và Sài Gòn là thành phố thể hiện rõ nhất điều đó.

    Nhờ cái tinh thần đó mà nhìn lại chỉ với 20 năm ngắn ngủi, chế độ VNCH đã đạt được những thành tựu lớn, từ giáo dục cho đến báo chí, văn học nghệ thuật và cả kinh tế.

    Chẳng hạn, trong lĩnh vực báo chí, so với phần lớn các nước Đông Nam Á cùng thời, báo chí dưới thời Việt Nam Cộng hòa (đặc biệt giai đoạn 1963–1975) rất đa dạng, được vận hành theo cơ chế thị trường tự do. Mặc dù vẫn có kiểm duyệt trong thời chiến, nhưng nhìn chung miền Nam tồn tại một thị trường báo chí tư nhân, với hàng trăm tờ nhật báo, tuần báo và tạp chí thuộc nhiều khuynh hướng chính trị (kể cả đối lập với chính quyền), văn hóa và tôn giáo khác nhau.

    Có thời điểm Sài Gòn có trên 30 nhật báo phát hành cùng lúc, cùng với đó là hàng trăm tuần báo, bán nguyệt san và tạp chí chuyên ngành. Đặc biệt là các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học, Phật giáo, Công giáo, cùng các nhà xuất bản chuyên xuất bản mảng này…

    Có thể nói, sự đa dạng này khiến báo chí miền Nam giai đoạn 1954–1975 trở thành một trong những môi trường báo chí phong phú nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại, phản ánh nhiều tiếng nói chính trị, văn hóa và tôn giáo cùng tồn tại trong một không gian công khai, dù vẫn chịu những giới hạn và va chạm với chính quyền trong bối cảnh chiến tranh.

    Về văn hóa–nghệ thuật, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật…Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương…Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên… Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật… Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách, cùng hàng trăm tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo v.v…

    Hay trong kiến trúc, miền Nam dưới chế độ VNCH đã để lại dấu ấn rõ nét và được giới kiến trúc quốc tế đánh giá cao trong tư duy sáng tạo, khả năng kết hợp Đông-Tây và sự thích nghi với khí hậu nhiệt đới – những giá trị đã làm nên bản sắc của kiến trúc miền Nam giai đoạn này. Sài Gòn là nơi có nhiều nhất những công trình như vậy: Dinh Độc Lập, trường Đại học Y Khoa, Thư viện Quốc gia, khách sạn Caravelle, ngân hàng Việt Nam Thương Tín, Bệnh viện Vì Dân, hàng loạt những biệt thự ở Sài Gòn v.v… với những tên tuổi như Ngô Viết Thụ, Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Văn Hoa, Phạm Văn Thâng, Nguyễn Quang Nhạc (3) v.v…Chưa kể hội họa, sân khấu, điện ảnh…

    Cái quan trọng nhất là đa dạng, phong phú. Trong lĩnh vực nào cũng vậy, mỗi một tờ báo, tạp chí, mỗi khuôn mặt nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, họa sĩ, cho tới những xu hướng sáng tác đều có sự độc đáo riêng, không trộn lẫn với cái khác, người khác, tạo ra một thị trường đa dạng cho người dân thuộc mọi tầng lớp, trình độ, quan điểm, thị hiếu khác nhau tha hồ lựa chọn.

    Và như đã nói, Sài Gòn, với tính chất là thủ đô, có số dân đông và nhịp sống sôi động, là môi trường tốt nhất để những điều này phát triển.

    Tinh thần tự do, khai phóng, cấp tiến còn thể hiện từ trong nếp nghĩ, cách sống.

    Như nhà văn Nguyễn Viện đã đúc kết trong bài viết trên BBC “50 năm đổi tên: Bản sắc của Sài Gòn là tự do” (4)

    …. “Nhưng chắc chắn không thể tìm thấy một môi trường học thuật tự do, cùng cái mã thượng hay sự tôn trọng sự khác biệt chính kiến của nhau như thời đó.

    …Nếu có điều gì để nói về Sài Gòn cũ với các thế hệ sau, tôi chỉ muốn nói rằng, đó là “miền đất của tự do” và cũng là nơi tạo nguồn cảm hứng cho cái mới xuất hiện.

    Chỉ trong tự do, con người mới thật sự là mình. Và chỉ khi con người biết đổi mới, mới có tiến bộ”.

    50 năm sau khi đổi tên, Sài Gòn mất gì, còn lại gì?

