Bài 1
Tác giả: Phạm Hồng Lam
July 29, 2026
Mục lục
Trống đồng Đông Sơn, wiki commons
Sử Việt đọc vài trang.
Lâu rồi, tôi có đọc ở đâu đó một bài viết có tựa đề “Sử Việt Đọc Dăm Quyển…”. Đề tựa làm tôi ái ngại, ôi chao! phải đọc tới “dăm quyển” mới học được một chút gì từ lịch sử thì khó và mệt quá! Nhất là vào thời đại quen lướt tin trên mạng thông tin toàn cầu ngày nay. Không ai có giờ và có sức, để thoải mái đọc hết được một bộ Sử, chứ đừng nói là vài bộ, mà mỗi bộ ít nhất cũng vài trăm tới cả nghìn trang.
Và rồi chợt nghĩ, như vậy, có cách nào để chỉ cần đọc “vài trang”, thay vì “dăm quyển”, mà cũng có thể nắm được những nét tổng quan lịch sử và văn hoá của dân tộc mình không?
Thì mình cứ thử làm xem!
Loạt (5) bài này là một nỗ lực, để thử làm sao, qua vài chục trang viết, người đọc có thể nhận ra được sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc và rút ra được những bài học cần thiết cho hiện tại và tương lai. Chúng được viết đầu những năm 90 của thế kỉ trước, khi toàn bộ hệ thống cộng sản đang sụp đổ.
Tình trạng đất nước và dân tộc lúc đó làm người Việt bất an.
Do đâu dân Việt phải rơi vào số phận bi đát như ngày nay?
Và đâu là lối ra?
Và tôi nghĩ, việc rà soát lại lịch sử có lẽ sẽ giúp mình trong việc đi tìm lời giải. Là vì, muốn rõ đầu ra thì phải biết đầu vào; muốn tìm lối ra tương lai thì phải rõ lối vào trong quá khứ.
Chúng ta hoang mang, lo lắng luận bàn về họa mất nước, về ách nô lệ, về nỗ lực thoát Trung, về tính phản dân tộc của đảng cầm quyền. Nhưng có thể mất nước được không? Tại sao trước đây ta thoát Trung được sau cả ngàn năm bị lệ thuộc? Nội lực nào đã giúp cho cha ông ta làm việc đó? Cái gì làm cho chúng ta không bị đồng hóa với người phương bắc? Giữa hai dân tộc này có gì khác biệt? Cái gì đã làm cho văn minh Đại Việt đạt hoàng kim dưới thời Lý – Trần, và do đâu nó lại thoái trào sau đó? Chính sách văn hóa của nhà Nguyễn trước họa Pháp thuộc trước đây và chủ trương mở đường cho Trung thuộc của đảng cộng sản việt nam hiện nay có gì tương đồng? v.v…
Đó là những câu hỏi bắt ta phải trả lời trên con đường kiếm tìm lối ra cho đất nước. Đọc lại bài học lịch sử sẽ phần nào soi sáng cho ta về những trả lời đó.
Dĩ nhiên những bài sau đây là chất liệu mời gọi mọi người chúng ta cùng thảo luận. Vì có thể có những luận chứng đã bị vượt qua bởi những diễn tiên lịch sử hoặc bởi những khám phá mới của khoa học.
Nhưng trước khi đi vào câu truyện, tôi muốn chia sẻ cái nhìn cá nhân về Lịch Sử.
Đối với tôi, Lịch Sử không phải là sự trình bày và sắp xếp những biến cố rời rạc nối tiếp nhau. Nhưng là một cuộc hành trình, phản ảnh ý chí của một dân tộc. Hành trình từ hồn hoang Khởi Đầu bước qua những thăng trầm Hiện Tại để hướng về hạnh phúc dân sinh Tương Lai. Như vậy, bước đi của lịch sử không may rủi, mà có sự đi lên.
