Anh Vũ/RFI
10/07/2026
Hội nghị thượng đỉnh NATO vừa kết thúc tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong chiến lược quốc phòng của Liên minh. Cam kết nâng chi tiêu quốc phòng lên mức 5% GDP vào năm 2035 không chỉ mở ra một chu kỳ tái vũ trang lớn nhất của châu Âu kể từ sau Chiến tranh Lạnh, mà còn tạo ra cơ hội kinh doanh khổng lồ cho các tập đoàn công nghiệp quốc phòng Mỹ.
Tổng thống Mỹ Donald Trump (T) và tổng thư ký NATO Mark Rutte tại hội nghị thượng đỉnh Liên Minh Bắc Đại Tây Dương ở Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ, ngày 08/07/2026. © Alex Brandon / AP Photo
Dù mục tiêu được tuyên bố là tăng cường năng lực tự chủ quân sự của châu Âu, thực tế cho thấy Washington vẫn sẽ là bên hưởng lợi lớn nhất trong giai đoạn chuyển đổi này.
Thực tế cho thấy, sau hơn 3 năm xung đột Nga - Ukraina và trước những lo ngại về khả năng Mỹ giảm dần vai trò bảo trợ an ninh, các nước NATO đã nhất trí đầu tư mạnh vào quốc phòng. Tuy nhiên, việc xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng đủ năng lực không thể diễn ra trong thời gian ngắn. Chính khoảng trống về công nghệ, dây chuyền sản xuất và kinh nghiệm đã tạo điều kiện để các "ông lớn" quốc phòng Mỹ tiếp tục giữ vai trò trung tâm.
Theo trang tin Quy Nghiên cứu Chiến lược Pháp - FRS (www.frstrategie.org), năm 2024, xuất khẩu vũ khí của Mỹ đạt mức kỷ lục 319 tỷ đô la Mỹ, trong đó châu Âu là thị trường lớn nhất. Giá trị các hợp đồng bán vũ khí theo kênh chính phủ (FMS) sang châu Âu tăng từ 10 tỷ đô la năm 2020 lên 43 tỷ đô la năm 2024. Ba Lan là khách hàng lớn nhất, bên cạnh Đức, Phần Lan và nhiều quốc gia Đông Âu khác, nhờ các chương trình hỗ trợ tài chính của Washington.
Doanh số của các tập đoàn hàng đầu như Lockheed Martin, RTX, Northrop Grumman, General Dynamics và Boeing đều tăng mạnh nhờ nhu cầu bổ sung năng lực quân sự và tái thiết kho dự trữ của các nước NATO.
Ngay tại Hội nghị thượng đỉnh Ankara lần này, hàng loạt thỏa thuận công nghiệp giữa các tập đoàn Mỹ với những tổ hợp quốc phòng của châu Âu đã được công bố. Điểm đáng chú ý là phần lớn các dự án đều đặt nhà máy tại châu Âu, nhưng công nghệ cốt lõi, bản quyền thiết kế và chuỗi cung ứng vẫn thuộc về các tập đoàn Mỹ.
"Sản xuất tại châu Âu" nhưng lợi nhuận vẫn chảy về Mỹ
Mô hình mà Washington đang thúc đẩy không đơn thuần là xuất khẩu vũ khí như trước đây, mà là xuất khẩu công nghệ, giấy phép sản xuất và các liên doanh công nghiệp.
Điều này mang lại nhiều lợi ích. Thứ nhất, giúp các nước châu Âu nhanh chóng mở rộng năng lực sản xuất mà không phải tự phát triển các hệ thống vũ khí mới, vốn mất hàng chục năm và tiêu tốn hàng chục tỷ đô la. Thứ hai, các tập đoàn Mỹ vẫn thu lợi từ phí bản quyền, dịch vụ bảo dưỡng, cung cấp linh kiện và nâng cấp vòng đời sản phẩm.
Nói cách khác, dù dây chuyền đặt tại Đức, Ba Lan hay Ý, phần giá trị gia tăng lớn nhất vẫn thuộc về các doanh nghiệp Mỹ.
Châu Âu, thị trường hàng trăm tỷ đô la
Theo cam kết của NATO, các nước thành viên sẽ dành 5% GDP cho quốc phòng vào năm 2035. Nếu tất cả thành viên thực hiện đúng mục tiêu này, tổng chi tiêu quốc phòng của NATO sẽ tăng thêm hàng trăm tỷ đô la so với hiện nay.
Riêng năm 2025, các nước NATO đã mua hơn 54 tỷ đô la trang thiết bị quân sự của Mỹ, đồng thời tạo ra khoảng 200.000 việc làm tại Hoa Kỳ. Con số này được dự báo còn tăng mạnh khi các chương trình hiện đại hóa quân đội của Liên minh bước vào giai đoạn triển khai.
Trang tin boursorama.com cho biết, hôm 07/07 tại Diễn đàn Công nghiệp quốc phòng bên lề Thượng đỉnh, NATO thông báo đầu tư hơn 40 tỷ đô la trong 5 năm tới cho năng lực chống drone. Đây là lĩnh vực mà nhiều doanh nghiệp Mỹ như Anduril, RTX hay Northrop Grumman đang có lợi thế công nghệ rõ rệt.
Châu Âu vãn theo đuổi mục tiêu tự chủ
Dù vậy, nhiều nước châu Âu cũng không muốn sự phụ thuộc kéo dài. Liên Hiệp Châu Âu đang triển khai nhiều sáng kiến nhằm củng cố nền công nghiệp quốc phòng nội khối, trong đó có Chương trình Công nghiệp Quốc phòng châu Âu (EDIP), Quỹ Quốc phòng châu Âu (EDF) và chiến lược "Mua hàng châu Âu" nhằm ưu tiên các doanh nghiệp như Airbus Defence, Leonardo, Saab, KNDS hay Rheinmetall.
Tuy nhiên, theo giới chuyên gia, ít nhất trong một thập kỷ tới, châu Âu sẽ vẫn cần đến công nghệ, hệ thống chỉ huy, tên lửa phòng không, vũ khí tầm xa và nhiều nền tảng tác chiến mà Mỹ đang nắm ưu thế tuyệt đối.
Làn sóng tăng chi tiêu quốc phòng của NATO không đồng nghĩa với việc châu Âu ngay lập tức thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ. Trái lại, trong giai đoạn đầu của quá trình tái vũ trang, các tập đoàn quốc phòng Mỹ nhiều khả năng sẽ là những bên hưởng lợi lớn, nhất là khi vừa bán công nghệ, vừa mở rộng sản xuất ngay trên lãnh thổ châu Âu.
Về lâu dài, nếu các chương trình phát triển công nghiệp quốc phòng của Liên Hiệp Châu Âu đạt kết quả, tỷ trọng của doanh nghiệp châu Âu có thể tăng lên. Nhưng trong hiện tại, nghịch lý đang xuất hiện : Châu Âu chi nhiều tiền hơn để tăng cường năng lực phòng thủ của chính mình, song một phần đáng kể nguồn lực đó vẫn tiếp tục chảy vào nền công nghiệp quốc phòng Mỹ.
RFI
Không có nhận xét nào