    Những cái mất thấy được bên ngoài

    Mất? Khá nhiều. Từ những di sản nổi tiếng, những công trình biểu tượng, những địa chỉ văn hóa…cũ của Sài Gòn (5), (6), (7), (8). Một phần do sự tham lam chỉ biết có tiền của các quan chức cộng sản cấu kết với đám tư bản Đỏ nhìn đâu cũng chỉ muốn đập cũ xây mới để kiếm tiền; lối quản lý thiển cận, không có một kế hoạch nhìn trước cả trăm năm, vài trăm năm nên cứ xây rồi phải sửa, mở rộng, chắp vá; cộng thêm sự hẹp hòi, cứng nhắc, lạc hậu về quan điểm chính trị nên cứ cái gì cũ, thuộc về thời Pháp, thời Mỹ, thời VNCH là chỉ muốn xóa bỏ.

    Và cuối cùng là một thiểu số dân chúng cũng chưa thật sự ý thức giữ gìn cái đẹp, cái hồn của thành phố.

    Mất? Những cái trật tự, thong dong, hài hòa của đô thành Sài Gòn ngày xưa. Vì đông dân hơn rất nhiều, Sài Gòn bây giờ đã trở thành một thành phố ồn ào, xô bồ, bụi bặm, với những con đường luôn luôn đông nghẹt xe cộ, người đi lại ngược xuôi hối hả. Nạn kẹt xe, rồi tai nạn giao thông ở thành phố này và trên cả nước nói chung, đã thật sự trở thành một nỗi ưu tư cho tất cả mọi người!

    Hầu hết mọi con đường trong thành phố đều trở thành những khu phố kinh doanh, hầu hết mọi ngôi nhà ngoài mặt tiền cho đến trong những con hẻm sâu đều mở cửa buôn bán, làm dịch vụ… Rất hiếm hoi để tìm thấy một con đường yên tĩnh hay những ngôi biệt thự villa có sân vườn một thời là niềm tự hào của “Sài Gòn–hòn ngọc Viễn Đông”. Những ngôi biệt thự ấy phần lớn đã trổ cửa, cơi nới, thành các loại nhà phố, cửa hàng, quán xá, showroom…
    Người đi xa lâu năm trở về bâng khuâng nhớ lại những con đường với hai vòm lá me xanh như ngọc hoặc thơm ngát hương ngọc lan thuở nào của Sài Gòn. Đường xá mở rộng nhiều, đường mới làm cũng không ít, nhưng hầu như chẳng ai quan tâm đến việc trồng thêm nhiều cây xanh trên đường, ngược lại cây cũ bị tỉa trụi nhánh, đốn bỏ nhiều, thành phố đã nắng nóng càng thêm nóng. Không chỉ những con đường xanh bóng me, sự lãng mạn dường như cũng ngày càng trở nên hiếm hoi trong cuộc sống của người Sài Gòn hôm nay. Còn mấy ai bây giờ vì yêu hình ảnh của một người con gái “em tan trường về ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay” để rồi “em tan trường về anh theo Ngọ về trưa trưa chiều chiều…” mãi mà chẳng dám nói một câu?
    Sài Gòn bây giờ vẫn đang thay đổi với tốc độ chóng mặt. Những building, cửa hàng, căn hộ mới không ngừng mọc lên với đủ loại kiến trúc xấu có đẹp có. Những con đường hết đào lên lại lấp xuống, hết mở rộng lại phân luồng, hết “thử nghiệm” lát gạch con sâu một thời lại đến thử nghiệm trồng cau, làm dải phân cách mới rồi lại phá bỏ, trụ đèn giao thông mới lắp chưa kịp hư đã lại thay mới… Toàn những “thử nghiệm” lãng phí tiền tỉ của dân mà cũng chẳng thấy ai đứng ra chịu trách nhiệm gì.

    Những cái mất không thể thấy được

    Sau nửa thế kỷ, bản sắc Sài Gòn trong suy nghĩ, nếp sống phần nào có thay đổi, một phần do nhân khẩu học thay đổi –nhiều người tại chỗ bỏ nước ra đi, nhiều người từ miền Bắc và miền Trung phía Bắc vào định cư. Nhưng quan trọng hơn là những ký ức cũ về Sài Gòn dần dần bị xóa đi do sự đập cũ xây mới như đã nói ở trên, cho tới cái bản sắc Sài Gòn, bản sắc miền Nam trong văn học nghệ thuật.