Một hình ảnh minh hoạ. Với giáo sư Nguyễn Khắc Dương, vào đầu thập niên 1970, tại Đại học Đà-lạt. Sinh viên của tất cả các ban Văn Khoa năm đầu học chung với nhau hai giảng khoá: Triết và Văn Học Việt Nam. Thầy Dương lúc đó là giáo sư Triết, đồng thời là Quyền Khoa Trưởng Văn Khoa. Hôm đó là buổi lên lớp đằu tiên. Ông tới lớp trễ, trong lúc gần hai trăm sinh viên ngồi chật giảng đường sốt ruột chờ đợi. Bước vào lớp, chẳng để ý tới ai cả, ông một mạch bước lên, cầm viên phấn vẽ lên bảng một vòng xoáy trôn ốc, dưới nhỏ trên dần phình ra to. Rồi ông quay xuống, hỏi: Các anh chị học Triết để làm gì? Chưa bàn tay nào kịp đưa lên, thì ông hỏi lại: Nhưng trước hết các anh chị hiểu Triết là gì đã? Nhiều cánh tay đây đó đưa lên. Nhiều ý kiến hàn lâm được trình bày. Cuối cùng, ông giải thích: Học Triết không phải là học một kiến thức, mà là học cách thắc mắc đặt vấn đề. Triết cũng giống như một vòng xoáy ốc, có khi cứ một chuyện gặp đi gặp lại, nhưng càng đặt vấn đề, càng bàn luận, nó càng mở ra, rộng thêm, cao hơn.
Nhiều biến cố, nhiều cơ hội đã lặp đi lặp lại trong lịch sử dân tộc. Nhưng xem ra chúng ta đã không đặt quan tâm đặt vấn đề và tìm hiểu rạch ròi, và đất nước đã chẳng mở ra và đi lên được.
Cũng có thể ví lịch sử như một dòng sông: có những đoạn gập ghềnh cuộn sóng, nhưng cũng có những lúc con nước lặng lờ yên trôi; nhưng hướng của dòng sông là luôn tìm về chỗ trũng để đi ra biển. Hay lịch sử một dân tộc cũng như đời sống một con người: thịnh suy, lầm lỡ cứ xẩy ra nối tiếp nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng của người vẫn là đi tìm hạnh phúc và cơ hội triển nở toàn vẹn bản ngã của mình trong hạnh phúc chung.
Dân tộc Việt khai sinh cùng một bọc, trăm con dắt nhau lên rừng xuống bể – và giờ đây một số bôn ba hải ngoại – không ngoài mục đích tìm phương thăng tiến. Trên bước đường hành trình gặp nhiều thử thách ít dân tộc nào sánh bằng. Nhưng với tình tự “đồng bào” và với ý chí tự cứu – như đã nhiều lần chứng minh trong quá khứ – dân tộc Việt cuối cùng chắc chắn sẽ đi tới mục tiêu của mình.
Một cái nhìn có thể nói lạc quan về Sử.
Hay nói theo ngôn ngữ hàn lâm, một cái nhìn mang âm hưởng Hegel!
Ra Đi Từ Huyền Sử Trăm Con
Câu hỏi đầu tiên: Dân tộc Việt đến từ đâu? Đâu là nguồn gốc của tộc Việt?
Sách Lĩnh Nam Chích Quái kể: „… Lạc Long Quân lấy con gái Đế-Lai là nàng Âu-Cơ, sinh ra trăm trai. Một hôm vua bảo Âu-Cơ: “Ta là giống Rồng, sinh ở Thuỷ Tộc! Nàng là giống Tiên, sống ở trên đất! Thuỷ, Hoả khắc nhau, sum họp thật khó…”! Bèn cùng nàng li biệt nhau… Chia năm chục con theo mẹ về miền núi; năm chục con theo cha về biển Nam. Phong người con cả là Hùng-Vương nối ngôi vua. Họ Hùng nối ngôi trải được 18 đời.
Trăm trai ấy là tổ của Bách Việt vậy [1]
Phù điêu Quốc tổ Lạc Long Quân tại Đền Nội Bình Đà, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Phù điêu “Tổ mẫu Âu Cơ”, tại Đền Nội Bình Đà, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Author: Lengoctho2207
Huyền thoại Hồng Bàng, như vậy, cho biết dân Việt xuất phát từ đa nguyên Rồng-Tiên, chứ không như nhiều dân tộc khác khai nguồn từ nhất nguyên độc tổ. Rồng – Tiên, hay nói khác đi là Âm – Dương, hai sinh lực uyên nguyên cấu thành vũ trụ. Huyền thoại cũng cho hay, trăm con sinh ra cùng một bọc là tổ của trăm dòng Việt (Bách Việt). Và dừng lại ở đó.
Nhưng Bách Việt là những ai, ở đâu? Huyền thoại không nói rõ. Đấy là câu hỏi cho các sử gia và học giả sau này.
