Nguyễn Văn Tuấn/Úc Châu
13/7/2026
“...Việt Nam không thiếu người có học vị cao; vấn đề nằm ở chỗ hệ thống khoa học chưa tạo đủ điều kiện để nguồn nhân lực đó chuyển thành những công trình có đóng góp và ảnh hưởng quốc tế tương xứng.
Tóm lại, trong phạm vi 50 quốc gia dẫn đầu của Nature Index, Việt Nam đứng hạng 46 theo Share chánh thức, hạng 47 theo Share trên một triệu dân và hạng 47 theo tỉ số giữa Share quan sát và Share kì vọng từ một mô hình phân tích. Các kết quả này cho thấy sự hiện diện của khoa học Việt Nam trong nhóm ấn phẩm được Nature Index theo dõi còn quá thấp so với qui mô dân số”.
Có một cách trả lời câu hỏi đó bằng cách nhìn vào bảng xếp hạng có tên là Nature Index (Chỉ số Nature) [1]. Và, kết quả xếp hạng có lẽ không mấy tích cực.
Nature Index (NI) có nghĩa là gì?
Trước khi bàn về kết quả xếp hạng, có lẽ tôi cần có đôi lời giải thích ý tưởng NI. Một cách ngắn gọn, NI là một thước đo về nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Nhấn mạnh là 'chất lượng cao'.
Theo đó, nhóm nghiên cứu của Nature chọn một danh sách gồm 177 tập san và 1 hội nghị để đếm số bài báo mà một quốc gia công bố trong năm qua.
Danh sách tập san được một nhóm nhà nghiên cứu độc lập lựa chọn. Họ được hỏi: "Bạn muốn đăng công trình tốt nhứt của mình ở đâu nhứt?" Nói cách khác, đây là nhóm tập san được giới khoa học coi là "hạng nhứt."
Một số tập san tiêu biểu trong danh sách là Nature, Science, PNAS, Nature Communications, Science Advances, Journal of the American Chemical Society, Angewandte Chemie, Nano Letters, ACS Nano, Cell, Nature Medicine, Cancer Cell, The Lancet, New England Journal of Medicine, Physical Review Letters, Applied Physics Letters, v.v.
Số bài báo được đếm theo 2 cách: Count (số bài) và Share (chia sẻ).
Count là số bài báo có ít nhứt một tác giả thuộc quốc gia đó. Ví dụ: năm 2025, chúng tôi ở bên Úc hợp tác với các đồng nghiệp Việt Nam công bố 1 bài trên một trong những tập san trên, thì Úc được nhận 1 bài, và Việt Nam cũng 1 bài, bất kể có bao nhiêu tác giả trong bài báo. Tức là 1 bài thôi, nhưng hai quốc gia được hưởng!
Share là là phần công trình / bài báo được qui cho một quốc gia sau khi phân chia đóng góp của bài báo giữa các tác giả và cơ sở nghiên cứu tham gia. Ví dụ, 1 bài hợp tác giữa Úc và Việt Nam có thể được tính như sau:
• Count của Úc = 1 và Count của Việt Nam = 1
• Share của Úc = 0.7 và Share của Việt Nam = 0.3 (tổng cộng là 1).
Ví dụ: Việt Nam năm 2025 công bố Count = 213 bài báo trên các tập san hàng đầu, nhưng Share = 61 bài.
Nature Index xếp hạng quốc gia dựa trên chỉ số Share.
Quốc gia nào có NI cao nhứt?
Năm 2025, Nature xếp hạng 50 quốc gia. Nature chánh thức gọi là "2026 Research Leaders" (Lãnh đạo trong nghiên cứu năm 2026), dựa trên các bài báo công bố từ ngày 1/1/2025 đến 31/12/2025.
Trong dữ liệu năm 2025, China có Count bằng 59472 và Share bằng 52,735. Các con số này có nghĩa là các nhà khoa học China có tham gia 59472 công trình, tương đương với 52,735 bài, trong hệ thống Nature Index.
Kết quả cho thấy China đã vượt qua Mĩ, trở thành quốc gia có nhiều công trình khoa học trên các tập san hàng đầu. Việt Nam đứng hạng 46, với chỉ tham gia 213 bài báo trên các tập san hàng đầu.