    May mà cũng không đến nỗi hoàn toàn không có lối thoát. Trong khi những người trí thức, người làm văn hóa văn nghệ rời nước ra đi có thể mang theo hình ảnh Sài Gòn và phần nào nền văn học nghệ thuật miền Nam tiếp nối suốt 50 năm qua trong văn học nghệ thuật hải ngoại, thì nhiều người ở trong nước (hoặc đi đi về về) vẫn chịu khó đào lại từng những mảnh vàng nhỏ ký ức trong tầng tầng lớp lớp bụi của thời gian để kể lại cho các thế hệ sau này những hình ảnh, câu chuyện của Sài Gòn xưa như nhà báo Cù Mai Công, nhà báo Phạm Công Luận, cố nhà báo Lê Văn Nghĩa…qua những tản văn, tạp bút, hồi ký…Hay những đạo diễn, diễn viên sân khấu của các sân khấu 5B Võ Văn Tần, sân khấu IDECAF (viết tắt của Institute of Cultural Exchange with France), sân khấu Hoàng Thái Thanh… vẫn tìm dựng những vở kịch và lối diễn của miền Nam. Hay những biên kịch sân khấu, điện ảnh như Nguyễn Thị Minh Ngọc khi viết, vẫn cố giữ chất hồn kịch nhân nghĩa miền Nam và điện ảnh mô tả cuộc sống của người miền Nam, người Sài Gòn thời hậu chiến khó khăn đủ điều nhưng vẫn gắng giữ phẩm giá…Tức là cố gắng gìn giữ ký ức, bản sắc Sài Gòn.

    Nhưng mất mát lớn nhất, đó là cùng với cả nước dưới một chế độ độc tài toàn trị, Sài Gòn đã mất đi sự tự do trong suy nghĩ, trong tư tưởng và sáng tạo, và cái bầu không khí xã hội có thể tạo điều kiện cho mọi sự đa dạng, độc đáo, khác biệt.

    Sài Gòn bây giờ, thừa và thiếu

    Nếu chỉ nhìn bề nổi, Sài Gònbây giờ rộng hơn rất nhiều, nhất là từ sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, diện tích tự nhiên tăng hơn 3 lần, lên hơn 6.770 km2. Về dân số, sau khi sáp nhập, Sài Gòn/TP.HCM đông nhất cả nước với hơn 14 triệu người, và hiện là địa phương duy nhất trên cả nước có dân số trên 10 triệu người. (9)

    Trước tháng 4 năm 1975, nếu nói đến Đô thành Sài Gòn (không tính toàn tỉnh Gia Định), thì các số liệu thường được các tài liệu Việt Nam Cộng hòa và các nghiên cứu lịch sử sử dụng là: Diện tích: khoảng 76 km². Dân số: khoảng 3,0–3,5 triệu người vào đầu năm 1975.

    Còn khi nói “Sài Gòn” theo nghĩa đô thị lớn bao gồm Đô thành Sài Gòn và phần lớn tỉnh Gia Định thì: Diện tích: khoảng 390–400 km² (tùy cách tính ranh giới hành chính). Dân số: khoảng 3,5–4 triệu người vào năm 1975.

    Như vậy, Sài Gòn/TP.HCM bây giờ rộng lớn và đông dân hơn gấp mấy lần. Nhìn trên bề mặt, nhà cửa xây dựng mới cũng nhiều, bộ mặt “giàu có”, bóng bẩy hơn.

    Sài Gòn/TP.HCM bây giờ, dù vẫn là thành phố ăn nên làm ra nhất nước, dù vẫn thu hút dân nhập cư từ khắp vùng miền nhất vì có nhiều cơ hội học hành, làm ăn, sinh sống, nhưng mặt khác, thành phố này cũng bị tàn phá bởi những căn bệnh chung của các thành phố lớn, nhỏ ở Việt Nam. Đó là từ quy hoạch tổng thể cho đến kiến trúc, cảnh quan hết sức lộn xộn chắp vá.

    Số lượng dân cư Sài Gòn sau hơn 50 năm đã tăng gấp 4 lần nhưng cơ sở hạ tầng, đường xá, giao thông công cộng…đều chưa theo kịp với đà tăng dân số.

    Môi trường sống bị ô nhiễm khá nặng, mức độ bụi bặm lẫn tiếng ổn trên đường phố đều cao vượt mức cho phép. Tỷ lệ cây xanh, tỷ lệ công viên quá thấp. Còn khi trời mưa lớn thì rất nhiều khu vực trong thành phố biến thành… sông, khiến người dân đi lại rất vất vả.

    Sau 50 năm, Sài Gòn bây giờ vẫn chưa đủ tiêu chuẩn để được gọi là một đô thị đúng nghĩa.