Truy Nguyên Bách Việt
Tượng một người đàn ông với mái tóc ngắn kiểu Việt điển hình và những hình xăm trên cơ thể từ nước Việt thời Xuân Thu (nay thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc). Author: Discott, wiki commons
Học giả Edouard Chavannes và Leonard Aurousseau [2] đã căn cứ vào Sử Kí Tư Mã Thiên (bộ sử cổ nhất của Trung Quốc) và một số sử liệu khác cho rằng, tổ tiên dân Việt vốn liên quan đến nước Việt ở vùng Chiết-giang (miền nam Trung Quốc ngày nay). Nước Việt này từ thế kỉ -V. (trước Công Nguyên) đã có một lãnh thổ rộng lớn. Năm -472 Câu Tiễn (vua nước Việt) đã mở rộng lãnh thổ về phía bắc lên đến tận Giang-tô và Nam Sơn-đông. Sau khi Câu Tiễn mất (-465), các vua kế vị không giữ nổi bờ cõi, khiến đất đai thu hẹp dần và cuối cùng bị nước Sở thôn tính vào năm -333. Từ đó người Việt bị phân tán và di cư về phía nam, lập nên nhiều tiểu quốc dọc miền duyên hải phía nam Chiết-giang (rải rác ở phía nam Trung Quốc và phía bắc Việt Nam hiện nay).
Các tiểu quốc này được Aurousseau gọi là Bách Việt. Trong các tiểu quốc Bách Việt sử sách còn đề cập đến những nước như Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Lạc Việt…
Năm -221 vua nước Tần là Tần Thuỷ Hoàng thôn tính các tiểu quốc, trong đó có hầu hết Bách Việt, và lập nên nước Trung Hoa thống nhất ngày nay.
Tắt lại, theo huyền thoại và luận chứng của Chavannes – Aurousseau thì dân tộc Việt ngày nay là miêu duệ của những nhóm Việt xưa từ miền bắc di xuống.
Nhiều thế hệ học giả Việt Nam về sau đã hoàn toàn tin vào cội nguồn bắc di này.
Nhưng Chavannes và Aurousseau đã không cho biết, là khi những nhóm người này xuống, thì miền đất phía nam đã có sẵn cư dân bản địa ở đó chưa?
Dựa vào khảo cổ, phân tách nhân chủng và đối chiếu ngôn ngữ, một số nhà nghiên cứu mới đây đi tới kết luận: đã có; và không những đã có, mà các dân này cũng đã có một nền văn minh trỗi vượt hơn nền văn minh các sắc dân (trung hoa) phía bắc [3]
Nhưng thổ dân này là những ai, thuộc chủng tộc nào, thì lại có nhiều giả thuyết.
Một trong những giả thuyết tương đối mạch lạc: “Giả Thuyết Nhân Chủng” được giáo sư Nguyễn Khắc Ngữ trình bày trong tác phẩm của ông [4]
Bằng các dữ liệu lịch sử, nhân chủng, văn hoá và xã hội, Nguyễn Khắc Ngữ chứng minh người Việt là một dân tộc có nguồn gốc tạp chủng, do ba gốc Melanesian, Indonesian và Australoid từ phía nam lên và Mogoloid từ phía bắc xuống tạo thành, trong đó Melanesian là chủng có nguồn gốc cổ nhất.
Sắc dân đầu tiên hiện diện trên giải đất chúng ta, theo ông, là giống Melanesian. Sắc dân này hiện còn sống ở miền bắc đảo Tân-Guinea (thuộc quần đảo Nam Dương) và các đảo rải rác trên Thái Bình Dương. Dân này đã dùng loại thuyền đặc biệt để phiêu lưu thật xa.
Người Melanesian có cùng đặc điểm nhân hình với người Việt Nam, theo chế độ mẫu hệ, thờ thần rùa, cắt tóc, xâm mình, ăn trầu, ăn cơm gạo, đàn bà mặc váy (váy là đặc trưng của Việt, Tàu không có), làm rẫy, làm nhà sàn mái cong và thuyền hình chim (nhà mái cong và thuyền chim là hai hình ảnh có nhiều trên các trống đồng). Tất cả những yếu tố đó trùng hợp với cơ cấu gia đình, xã hội, phong tục, tập quán của người Việt hiện nay.
