Nhân Tuấn Trương
23/7/2026
Hoàng triều cương thổ là tên gọi chung cho một vùng đất gồm các tỉnh Kon tum, Pleiku, Darlac (Ban mê thuột), Langbiang (Lâm viên, nay là Đà lạt) và Đồng nai thượng (Province du Haut Donnai, tức là tỉnh Di Linh-Djiring nay là Lâm đồng) thuộc Cao nguyên Trung phần của Việt nam. Khá tương đồng qui chế pháp lý với vùng đất gọi là Khmer Krom ở miền Nam, trước thời Pháp thuộc vùng đất rộng lớn này hầu như vắng bóng người Kinh. Pháp sáp nhập vùng Khmer Krom vào VN theo thủ tục (tập quán quốc tế) gọi là “uti possidetis”. Nhưng lịch sử chủ quyền của VN tại vùng cao nguyên trung phần thì gay go hơn. Quan điểm của Pháp, Tây Nguyên là vùng đất "vô chủ” - Res Nullius. Người Pháp đã thu phục các dân tộc thiểu số bằng các định ước riêng để tách Tây Nguyên ra khỏi thẩm quyền của Huế.
Nếu không có các cuộc vận động ngoại giao “dài hơi” của Bảo Đại thì vùng đất này chưa chắc đã thuộc về VN.
Chiếu theo các tập sử chính thống của VN, các vua Nguyễn (đặc biệt là Minh Mạng, Thiệu Trị) đã xác lập chủ quyền và thiết lập các đơn vị hành chánh để quản lý vùng lãnh thổ này (gọi là Mạn Lợ, Sơn蛮) hay vùng Thượng.
Đại Nam Thực Lục chính biên (Kỷ thứ hai thời Minh Mạng và Kỷ thứ ba thời Thiệu Trị), sử quan ghi chép rõ việc triều đình thiết lập các “đồn”, “cơ”, quan, ải… để kiểm soát các vùng ranh giới giữa người Kinh và người Thượng đồng thời lập chế độ “lưu quan” để phong quan cho các tù trưởng địa phương làm “thổ ti” (thổ tù) hay “thổ mục”. Các sử quan đã dùng các từ "Mạn Lợ", "Mạn Thượng" hoặc "Sơn Man" để chỉ chung các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng núi miền Trung và Tây Nguyên
Đại Nam Nhứt Thống Chí: sử quan mô tả địa lý, ranh giới và các đơn vị hành chánh vùng cao nguyên phụ cận các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận. Các vua triều Nguyễn đặt ra các "Đạo" (như Đạo Binh Sơn ở Quảng Ngãi, Đạo An Lão ở Bình Định, hay đạo Mang Hít-Sơn Phòng) để vừa giao thương, vừa duy trì an ninh và thu thuế (trầm hương, ngà voi, sừng tê giác...) với các dân tộc thiểu số miền núi.
Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ: sử quan ghi chép chi tiết các qui định pháp lý, thuế khóa và chánh sách cai trị dân tộc thiểu số miền núi thời Minh Mạng - Thiệu Trị - Tự Đức, bao gồm việc phong chức tước cho các thủ lãnh người Thượng để họ quy phục triều đình.
Tức là, theo quan niệm Á đông về “chủ quyền lãnh thổ”, đất Tây nguyên là đất “phiên thuộc” của VN.
Khi người Pháp đặt chân đến Đông Dương (cuối thế kỷ 19), họ mang theo tư duy pháp lý phương Tây về chủ quyền. Pháp đòi hỏi bằng chứng về bộ máy cai trị trực tiếp, sổ bộ thuế khóa chi tiết từng làng, cũng như quân đội đồn trú... mà các dữ kiện này lại thiếu sót trong các văn khố triều đình nhà Nguyễn. Mối quan hệ dạng "triều cống - phong chức" giữa triều đình VN và các bộ tộc miền cao bị Pháp coi là mơ hồ và không đủ hiệu lực pháp lý phương Tây.