    Một đô thị đúng nghĩa khi được quy hoạch một cách khoa học, thành từng khu vực riêng biệt: khu hành chính, thương mại, công nghiệp, giải trí, dân cư…Chứ không thể từ quận trung tâm đến những quận ở xa, từ đường lớn, đường nhỏ cho đến từng con hẻm, ngõ cụt, nhà nào cũng mở cửa làm ăn, buôn bán; khu dân cư ở lẫn với khu văn phòng, trường học, nhà máy, quán nhậu…một cách lộn xộn bát nháo.

    Một đô thị đúng nghĩa phải có các phương tiện giao thông công cộng hiện đại: xe bus, xe điện, xe điện ngầm, xe lửa…, những làn đường trên cao dưới thấp dành cho các loại xe khác nhau. Và khi các phương tiện giao thông công cộng chưa phát triển, thì đừng mơ đến chuyện giảm được nạn kẹt xe và tỷ lệ tai nạn giao thông cao. Đó là chưa nói đến số lượng xăng tiêu thụ cho hàng triệu xe gắn máy mỗi ngày tính ra là bao nhiêu tiền, lượng khí thải từ xăng xe mỗi ngày mà người dân thành phố phải hít vào khi đi ngoài đường v.v…

    Bao nhiêu khẩu hiệu, bao nhiêu mục tiêu to tát đã được đề ra, nhưng có vẻ như những cá nhân, cơ quan lãnh đạo Sài Gòn bao nhiêu năm qua đã không thực sự quyết tâm làm cho cái thành phố này trở nên đẹp hơn, văn minh hơn và đáng sống hơn, chứ không chỉ là rộng lớn hơn hay phát triển về kinh tế, có mức tăng trưởng cao hàng năm.

    Với người dân tại chỗ, một thành phố đáng sống không chỉ vì có nhiều cơ hội học hành, làm ăn, mưu sinh, mà bên cạnh đó, phải có một môi trường sống tốt, an toàn, tiện lợi, văn minh.

    Sống trong một môi trường lúc nào cũng đông đặc người và xe cộ, lúc nào cũng bị vây bủa bởi bụi bặm, khói xăng, ô nhiễm, kẹt xe, tiếng ồn từ sáng đến tối, cộng thêm cái nóng hầm hập của xứ nhiệt đới…rõ ràng không chỉ gây tác hại cho con người về sức khỏe mà cả tinh thần. Không có gì lạ khi con người hay bực bội, và dễ dàng trút nỗi cáu bực đó vào người khác, thậm chí lao vào đánh giết nhau chỉ vì một sự va chạm hay hiềm khích vụn vặt…

    Với du khách nước ngoài, khi đến một đô thị lớn như Sài Gòn nhưng ngoài việc đi ăn, uống cafe, vào quán bar hay đi mua sắm hàng giá rẻ, quà lưu niệm, họ biết đi đâu, xem gì ở Sài Gòn?

    Nếu là các tour du lịch do các công ty nhà nước hoặc tư nhân tổ chức, thể nào cũng có những địa điểm “có tính chất tuyên truyền chính trị” như đi xem Bảo tàng tội ác chiến tranh Việt Nam (trước kia còn gọi là Bảo tàng tội ác Mỹ-ngụy nữa kia), Bảo tàng Hồ Chí Minh và bến Nhà Rồng nơi bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (!), xa hơn nữa thì đi xem địa đạo Củ Chi thời…chống Mỹ!

    Về mặt này thì Hà Nội, Huế hay Hội An còn có những nét riêng để du khách khám phá.

    Cũng may, sau khi sáp nhập với Bà Rịa-Vũng Tàu, Sài Gòn bây giờ không chỉ có rất nhiều quán café, nhà hàng, trung tâm thương mại mua sắm mà còn có cả biển để du khách có thể đi tắm biển, nhưng các địa điểm văn hóa như bảo tàng, gallery, nhà hát vốn là thế mạnh, là niềm tự hào của một thành phố thì vẫn thiếu và toàn là những bảo tàng…cách mạng.

    Rất cần thêm những bảo tàng thú vị, hấp dẫn về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, về văn hóa nghệ thuật, sân khấu, điện ảnh Việt Nam…để giới thiệu với du khách đã đành, mà đối với người dân, nhất là học sinh, sinh viên, có thể học được rất nhiều từ những bảo tàng bổ ích, có giá trị. Nếu nhà nước không làm nổi thì để tư nhân góp sức làm.