Sắc dân thứ hai đến xứ ta là giống Indonesian cổ. Giữa Việt Nam và Mã-Lai chỉ cách nhau một vùng biển nông. Trong thời băng giá cách đây vài chục ngàn năm, mặt nước biển thấp và vùng biển này có thể đa phần còn là đất liền nối hai nước. Vì vậy sự bắc di của giống Indonesian là điều chẳng có gì ngạc nhiên. Hiện nay trên cao nguyên và đồng bằng Phan Rang vẫn còn có những sắc tộc thuộc giống Indonesian như Chàm, Ra-đê, Jơ-rai…
Sự pha trộn giữa Melanesian và Indonesian sinh ra giống Australiod.
Sắc dân sau cùng đến xứ ta là giống Mongoloid từ phía bắc xuống.
Ba sắc dân Melanesian, Indonesian và Mongoloid pha trộn nên giống Việt [5]
Về mặt văn hoá, Việt đã bị văn hoá Tàu khống chế trong suốt hơn một ngàn năm. Tuy nhiên văn hoá Tàu đã không lấn át được bản sắc melanesian nơi tộc Việt. Bản sắc đó nay còn tồn tại cụ thể nơi xã hội Mường. Mường là người Việt đã chạy trốn lên miệt núi trước những cuộc bách hại và đồng hoá của thực dân bắc phương; họ vì thế không bị Hán hoá và còn giữ nhiều đặc tính ròng Việt.
Nguồn gốc dân Việt trên đây là kết quả của những nghiên cứu khoa học mới nhất. Bao lâu chưa có được những khám phá mới hơn, chúng ta chấp nhận kết quả này. Nếu không chấp nhận cội nguồn bản địa này, sẽ không thể cắt nghĩa được những khác biệt văn hóa giữa hai dân tộc Việt và Hoa, như ta sẽ tìm hiểu ở bài tiếp. Dù sao, kết luận về nhân chủng trên đây đã chấm dứt cuộc tranh luận giữa các học giả trên hai miền trong thập niên 60 và 70 của thế kỉ trước. Thời đó quan điểm của các nhà sử miền Bắc thường phản ảnh đường lối chính trị của nhà cầm quyền. Khi đảng cầm quyền còn “môi hở răng lạnh” với Tàu cộng thì họ được lệnh viết theo quan điểm của Chavannes-Aurousseau; lúc “cơm không lành canh không ngọt” với đàn anh nữa, thì họ lại được lệnh phải chứng minh Việt là sắc dân bản địa đã có mặt từ lâu trên vùng đất này.
Niềm xác tín Việt là dân tộc con cháu của phương bắc, và như vậy văn hóa Việt cũng đương nhiên là sản phẩm từ phương bắc, đã tùy thời tùy lúc thấm đẫm nơi các giai tầng học thức và lãnh đạo đất nước này. Mãi tới hôm nay nó vẫn đè nặng trên đầu óc của những kẻ cầm quyền trong đảng cộng sản việt nam.
Trong lịch sử Việt hiện đại, ta trải nghiệm được hậu quả bi đát của niềm tin này hai lần: nơi chính sách của nhà Nguyễn trong thế kỉ 19. và nơi chính sách của đảng cộng việt từ giữa thế kỉ 20. tới nay.
Địa bàn sinh sống của các tộc Bách Việt thời xa xưa. Photo: Dân Việt
……………
Chú thích:
[1] Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư. Đại Nam xuất bản, USA. Trang 33-34. Lê Hữu Mục, Lĩnh Nam Chích Quái. Trăm Việt, Oregon. Trang 43tt.Về thời Hùng Vương, xem thêm Phan Hưng Nhơn, Tìm Hiểu Về Thời Kì Hùng Vương. Độc Lập số 3/93.
[2] Leonard Aurousseau, La première conquête chinoise des pays annamites . BEFEO 23, 1923; Nguyễn Khắc Ngữ, Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam. Nghiên cứu Sử Địa. Montréal 1985: 13tt. Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã-Lai Của Dân Tộc Việt Nam. Xuân Thu 1971.