Vì sự thiếu sót này mà Pháp tuyên bố Tây Nguyên là vùng đất "chưa có chủ quyền thực sự" để rồi tiến hành các cuộc thám hiểm (như của Henri Maitre, Auguste Pavie) nhằm khám phá và vẽ bản đồ khu vực. Các dân tộc thiểu số, trải dài từ miền trung cho tới miền thượng du Bắc Việt, các nhà thám hiểm Pháp đã đại diện cho nhà nước Pháp để ký các kết ước (có giá trị như bảo hộ) với các tù trưởng các bộ tộc.
Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, Pháp tìm cách tách hẳn người Thượng ra khỏi ảnh hưởng của người Kinh, bằng cách thành lập đại lý Kontum (năm 1899), dần biến Tây Nguyên thành vùng đất thuộc quyền quản lý riêng của Toàn quyền Đông Dương. Sau Thế chiến II, năm 1946, "Lãnh thổ tự trị của người Thượng ở Nam Đông Dương" (Territoire Autonome des Populations Montagnardes du Sud de l'Indochine - PMSI) được thành lập, thủ phủ đặt tại Đà Lạt. Mục đích của Pháp là tách hoàn toàn Tây Nguyên khỏi lãnh thổ Việt Nam, biến nơi này thành một khu vực tự trị dưới quyền cai trị trực tiếp của quan chức Pháp.
Đến năm 1948, Pháp thuyết phục Bảo Đại trở lại chính trường với tư cách Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
Điểm son của Bảo Đại là yêu sách Pháp phải chấp nhận điều kiện thống nhứt lãnh thổ (bao gồm Nam Kỳ và Tây Nguyên) thì ông mới có thể làm việc với Pháp.
Hiệp định Élysée (8/3/1949) ký giữa Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol, Pháp chấp nhận trả Nam Kỳ cho VN đồng thời với vùng Cao nguyên trung phần. Các vùng dân tộc thiểu số sẽ có qui chế đặc biệt do Trưởng xứ (tức Quốc trưởng Bảo Đại) trực tiếp quy định, chớ Pháp không còn quyền quản lý trực tiếp.
Để hiện thực hóa thỏa thuận trên và chặn đứng nguy cơ Pháp quay lại kiểm soát Tây Nguyên, Bảo Đại ký Dụ số 6/QT/TG (ngày 15 tháng tư năm 1950) chính thức thành lập Hoàng triều Cương thổ, gồm 5 tỉnh Tây Nguyên với Đà Lạt được chọn làm thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ.
Điều ghi nhận: Hoàng triều cương thổ có qui chế pháp lý là "đất riêng" của Bảo Đại. Ngoài vùng Tây Nguyên (thường gọi là Hoàng triều Cương thổ Nam), qui chế này sau đó còn được mở rộng cho một số vùng dân tộc thiểu số ở phía Bắc (gọi là Hoàng triều Cương thổ Bắc - gồm các vùng Thái, Mèo, Mường ở Tây Bắc).
Ngày 11 tháng 3 năm 1951, Bảo Đại ban hành Dụ số 8/QT/TG ra "Qui chế Hoàng triều Cương thổ", xác lập phương thức quản lý để vừa giữ vững chủ quyền Việt Nam, vừa xoa dịu tâm lý chống đối của các dân tộc Thượng.
Qui chế Hoàng triều Cương thổ kéo dài được 5 năm (1950–1955). Đến khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại qua cuộc trưng cầu dân ý (tháng mười năm 1955), chế độ Hoàng triều Cương thổ chính thức bị xóa bỏ. Ngày 11 tháng ba năm 1955 , chính quyền ông Diệm ký dụ số 8 giải thể Hoàng triều Cương thổ đồng thời sáp nhập hoàn toàn bộ máy hành chính 5 tỉnh Tây Nguyên vào hệ thống hành chánh chung của chính quyền Trung ương tại Sài Gòn.
Tóm lại, công lao của Bảo Đại là ngăn chặn được âm mưu của Pháp thành lập một lãnh thổ tự trị ở vùng cao nguyên Trung phần. Quan điểm chiến lược của Pháp “ai kiểm soát cao nguyên Trung phần thì kiểm soát được toàn cõi Đông Dương” đã thất bại. Chớ nếu không thì lãnh thổ VN đã không rộng lớn như vậy và cả khu vực Đông Dương đã không “ổn định” như đã thấy hiện nay đâu.
Trương Nhân Tuấn
Không có nhận xét nào