Nguyễn Văn Tuấn / Úc Châu
01/7/2026
“...Có lẽ sự mất mát lớn nhứt khi địa danh bị đổi tên là con người bị buộc phải sống trong hai lớp bản đồ. Một bản đồ hiện tại, dùng cho giấy tờ và đời sống hằng ngày. Một bản đồ khác nằm trong trí nhớ. Trên bản đồ thứ hai đó, những tên cũ vẫn còn nguyên: Tự Do, Công Lý, Hồng Thập Tự, Cộng Hoà, Yên Đỗ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, v.v. Trường cũ vẫn mang tên cũ. Đường cũ vẫn mang tên cũ. Thành phố cũ vẫn hiện ra với giọng nói và những con người của nó”.
Có lần tôi đi ăn sáng ở một quán cơm tấm vỉa hè trong một con hẻm nhỏ tại Quận 1. Quán nhỏ, bàn thấp, xe gắn máy thỉnh thoảng ra vào hẻm, nói chung là một buổi sáng tiêu biểu của một thành phố vẫn ồn ào như hồi nào.
Tôi nhìn ra con đường trước mặt và buột miệng nói:
“Đây là đường Yên Đỗ ngày xưa.”
Chị bán cơm tấm nhìn tôi, hơi giật mình. Chị nói:
“Lâu lắm rồi mới có người nhắc đến cái tên đó. Anh chắc là ở nước ngoài?”
Tôi gật đầu.
Sau vài câu chuyện, tôi mới biết chị từng là giáo viên của trường Trung học Gia Long nổi tiếng trước năm 1975. Bỗng nhiên, giữa một buổi sáng bình thường, giữa dĩa cơm tấm và tiếng xe ngoài đường, có những cái tên cũ hiện về: Yên Đỗ, Gia Long, Sài Gòn.
Những cái tên đó như những cánh cửa nhỏ mở ra một địa danh đã lui vào trí nhớ.
Tôi nhớ hoài cái nhìn giật mình của chị. Cái giật mình đó cho thấy một sự thật: có những tên tưởng đã mất, nhưng thật ra vẫn còn nằm đâu đó trong lòng người. Chỉ cần ai đó gọi lên, chúng trở lại. Chúng trở lại cùng với tuổi trẻ, trường xưa, đường cũ, bạn bè cũ, và một đời sống đã bị lịch sử đẩy sang bên kia bờ.
Tên của một địa phương là như vậy. Nó là chiếc chìa khóa mở vào kí ức. Nếu bạn từng xa quê và nghe lại tên làng cũ, tên đường cũ, tên trường cũ, tự nhiên bạn thấy lòng mình chùng xuống. Có khi trong một tiếng gọi ngắn ngủi có khi chứa cả một đời người. Có khi một cái tên tuy chẳng có gì sang trọng, như Sài Gòn hay Kiên Giang chẳng hạn, nhưng nó là cả một trời kí ức. Có mùi vị và âm thành của buổi sáng cũ. Có bóng cây bên đường. Có tà áo mấy cô nữ sinh. Có tiếng trống trường. Có một người thầy, một người bạn, một người thân đã khuất. Có khi có cả một thời thanh xuân mà người ta tưởng đã quên.
Nói như vậy để thấy rằng địa danh nó mang nhiều hơn một tên gọi. Nói ví von, nó là nơi mà kí ức trú ngụ trong ngôn ngữ. Người ta sống trong một thành phố, nhưng người ta cũng sống trong tên của thành phố đó. Người ta đi trên một con đường, nhưng trong tâm tưởng, con đường đó mang theo những lớp đời đã đi qua. Tên gọi nối người hôm nay với người hôm qua. Nối hiện tại với những gì đã khuất.
Đổi tên một địa danh là một cách sắp xếp lại kí ức: từ nay nơi này phải được nhớ bằng một cái tên khác, một lịch sử khác, một trật tự khác. Bản đồ được in lại. Sách giáo khoa dùng tên mới. Người trẻ lớn lên với tên mới.
Nhưng trong lòng người cũ, có một sự đứt đoạn.
Những người từng sống với tên cũ bỗng thành những chứng nhân. Họ nhớ một cái tên mà người trẻ chưa từng nghe, như tôi nhớ đến Yên Đỗ mà anh tài xế Grab nghe như xa lạ.
Họ nói “ngày xưa chỗ này gọi là…” và câu nói đó tự nó đã mang một nỗi buồn. Nỗi buồn của người còn giữ chìa khóa, nhưng căn nhà cũ đã đổi bảng số. Nỗi buồn của người còn nhớ đường về, nhưng tên đường trên bản đồ đã khác.
Tôi nghĩ đến chị giáo viên Gia Long bán cơm tấm buổi sáng hôm đó. Với một người đi ngang, chị chỉ là người bán hàng. Nhưng khi nghe hai chữ Yên Đỗ, trong chị chắc có một miền kí ức sống dậy. Có thể là sân trường Gia Long. Có thể là đồng nghiệp cũ. Có thể là học trò cũ. Có thể là những buổi sáng mặc áo dài đi dạy.
Cái tên Yên Đỗ hôm đó là một dịp như vậy.
Tôi nói ra một tên đường cũ. Chị ấy nghe được một tín hiệu từ quá khứ. Giữa hai người xa lạ bỗng có một sợi dây nối liền: sợi dây của một Sài Gòn cũ. Tôi ở xa về. Chị ở lại. Nhưng cả hai đều nhận ra rằng cái tên ấy từng có thật, từng thuộc về thành phố này, từng nằm trên miệng nói của bao nhiêu người.