[3] Ở đây phải kể ba tài liệu đã làm đảo lộn một truyền thống nhận thức lâu đời: J.Y. Chu (và các đồng nghiệp), Genetic relationship of populations in China. Trong Proceedings of the National Academy of Science (USA). 1998, Nr. 95: 11763-11768 (ii). Qua khảo sát di truyền học, Gs. Chu khẳng định nguồn gốc của người Trung Hoa và nói chung của người Đông Á là do giống người ở Đông Nam Á đi lên. Stephen Oppenheimer, Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia. Phönix, London 1998. Oppenheimer cho hay, người Trung Quốc và Ấn-độ ngày nay có gốc từ Đông Nam Á, chứ không phải ngược lại. Wilhelm G. Solheim II, New light on a forgotten past. National Geographic, Vol. 139, Nr. 3, March 1971 cho biết, văn hoá Hoà Bình có trước, và văn hoá Lungshan (Trung Hoa) thoát thai từ văn hoá này.
Ngoài ra, việc định tuổi các hình hoạ trong hang động Suwalesi ở Indonesia mới đây buộc chúng ta phải viết lại lịch sử. Các hình hoạ này có độ tuổi tối thiểu 67.800 năm, xưa hơn nhiều so với tuổi các hình vẽ trong các động ở Âu châu. Trong khi đó, con người khôn ngoan (Homo sapiens) rời thung lũng Ethiopia Phi châu cách đây khoảng trên dưới 70.000 năm. Diều này cho thấy, con người đã có mặt tại Đông Nam Á và úc chân rất sớm.
[4] Nguyễn Khắc Ngữ, như trên.
[5] Nguyễn Đình Khoa, Nhân Chủng Học Đông Nam Á. ĐH & THCN. Hà Nội 1983: 106 cũng có một nhận định gần như thế: “Thời đại Đá Mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesian và Melanesian là hai thành phần chủ yếu… Sang thời đại Đồng Sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hoá.”
Bài 2: Văn hóa Việt dưới ảnh hưởng của Bắc phương (-111 đến 939)
Sau khi thống nhất thiên hạ lập nên nước Trung Hoa, nhà Tần cất quân xuôi nam chiếm lĩnh các tiểu quốc Bách Việt còn lại. Và họ bỗng ngỡ ngàng đối diện với một dân tộc rất lạ: Người Âu-Lạc cắt tóc ngắn, đầu vấn khăn, vẽ mình, ăn trầu, nhuộm răng, chắp tay và mặc áo khép về phía trái, biết dùng thuỷ triều để canh tác hai mùa, xã hội tổ chức phân cấp và do những Lạc hầu cha truyền con nối cai trị… [1]
Ấy là những yếu tố hoàn toàn khác với dân Hán.
Trung Hoa đô hộ Việt liên tiếp qua ba đợt kéo dài hơn một ngàn năm. Suốt hơn ngàn năm ấy văn hoá Việt đã bị biến đổi nhiều do ảnh hưởng nặng nề của văn hoá bắc phương.
1. Tổ Chức Gia Đình, Làng Xã Và Địa Vị Phụ Nữ
Sách Hậu Hán Thư (tk. 5.) chép, khi sang tới Việt, tướng Mã-Viện nhận xét có 10 điểm khác biệt giữa phong tục Hán và Việt. Tuy sách không ghi rõ chi tiết 10 điểm này, nhưng chắc chắn trong số đó có điều về tập tục cưới hỏi và về tổ chức gia đình. Dân Việt thời đó cưới hỏi chỉ mời nhau trầu cau, chứ không có lắm nghi lễ với người làm mối, thông tri chính quyền và sự hiện diện của hai họ như dân Hán [2]. Là vì hôn lễ còn đượm tính chất tôn giáo của xã hội nông nghiệp.
Cứ mỗi xuân về, trai gái kéo nhau về một địa điểm linh thiêng, thường là một cánh đồng có suối mát hoa thơm, đối hát với nhau. Họ thi tài, thử thách, tự do chọn đôi cặp và ăn ở với nhau tại đó, trước sự chứng giám của thần linh và trong vòng chuẩn nhận của xã hội [3]. Lễ hội hát đối mùa xuân này, cho tới giữa thế kỉ 20 ở vùng thượng du Bắc Việt vẫn còn diễn ra (tiêu biểu là lễ hội ở làng Lim), dù không còn thuần tuý như xưa. Thời đó dân Việt chưa bị thanh Nho với „nam nữ thụ thụ bất thân“ (nam nữ không được sống chung chạ) và „nhất nam viết hữu thập nữ viết vô“ (trọng nam khinh nữ) chi phối, nên không cần tới mối lái nhân duyên. Các thái thú nhà nho bực bội với lối sống chung chạ này, nên đã ra sức áp đặt luật tục tàu vào xã hội việt. Có lúc họ đã tổ chức đám cưới đàng hoàng (!) một lần cho cả hàng ngàn đôi.