Mười quốc gia hàng đầu là:
1 China, 59472 bài
2 Mĩ, 37995
3 Đức, 12483
4 Anh, 11955
5 Nhật, 6869
6 Pháp, 6855
7 Nam Hàn, 4649
8 Ấn Độ, 3620
9 Canada, 5647
10 Ý, 5098
Và 10 quốc gia hạng chót:
41 UAE, 503
42 Pakistan, 422
43 Slovenia, 272
44 Mã Lai Á, 339
45 Ai Cập, 396
46 Việt Nam, 213
47 Lỗ Ma Ni, 374
48 Nam Dương, 206
49 Colombia, 379
50 Croatia, 258
Xếp hạng sau khi hiệu chỉnh cho dân số
Tuy nhiên, cách xếp hạng trên có một vấn đề, vì chưa hiệu chỉnh cho lực lượng khoa học. Đáng lí ra là hiệu chỉnh cho số giáo sư, tiến sĩ, nhưng chúng ta không có con số này.
Trong điều kiện chưa có dữ liệu đầy đủ về lực lượng nghiên cứu, dân số được dùng như một mẫu số thay thế để mô tả "sản lượng khoa học" trên đầu người (Biểu đồ 1).
Và, theo cách xếp hạng mới này thì 10 nước hàng đầu là:
1 Thuỵ Sĩ
2 Tân Gia Ba / Singapore
3 Đan Mạch
4 Thuỵ Điển
5 Phần Lan
6 Na Uy
7 Mĩ
8 Do Thái
9 Úc
10 Đức
và 10 nước hạng chót:
41 Nam Phi
42 Thái Lan
43 Mã Lai Á
44 Ấn Độ
45 Mễ Tây Cơ
46 Colombia
47 Việt Nam
48 Ai Cập
49 Hồi quốc / Pakistan
50 Nam Dương
Một điểm đáng chú ý của bảng xếp hạng mới này là các quốc gia có dân số nhỏ đứng hạng rất cao. Ngược lại, các quốc gia có dân số lớn (như China và Mĩ) hay tương đối lớn (như Nam Dương, Việt Nam, Pakistan) thì bị "phạt" nặng nề. Chúng ta cần một phương pháp xếp hạng khách quan hơn, và đó là phương pháp so sánh giữa quan sát và kì vọng (O/E).
Xếp hạng theo phương pháp quan sát vs kì vọng
Bỏ qua chi tiết kĩ thuật [5], phương pháp xếp hạng O/E theo mô hình negative binomial dựa vào lí giải như sau.
Thay vì giả định rằng một quốc gia có dân số gấp đôi phải có số công trình gấp đôi, mô hình O/E ước tính mối liên quan giữa dân số và Share từ dữ liệu thực tế. Giá trị kì vọng được tính theo mô hình 'negative binomial'. Mỗi quốc gia sau đó được đánh giá bằng tỉ số giữa số công trình quan sát (O) và số công trình kì vọng (E).
Phân tích này cho ra kết quả sau đây:
1 Mĩ
2 Thuỵ Sĩ
3 China
4 Đức
5 Tân Gia Ba / Singapore
6 Anh
7 Đan Mạch
8 Thuỵ Điển
9 Úc
10 Hoà Lan
và 10 quốc gia hạng chót:
41 Nam Phi
42 Thái Lan
43 Lỗ Ma Ni / Romania
44 Mã Lai Á
45 Mễ Tây Cơ
46 Colombia
47 Việt Nam
48 Ai Cập
49 Hồi quốc / Pakistan
50 Nam Dương / Indonesia
Biểu đồ 2 cho thấy khoảng cách rất lớn về năng lực khoa học giữa các quốc gia. Hai mươi mốt quốc gia có Share cao hơn mức kì vọng, trong khi 29 quốc gia còn lại có Share thấp hơn mức kì vọng. Khoảng cách giữa nhóm đầu và nhóm cuối lên đến hàng trăm lần.
Riêng Việt Nam, với qui mô dân số hơn 100 triệu người, mô hình dự báo rằng Việt Nam đáng lẽ có thể đạt mức Share cao hơn nhiều. Trong thực tế, Share quan sát chỉ bằng khoảng 2.4% mức kì vọng của mô hình. Nói cách khác, Share của Việt Nam thấp hơn mức kì vọng khoảng 97.6%.