    Cá nhân tôi khi du lịch đến những thành phố khác nhau của các nước, thường thích tìm đến những ngôi nhà, những quán café, địa điểm thường lui tới của các văn nghệ sĩ hay các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử. Nhưng ở Sài Gòn thì điều này lại chưa có được.

    Có bao nhiêu nhân vật từng sinh sống, thành danh ở thành phố này, gia đình, người thân sẵn sàng biến những ngôi nhà khi họ còn sống thành địa điểm tham quan cho du khách và người dân nếu nhà nước cho phép, nhưng riêng với Việt Nam thì lại còn vướng mắc bởi bao vấn đề “tế nhị” khác, mà tất cả là do sự hẹp hòi mà thôi. Ví dụ như ngôi nhà của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Phạm Duy…có thể sẽ có nhiều người trong và ngoài nước muốn ghé, trong khi đã chắc gì những nhạc sĩ cách mạng khác lại thu hút người đến khi mà nhạc của họ bây giờ còn chẳng mấy ai nghe?

    Với du khách là thế, còn với người dân, Sài Gòn cũng như tất cả những thành phố lớn, nhỏ khác ở Việt Nam thường rất thừa thãi quán xá các loại song lại thiếu nhiều nơi để con người có thể ngồi nghỉ, thư giãn hoặc cho những sinh hoạt cộng đồng, biểu diễn văn nghệ đường phố như quảng trường, công viên…Đã hơn 50 năm sau ngày đất nước thống nhất nhưng ở Sài Gòn, một quảng trường rộng, đẹp vẫn chưa có, công viên đã ít mà còn mọc lên đủ thứ hàng quán, chỗ gửi xe, hoặc vào chiều tối, ban đêm, là nơi “chiếm đóng” của những người lang thang, thành phần bất hảo…khiến người dân ngần ngại ghé qua.

    Sài Gòn cũng thiếu những công trình văn hóa công cộng để nâng cao dân trí, như thiếu thư viện tốt. Ở Sài Gòn, từ phường, quận cho tới cấp thành phố đều có thư viện, nhưng các thư viện phường, quận thường quá chán, sách đã ít, sách hay lại càng ít. Càng không thể tìm thấy những băng đĩa nhạc giao hưởng, ca kịch opera, múa ballet hay nhạc quốc tế đủ các thể loại từ các quốc gia khác nhau…để người dân, nhất là giới trẻ có thể mượn về xem và “chống dốt”. Cái gì cũng phải đi mua tiền đâu mà mua, hỏi sao giới trẻ thường rất thiếu hụt kiến thức về opera, ballet, nhạc cổ điển, phim cổ điển…

    Sài Gòn/TP.HCM về đêm. Photo: Nguyen Quang Vinh, pexels.

    Sài Gòn – những thứ không bị mất đi

    Sự năng động, đầy sức sống, một tinh thần phóng khoáng, cởi mở

    Sài Gòn – một thành phố năng động, đầy sức sống, ở đó mọi cái mới đều được tiếp nhận học hỏi rất nhanh. Những lĩnh vực nghề nghiệp mới, những mặt hàng tiêu dùng, tiện nghi mới, người Sài Gòn dễ chấp nhận cái mới và cũng dễ chấp nhận sự đa dạng, khác nhau trong quan điểm, cách sống cách nghĩ của người khác. Một quan chức, một người trí thức, và một anh đạp xích lô có thể ngồi bằng vai phải lứa với nhau trong cuộc nhậu, tranh luận với nhau và nếu ý kiến có khác nhau thì “cũng có sao đâu”. Tinh thần phóng khoáng dân chủ đó là một nét đáng quý của người Sài Gòn.

    Sài Gòn – một melting post của Việt Nam.

    Nếu nước Mỹ vẫn được gọi là một “melting-pot của thế giới” thì Sài Gòn, có thể gọi là một “melting-pot của Việt Nam” và sức sống thực sự của Sài Gòn nằm trong cái đặc điểm này, được thể hiện ngay từ “diện mạo” kiến trúc bên ngoài. Sài Gòn là nơi hội tụ của rất nhiều phong cách kiến trúc khác nhau – có thể tìm thấy ở Sài Gòn, những toà nhà dinh thự mang bản sắc kiến trúc Đông Dương do người Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 như Nhà thờ Đức Bà, UBND thành phố, Bảo tàng Cách mạng, trường Marie-Curie, Nguyễn thị Minh Khai, Lê Quý Đôn, Lê Hồng Phong…, những khu chùa cổ rất đặc trưng của người Hoa, người Ấn, những công trình kiến trúc do các kiến trúc sư người Việt thiết kế những năm 60-70 vừa hiện đại vừa rất Á Đông như đã kể trên, cho đến những công trình, nhà ở có kiến trúc hiện đại mới xây sau này…