Những chi tiết trên phản ảnh một điều, là xã hội việt thời đó còn theo chế độ mẫu quyền (Matriarchy). Mẫu quyền là xã hội trong đó người đàn bà nắm thực quyền. Mẫu quyền thường – chứ không nhất thiết – đi đôi với mẫu hệ (Matrilineal kinship: con theo họ mẹ) [4] Có những xã hội mẫu hệ nhưng thực quyền lại ở trong tay đàn ông (phụ quyền: Patriarchy). Như trường hợp gia đình Phật Thích Ca: đàn ông làm vua nhưng con cái theo họ mẹ. Đàn bà trong xã hội mẫu quyền cũng không nhất thiết phải cáng đáng công việc bên ngoài xã hội; tiếng cồng (của các bà) từ trong bếp vẫn có thể vang hơn tiếng lệnh từ nhà làng (nơi các ông họp): Lệnh ông không bằng cồng bà.
Đặc tính mẫu quyền và mẫu hệ (theo truyền thống nhà vợ, ở rể, con gái tự chọn chồng…) này được thể hiện:
– trong rất nhiều chuyện thần thoại và dã sử như: Họ Hồng Bàng, Trọng Thuỷ Mị Châu, Chử Đồng Tử Và Tiên Dung, Thánh Gióng, Tích Trầu Cau… [5]
– qua nguồn gốc nhân chủng. Theo Nguyễn Khắc Ngữ gốc Việt là người Melanesian. Mà mẫu quyền và mẫu hệ lại rất phổ biến ở sắc dân này, và
– qua các dữ kiện lịch sử, luật pháp cũng như phong tục, tập quán: Các cuộc khởi nghĩa chống Tàu đầu tiên hầu như toàn bộ do phụ nữ lãnh đạo: Hai bà Trưng (thế kỉ I.), bà Triệu (tk. III.) cùng các nữ tướng; quyền lợi phụ nữ lớn trong luật Hồng Đức (tk. XV.); phong tục tôn thờ các thần nữ khá phổ biến… [6]
Hệ quả đương nhiên của xã hội mẫu quyền – mẫu hệ là địa vị phụ nữ cao. Chỗ đứng quan trọng của phụ nữ Việt ngoài ra cũng còn được tăng cường qua thực tế chiến chinh kéo dài liên miên: lớp lớp đàn ông đi ra chiến trường, đàn bà ở lại phải một mình cáng đáng mọi chuyện từ trong nhà ra làng xóm, từ giáo dưỡng con cái cho tới công việc đồng áng, tế tự. Trong mọi xã hội xưa và nay, ai chủ động việc kinh tế gia đình, người đó thường có tiếng nói quyết định.
Cổ sử và truyền thuyết Trung hoa cho thấy chế độ mẫu quyền cũng hiện diện trong xã hội xưa của họ. Tuy nhiên chế độ này đã chuyển sang phụ quyền rất sớm, từ đời nhà Chu (-1120 đến -249). Sở dĩ phụ quyền ở Trung Hoa sớm xuất hiện là vì bản chất du mục của dân Hán. Nhờ phụ quyền, chế độ quân chủ chuyên chế sớm nẩy sinh. Phụ quyền và chuyên chế cũng làm nẩy sinh tinh thần thị tộc (Clan organization). Thị tộc nghĩa là chỉ căn cứ vào Họ. Hễ cùng một Họ là coi nhau như đồng tông, khác họ là người dưng. Vì vậy, ở Tàu, trai gái cùng Họ không được lấy nhau [7]. Làng xã Tàu do đó là một tập hợp của một số dòng Họ độc lập; Họ nào mạnh thì làm chủ làng [8]. Hội đồng kì mục là các tộc trưởng, gia trưởng. Trái lại làng xã Việt là một đơn vị bộ lạc (Tribe organization), nghĩa là không gồm những người cùng họ (làng Việt thường là nơi tập hợp nhiều Họ), mà gồm những người cùng thờ một Thần Hoàng. Hội đồng kì mục được bầu chọn theo tính cách cá nhân độc lập. Tình cảm gia tộc trong làng Việt không choán hết tình cảm làng xã, như bên Tàu.