Việt Nam đứng hạng 47 trong số 50 quốc gia được phân tích.
Trường hợp Việt Nam và vài nhận xét
Mỗi năm, Việt Nam công bố khoảng 15,000 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế có bình duyệt. Nhưng con số những bài báo trên các tập san hàng đầu (theo Nature Index) thì chỉ tương đương 61 bài.
Những con số liên quan đến Việt Nam phải đặt trong bối cảnh chung. Theo bảng thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2025, trong đội ngũ 93954 giảng viên đại học của Việt Nam có [2]:
• Giáo sư tiến sĩ: 790 người
• Phó giáo sư, tiến sĩ: 6186
• Tiến sĩ, chưa có chức danh GS/PGS: 26528
Như vậy, số người có bằng tiến sĩ trở lên trong hệ thống đại học là 33504 người (con số 2025). Hạng Nature Index của Việt Nam là 47/50.
So với Thái Lan, con số giáo sư và giảng viên có bằng tiến sĩ là 28456 (con số 2024) [3]. Hạng Nature Index của Thái Lan là 42/50.
Một chỉ số có tính so sánh quốc tế tốt hơn là số nhà nghiên cứu R&D qui đổi toàn thời gian trên một triệu dân. Theo dữ liệu UNESCO được World Bank công bố, Thái Lan có khoảng 1.592 nhà nghiên cứu trên một triệu dân vào năm 2023. Con số tương ứng của Việt Nam là khoảng 768 [4].
Những so sánh thô trên cho thấy Việt Nam có một đội ngũ giảng viên và người mang học vị tiến sĩ tương đối lớn về số tuyệt đối. Tuy nhiên, qui mô nhân lực đó chưa được chuyển hoá thành sự hiện diện tương xứng trong các công trình được Nature Index theo dõi.
Khoảng cách có thể liên quan đến mật độ nhà nghiên cứu còn thấp, đầu tư R&D hạn chế, điều kiện làm nghiên cứu, cơ sở vật chất, cơ chế tài trợ, thời gian dành cho nghiên cứu và khả năng xây dựng các nhóm nghiên cứu có sức cạnh tranh quốc tế.
Bảng xếp hạng vì vậy nên được xem như một tấm gương hơn là một "bản án". Nó không mô tả toàn bộ nền khoa học Việt Nam, nhưng phản ảnh một phương diện quan trọng của nền khoa học đó: chất lượng cao.
Muốn hiểu rõ hơn, chúng ta cần mở rộng phân tích theo từng lãnh vực, từng cơ sở nghiên cứu và nhiều năm liên tiếp; đồng thời hiệu chỉnh thêm cho số nhà nghiên cứu, kinh phí R&D và mức độ hợp tác quốc tế. Một hệ thống đánh giá như vậy sẽ giúp chuyển cuộc thảo luận từ câu hỏi “Việt Nam đứng hạng bao nhiêu?” sang câu hỏi thiết thực hơn: “Việt Nam cần thay đổi điều gì để tiềm năng khoa học được chuyển thành những thành quả có ảnh hưởng?”
Việt Nam không thiếu người có học vị cao; vấn đề nằm ở chỗ hệ thống khoa học chưa tạo đủ điều kiện để nguồn nhân lực đó chuyển thành những công trình có đóng góp và ảnh hưởng quốc tế tương xứng.
Tóm lại, trong phạm vi 50 quốc gia dẫn đầu của Nature Index, Việt Nam đứng hạng 46 theo Share chánh thức, hạng 47 theo Share trên một triệu dân và hạng 47 theo tỉ số giữa Share quan sát và Share kì vọng từ một mô hình phân tích. Các kết quả này cho thấy sự hiện diện của khoa học Việt Nam trong nhóm ấn phẩm được Nature Index theo dõi còn quá thấp so với qui mô dân số.
_________
[1] https://www.nature.com/.../2025/feature-and-comment.html
[2] https://dbnd.1cdn.vn/2025/09/18/image-2-.png
[3] https://info.mhesi.go.th/images/1-00jj.jpg
[4] https://data.worldbank.org/indicator/SP.POP.SCIE.RD.P6
[5] Chi tiết mô hình phân tích được giải thích trong bài sau đây:
https://substack.com/home/post/p-206960438
Không có nhận xét nào