    Đi sâu vào đời sống muôn mặt của Sài Gòn, càng thấy rõ tính chất “melting pot” đó – thành phố dung nạp tất cả, thâu nhận tất cả mọi nguồn nhân lực đến từ mọi nơi trên đất nước, tạo cơ hội bằng nhau cho tất cả mọi người. Có thể kể ra rất nhiều con người gốc gác từ nơi khác, đã đến kiếm sống, lập nghiệp và thành danh trong nhiều lĩnh vực khác nhau tại Sài Gòn, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Kể từ sau năm 1975 cho đến nay cũng vậy.

    Sức sống của Sài Gòn được tạo nên còn bởi vì không một nơi nào khác ở Việt Nam có một khu vực kinh tế tư nhân mạnh mẽ và một cơ chế xã hội hóa được thực thi nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất như ở đây.

    Sài Gòn là đất hội tụ. Người Sài Gòn từ lâu đã quen với việc chung sống hoà bình giữa những người tạm gọi là khác xứ, khác quê. Do vậy người Sài Gòn có tính cách cởi mở, không bảo thủ, dễ hoà đồng, bình dân, hào phóng, rộng rãi. Không bao giờ phân biệt người tại chỗ với người nhập cư, người thành phố với “người nhà quê”.

    Cũng với tinh thần đó, trong đời sống văn hóa nghệ thuật của Sài Gòn, có được sự giao thoa giữa nhiều luồng, nhiều dòng khác nhau – dòng miền Nam trước 1975, dòng miền Bắc trước 1975, dòng văn chương nghệ thuật thống nhất sau 1975, dòng văn học nghệ thuật hải ngoại sau 1975…Không những thế, bên cạnh một bề nổi với dòng văn học nghệ thuật chính thống là một đời sống văn hoá nghệ thuật khác, lặng lẽ, âm thầm sinh sôi và tồn tại, nhưng phong phú, hiện đại và rất dữ dội. Đó là những tác phẩm văn học nghệ thuật “ngoài luồng” hay “lề trái”, với những nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ… mà tác phẩm của họ không (hoặc chưa) thể công bố rộng rãi, chỉ trong giới biết với nhau hoặc chỉ xuất hiện trên mạng internet, ở bên ngoài nước. Cũng chỉ có Sài Gòn mới từng có những nhà xuất bản “ngoài luồng” theo kiểu người sáng tác tự in, tự xuất bản như nhà xuất bản Giấy Vụn của nhóm Lý Đợi-Bùi Chát, nhà xuất bản Cửa của nhóm Trịnh Cung, nhà xuất bản Gió của nhạc sĩ Tuấn Khanh…

    Sự tử tế, sẵn lòng chia sẻ, làm từ thiện

    Người Sài Gòn gần như luôn luôn đi đầu trong mọi phong trào có tính cách xã hội từ thiện – từ một trường hợp thương tâm cần giúp đỡ được đưa lên báo, một sinh viên cần được tiếp sức đến trường, cho đến lũ lụt ở miền Trung, thiên tai ở đâu đó, hay phong trào ký tên vì công lý… Bên dưới cái vẻ bề ngoài như vô tình không ai để ý đến ai của người Sài Gòn – rất dễ làm chạnh lòng những người nhập cư mới đến Sài Gòn, người Sài Gòn bao giờ cũng mau mắn, sẵn lòng chia xẻ nỗi đau của người khác.

    Còn nhớ giai đoạn đại dịch COVID-19 ra ở Việt Nam, Sài Gòn là thành phố bị dịch nặng nhất, chết nhiều nhất. Hình ảnh những tiếng xe cấp cứu trong đêm, những dãy dài xe chở thi hài đậu bên ngoài khu Bình Hưng Hòa chờ hỏa táng trong giai đoạn cao điểm nhiều người chết, những đứa trẻ mồ côi sớm vì cha mẹ, ông bà…đều qua đời trong mùa dịch…đã trở thành nỗi ám ảnh của người dân thành phố một thời gian dài.

    Nhưng giữa những ngày u ám tang thương đó, tình cảm đùm bọc giúp đỡ của người Sài Gòn đối với nhau là điểm sáng đẹp như những đốm lửa trong đêm thắp lên hy vọng cho mọi người.