Thế nên, khi các thái thú nhà nho tới đất Việt, họ ngỡ ngàng và khó chịu trước một xã hội, trong đó uy quyền phụ nữ lớn. Họ ra sức làm thay đổi phong tục tập quán Việt và đã thành công chuyển xã hội này từ mẫu quyền sang phụ quyền, phụ hệ. Có thể, khi các thái thú tới, xã hội việt chưa có tên Họ hoặc chưa thông dụng trong việc dùng nó, vì tên Họ chỉ giữ vai trò quan trọng trong xã hội phụ hệ. Và người Tàu đã (đưa vào hoặc) dùng tên Họ để xác lập và đề cao tính cách phụ hệ nơi xã hội mới. Dù vậy, do bản chất lưỡng hợp [9] và vì chỗ đứng cao của người nữ trong xã hội việt, tên Họ phụ hệ vẫn không có được tầm quan trọng như bên Tàu. Người Việt vẫn gọi nhau bằng tên Gọi, chứ không bằng tên Họ như bên Tàu; phụ nữ việt vẫn giữ Họ mình sau khi lấy chồng, chứ không mất Họ như các chị em bên Tàu.
2. Tín Ngưỡng
Những khai quật khảo cổ và truyền thuyết cho thấy dân Việt xưa, ngoài việc tôn thờ các nhiên thần (thần thiên nhiên như: Sông, Núi, Đất, Cây, Sét…), còn tin vào sự bất tử của Hồn người và từ đó họ có tục cúng hồn người chết.
Căn bản của tục này xuất phát từ niềm tin vào sự bất tử của Hồn, nghĩa là tin có một đời sống khác sau khi chết. Con người được quan niệm gồm hai phần: Hồn và Phách (hay Vía). Đàn ông có 3 hồn 7 vía; đàn bà có 3 hồn 9 vía. Hồn là lực sống vô hình, linh thiêng, toạ ở vùng dạ dày. Phách là sinh lực cơ thể, toạ ở các điểm cơ thể thông thương với bên ngoài (mắt. mũi, miệng, tai, lỗ sinh dục). Bất tỉnh là tình trạng cơ thể khi hồn và phách tạm lìa cơ thể. Chết là khi cả hai lìa hẳn con người. Sau khi chết, phách sẽ tan hoại theo xác, còn hồn bất tử trở nên lang thang. Người sống phải lập bàn cúng tế, để những hồn lang thang có nơi nương tựa và không gây oan giáng hoạ cho mình. Từ niềm tin vào phần tinh anh (Hồn) của con người này mà về sau dân Việt có truyền thống thờ anh hùng liệt nữ, một truyền thống rất đặc trưng của dân Việt.
Người Tàu đến mang theo đạo Khổng. Đạo Khổng đã giải phóng các yếu tố bái vật nơi tục cúng hồn, rồi nghi thức hoá nó và lồng cho nó một nội dung luân lí với chữ HIẾU.
Hiếu là căn bản mọi đức tính con người và là tâm điểm của đời sống gia đình và xã hội. Với Hiếu, việc cúng bái trở thành chuyện thờ kính. Cúng vì sợ trở thành thờ vì kính. Tương quan người sống – kẻ chết được đong đầy nhân tính và mang tác động tích cực: Hồn người chết (từ nay) ở lại trong gia đình, để phù trợ thân nhân trong mọi biến cố: sinh con, cưới hỏi, lễ lạc, thăng chức…, chứ không còn lang thang kiếm ăn như suy nghĩ của thời bái vật. Từ cúng bái mọi hồn người chết nay trở thành đạo kính tổ tiên. Việc cúng tế trở thành một hành vi cám ơn và chứng thực sự có mặt của kẻ đã khuất. Nó là biểu trưng sự đoàn kết gia đình và gia tộc, là mối dây kết buộc giữa quá khứ – hiện tại – tương lai. Hiếu đã tạo cho định chế gia đình việt có một gắn bó và vị trí quan trọng đặc biệt [10]. Hiếu cũng là mối dây tăng cường sự đoàn kết làng xã với tục thờ Thần Hoàng (Thần của làng). Qua Hiếu, gia đình và làng xã việt trở thành trung tâm sức mạnh. Gia đình và làng xã đã đóng góp phần rất lớn – bên cạnh tiếng nói Việt – trong việc ngăn chống áp lực đồng hoá khủng khiếp kéo dài hàng ngàn năm của văn hoá phương Bắc.