Có lẽ sự mất mát lớn nhứt khi địa danh bị đổi tên là con người bị buộc phải sống trong hai lớp bản đồ. Một bản đồ hiện tại, dùng cho giấy tờ và đời sống hằng ngày. Một bản đồ khác nằm trong trí nhớ. Trên bản đồ thứ hai đó, những tên cũ vẫn còn nguyên: Tự Do, Công Lý, Hồng Thập Tự, Cộng Hoà, Yên Đỗ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, v.v. Trường cũ vẫn mang tên cũ. Đường cũ vẫn mang tên cũ. Thành phố cũ vẫn hiện ra với giọng nói và những con người của nó.
Người đi xa thường giữ bản đồ thứ hai rất kĩ. Họ giữ tên cũ như giữ một mảnh căn cước. Vì nơi chốn đối với người xa quê thường bắt đầu bằng tên gọi. Nói “Sài Gòn” khác với nói một cái tên hành chánh “Thành phố Hồ Chí Minh”. Nói “Gia Long” khác với nói tên mới của một ngôi trường. Nói “Yên Đỗ” khác với nói tên hiện nay của con đường. Mỗi tên gọi mang theo một tinh thần riêng.
Tất nhiên, lịch sử luôn biến động. Đâu có ai tắm trên một dòng sông hai lần. Người xưa nói vậy. Tên đất, tên đường, tên trường có thể thay đổi theo thời gian. Nhưng cách thay đổi cho thấy thái độ của một xã hội đối với quá khứ. Một cái tên được cộng đồng chọn lựa qua suy nghĩ và thảo luận là một chuyện. Một cái tên bị gỡ xuống vì quyền lực muốn xóa một thời kì lịch sử là chuyện khác vì đó là một hình thức cắt kí ức.
Mà kí ức bị cắt thì lịch sử bị rời rạc.
Một dân tộc cần kí ức để biết mình là ai. Kí ức giúp người ta hiểu tại sao một con đường có tên đó, tại sao một ngôi trường được gọi như vậy, tại sao một dòng sông hay một khu chợ được nhắc đến bằng giọng thân thương. Khi những tên gọi cũ biến mất khỏi đời sống, người trẻ mất dần cơ hội hỏi về quá khứ. Họ đi qua một con đường mỗi ngày mà ít biết dưới lớp tên hiện tại còn có một lớp tên khác, và dưới lớp tên đó còn có một lớp đời sống khác.
Tôi rời quán cơm tấm hôm đó với một cảm giác lạ. Dĩa cơm đã ăn xong, đường phố vẫn ồn ào, thành phố vẫn tiếp tục trôi theo nhịp sống của nó. Nhưng trong tôi còn vang lại câu nói của chị:
“Lâu lắm rồi mới có người nhắc đến cái tên đó.”
Nghe như một lời than nhẹ. Cũng có thể như một lời mừng. Mừng vì cái tên đó vẫn còn người nhớ. Mừng vì giữa một thành phố đã đổi nhiều bảng hiệu, vẫn còn những người nhận ra nhau bằng một tên đường cũ.
Hôm nay (2/7/2026) kỉ niệm 50 năm ngày "Sài Gòn" thành "Thành phố Hồ Chí Minh" khiến tôi nhớ tới những lời nhạc trong ca khúc bất hủ "Sài Gòn niềm nhớ không tên" (mà ở Việt Nam ít ai nghe qua) của Nguyễn Đình Toàn. Ca khúc này nói lên rằng đổi tên một địa phương không chỉ là thay một danh xưng, mà là can thiệp vào kí ức, bản sắc và 'cảm giác thuộc về' (sense of belonging) của cộng đồng.
Thêm:
Nguyễn Tuấn
Trong thế kỉ 20, các nước xnch thường dùng việc đổi tên địa danh như một nghi thức chánh trị. Trường hợp nổi tiếng nhứt có lẽ là St Petersburg, Nga. Sau Thế chiến I, nhà cầm quyền Nga nghĩ rằng chữ "St Petersburg" (thành phố của Thánh Peter) có vẻ giống Đức quá, nên thay đổi thành Petrograd. Rồi sau khi lãnh tụ cộng sản Lenin qua đời, nhà cầm quyền đổi Petrograd thành Leningrad vào năm 1924. Đến năm 1991, khi Liên Xô tan rã, qua một cuộc trưng cầu dân ý, tên St. Petersburg được khôi phục bằng sắc lệnh kí ngày 6/9/1991.
Một trường hợp khác là Tsaritsyn. Thời Xô Viết, thành phố Tsaritsyn được đổi tên thành Stalingrad để vinh danh lãnh tụ khét tiếng Joseph Stalin. Nhưng đến năm 1961, Stalingrad được đổi thành Volgograd trong tiến trình xoá bỏ hình ảnh ác ôn của Stalin dưới thời Khrushchev. Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay, cái tên Stalingrad vẫn gây cảm xúc trái ngược: nó gợi nhớ chiến thắng và hi sinh trong Thế chiến II, nhưng cũng gợi nhớ chế độ đàn áp đẫm máu của Stalin.
Ở Đông Đức cũ, thành phố lâu đời Chemnitz bị đổi thành Karl-Marx-Stadt năm 1953 để vinh danh ông tổ cộng sản Karl Marx. Điều thú vị là Karl Marx không sanh ra ở Chemnitz, cũng không phải là linh hồn lịch sử của thành phố. Nhưng chế độ cộng sản Đông Đức cần một biểu tượng, và thành phố bị biến thành nơi mang tên cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ và sau một cuộc trưng cầu dân ý, cư dân thành phố bỏ phiếu trở lại tên Chemnitz vào ngày 1/6/1990.
Nguyễn Văn Tuấn
Không có nhận xét nào