    Có ai đếm được bao nhiêu ngàn tỷ, chục ngàn tỷ VNĐ người dân bỏ ra cứu trợ, giúp đỡ người khác, đến từ những người không phải là giàu có cho đến doanh nhân, người trong và ngoài nước, trong những ngày tháng đó? Vô số cá nhân, tổ chức miệt mài làm từ thiện bằng nhiều cách khác nhau, từ sáng kiến ATM gạo, nấu những suất cơm, bánh mì, bánh bao miễn phí, cho quà, tiền mặt, hỗ trợ oxy miễn phí cho người bệnh hoặc tổ chức mai táng miễn phí cho người xấu số qua đời vì COVID-19 v.v…

    Thậm chí có những người vì hoạt động từ thiện mà bị lây nhiễm Covid rồi qua đời như anh Vũ Quốc Cường, chủ quán cơm chay xã hội Cường “béo”, người dành cả đời làm từ thiện; Sơ Maria Trần Ngọc Thảo Linh, nữ tu thuộc Hội dòng Mến Thánh Giá Tân Việt, qua đời ở tuổi 32 trong thời gian giúp bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện dã chiến, hay ca sĩ, diễn viên và nhà hoạt động xã hội Phi Nhung… (10)

    Phải nói rằng nếu không có tấm lòng đó của người Sài Gòn tích cực hỗ trợ nhau thì số người chết oan vì bị nhiễm Covid-19 và vì cách chống dịch chủ quan, duy ý chí, phản khoa học của nhà nước Việt Nam giai đoạn đó còn cao hơn nhiều.

    Sài Gòn trong tôi

    Người nước ngoài mới đến Sài Gòn có thể thấy thành phố này sao mà xô bồ, hỗn độn. Nếu so với Hà Nội có cây, hồ, phố cổ… hay Huế có thiên nhiên tĩnh lặng, lăng tẩm phai màu thời gian… Sài Gòn dường như không có gì để nhớ. Và cũng thật khó cho người dân Sài Gòn mỗi lần có khách phương xa đến chơi, xin được giới thiệu những thứ và nơi “chỉ Sài Gòn mới có”. Tôi đã nhiều lần rơi vào “hoàn cảnh” như vậy. Bởi cái đẹp của Sài Gòn là nằm trong sức sống của thành phố, trong tính cách, văn hóa, lối sống… của con người Sài Gòn, là những cái mà phải sống và gắn bó với thành phố này mới cảm nhận được.

    Chỉ riêng từ sau 1975 đến nay, chính thành phố này đã luôn luôn là nơi đi tiên phong trong mọi đổi mới về kinh tế cho đến mọi hình thức “cởi trói”, xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, chính thành phố này đã thường xuyên gánh vác vai trò đầu tàu về kinh tế, đóng góp nhiều nhất vào ngân sách quốc gia, là vùng đất mở, đất hứa cho bao nhiêu thế hệ trong Nam ngoài Bắc tìm đến sinh sống, thành đạt lẫn thành danh. Nhưng thành phố này cũng chịu nhiều thiệt thòi. Bởi Hà Nội là thủ đô nên trong các chủ trương đầu tư, xây dựng, mở rộng, nâng cấp… đều được ưu tiên trước, điều đó đã hẳn. Ngay trong khía cạnh “tinh thần”, thành phố dường như cũng chưa được ứng xử một cách công bằng. Một ví dụ nhỏ: có rất nhiều bài hát, bài thơ, tác phẩm văn học, hội họa, phim tài liệu… nói về Hà Nội, Huế… nhưng chả có mấy tác phẩm như vậy về Sài Gòn.
    Mang một món nợ tinh thần với thành phố, đã có vài lần tôi và một vài người bạn trong giới văn nghệ muốn làm một cái phim tài liệu về Sài Gòn. Về diện mạo Sài Gòn. Văn hóa Sài Gòn. Con người Sài Gòn. Tính cách Sài Gòn… Bằng cái nhìn của người Sài Gòn, thương yêu và đau lòng trước những thay đổi, mất mát, biến dạng… của Sài Gòn hôm nay. Nhưng rồi vì rất nhiều lý do – trong đó có lý do cái nhìn và cách đặt vấn đề của chúng tôi về Sài Gòn đã tạo nên sự e ngại của những quan chức văn nghệ trong việc xét duyệt đề tài. Cho đến khi chúng tôi buộc phải chuyển sang phim tài liệu truyền hình nhiều tập, làm giảm nhẹ vấn đề, chuyển sang tính chất văn hóa lịch sử nhiều hơn thì cái đề cương đó mới được thông qua. Nhưng chưa kịp triển khai thì tôi lại phải rời Việt Nam.

    Hình như sau này khi tôi đã ra đi, ở cái đài truyền hình nơi chúng tôi đã giao đề cương phim tài liệu về Sài Gòn, người ta vẫn tiếp tục thực hiện một phim tài liệu về Sài Gòn, nhưng với một ê-kíp khác, và tất nhiên, với một cái nhìn khác, quan điểm khác.

    Bây giờ tôi đã xa Sài Gòn. Món nợ với thành phố như vậy là chưa trả được và cũng không biết đến bao giờ trả.

    50 năm Sài Gòn đổi tên. 17 năm tôi xa Sài Gòn và cũng chẳng biết bao giờ mới trở lại. Và cũng như tất cả những ai nặng lòng với Sài Gòn, dù đang sống ở Việt Nam hay ở bất cứ đâu, tôi cũng chỉ mong cho Sài Gòn ngày càng đẹp hơn, văn minh hiện đại hơn, đời sống người dân ngày càng thong dong hơn.

    Nhưng bên cạnh đó, với cái nhìn của một người đang sống ở nước ngoài, từng có nhiều dịp ghé qua những thành phố xinh đẹp của nước người, rồi nhìn về những cái mất mát, chưa được của Sài Gòn, những cái bộn bề, ngổn ngang, chắp vá, phản thẩm mỹ, phi văn hóa… đang tồn tại của Sài Gòn, lại thấy tiếc. Phát triển một đô thị cần có một tấm lòng, một tầm nhìn xa hàng trăm năm, một đầu óc cởi mở không bị định kiến bởi bất cứ điều gì, và quan trọng nhất là đặt Con Người lên trên hết. Nếu đô thị phát triển về kinh tế, tăng trưởng cao, nhà cửa cao ốc trung tâm thương mại lộng lẫy, nhưng vẫn ồn ào, bụi bặm, ô nhiễm, chất lượng sống không cao, đời sống văn hóa tinh thần không phong phú; hay đô thị phát triển hiện đại mà thiếu cái hồn vía riêng, những di tích cũ bị xóa bỏ, những công trình xây dựng có phần sao chép của nước khác mà thiếu bản sắc riêng…thì cũng là chưa thành công.

    Và cuối cùng, giá trị của một thành phố không chỉ ở những công trình kiến trúc mới. Linh hồn của một thành phố nhiều khi nằm trong từng viên gạch cũ, từng hàng cây cổ thụ, một quán café xưa…Ở đó những dấu ấn lịch sử, những dấu vết thời gian đi qua còn in lại. Và người ta gắn bó với một thành phố lắm khi chỉ từ những thứ nhỏ nhặt như thế.

    Song Chi

    …………

    Tham khảo:

    (1)  Sài Gòn được đề xuất đặt tên TPHCM từ năm nào?, Báo Tiền Phong

    (2) Song Thao: Ký ức Sài Gòn (3), Tạp chí Thế Kỷ Mới

    (3) Cù Mai Công: Văn phòng kiến trúc sư Hoa – Thâng – Nhạc và thời hoàng kim kiến trúc hiện đại miền Nam*, Tạp Chí Thế Kỷ Mới

    Những KTS tài danh của Sài Gòn trước 1975, báo Tuổi Trẻ

    (4) 50 năm đổi tên: bản sắc của Sài Gòn là tự do, BBC

    (5) Cả hội thảo ‘choáng váng’ khi biết 18 di sản nổi tiếng Sài Gòn biến mất, báo Tuổi Trẻ

    (6) Những công trình biểu tượng đã biến mất ở Sài Gòn, znews

    (7) 1.300 biệt thự trước 1975 đã mất 600 căn: Dễ đập bỏ, khó bảo tồn?, báo Tuổi Trẻ

    (8) Song Chi: Còn lại gì cho mai sau?, Tạp chí Thế Kỷ Mới

    (9) TP HCM là địa phương duy nhất trên cả nước có dân số trên 10 triệu ngườibáo Tuổi Trẻ

    (10) “Tấm lòng “Hoa sen” của Cường “béo”. Người đàn ông dành cả đời để làm từ thiện»,  VietnamNet

    Tâm Thư Của Sơ Maria Trần Ngọc Thảo Linh Viết Cho Các Sơ Cùng Lớp Sau Khi Biết Mình Bị Nhiễm Bệnh!, Giáo phận Cần Thơ

    Ca sĩ Phi Nhung qua đời, VnExpress


    Không có nhận xét nào