Bên cạnh Khổng, văn hoá bắc phương còn mang tới Phật Giáo Đại Thừa và Lão Giáo.
Nhưng trong suốt ngàn năm Bắc thuộc Khổng Giáo đã không phát triển, vì nhiều nguyên do:
– Nó chủ yếu do các thái thú phổ biến, nên bị đồng hoá là phương tiện của kẻ thống trị;
– Người Tàu không có chính sách phổ biến Nho Học rộng rãi, vì chủ đích của họ ở đất Giao Chỉ là kiếm ăn làm giàu thật nhanh rồi về;
– Tình hình chính trị luôn bất ổn, vì những nổi đậy của dân Việt và cuối cùng
– Sự học không quyến rũ, vì sinh viên phải sang kinh đô Tàu xa hàng 2000 dặm để thi cử [11]
Chỉ sau khi đất nước thu hồi độc lập và đặc biệt sau khi nhà Lê đuổi được quân Minh (1427) thì Nho học mới được vua chúa việt cổ xuý và phát triển mạnh, vì nhu cầu cần tới quan lại nho học để quản trị đất nước độc lập.
Một điểm quan trọng ở đây: Nho học và ảnh hưởng của nó trên cuộc sống xã hội đã chưa phát triển, khi dân Việt cởi bỏ được ách thông trị của thực dân Tàu. Cuộc sống xã hội Việt vẫn còn đượm chất bản địa.
Trái lại Phật và Lão Giáo do lớp học thức và tu hành phổ biến. Những người này hoặc vì chạy trốn cường quyền hoặc vì lòng truyền giáo mà tới Giao Chỉ. Chủ trương Hài Hòa (Harmony) và quan niệm Âm Dương của Lão (hai yếu tố này rất sớm được Nho kết nhận vào học thuyết của mình) cũng như giáo lí Từ Bi của Phật lại khá phù hợp với tình cảm và tri thức của dân Việt. Vì thế Phật và Lão, nhất là Phật, đã phát triển rất mạnh ngay từ những thế kỉ đầu công nguyên. Thời đó Phật ở Giao Chỉ đã có thể quật ngã những tay Nho thượng thặng.
3. Ngôn Ngữ
Cổ sử Trung Hoa chép: “Năm Tân Mão đời vua Thành vương nhà Chu (-1109) có nước Việt Thường ở phía nam Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống. Phải thông dịch ba lần mới hiểu được nhau.” Tiếng nói của Việt và Tàu khác xa nhau. Từ khởi đầu cho mãi tới nay người Việt vẫn nói tiếng Việt (Nôm), một thứ tiếng mà Trần Cương Trung, sau khi đi sứ về, đã phúc trình cho vua Trung Hoa (tk. XIII.) hay: “nói gấp mà nổi, sáng như giọng chim”.
Nhưng, một câu hỏi: Trước khi người Tàu mang chữ Nho tới, người Việt đã có chữ viết chưa? Một số học giả cho rằng, người Mường, Lào, Chàm, Thổ có chữ viết, thì hẳn người Việt cũng đã có chữ viết. Và dựa vào một số hình khắc chạm trên vách đá Thượng Phú, Kim Bảng (Quảng Bình), Hang Kỳ (Thái Nguyên), Len Đất (Lạng Sơn) và Mường Hoa… họ cho rằng, chữ Việt cổ là chữ tượng hình “khoa đẩu” (dạng con nòng-nọc, giống như chữ Mường và chữ Hmôn) [12]
Chữ khoa đẩu là thứ chữ có thật. Nhưng cho tới nay vẫn chưa có thêm tài liệu cụ thể hơn về lãnh vực này, nên chưa thể có một kết luận chắc chắn về sự hiện hữu của chữ Việt cổ.
người Tàu có học chạy loạn sang Việt đã mang theo chữ Nho. Các thái thú sau đó đã phát động việc học hỏi thứ chữ này. Tuy nhiên sau cả ngàn năm chữ Hán cũng chỉ phổ biến – một cách cực chẳng đã – ở một thiểu số thượng lưu học thức mà thôi. Đại thể dân Việt không chấp nhận thứ chữ đó. Nói là cực chẳng đã, bởi vì ngay sau khi giành lại độc lập, các học giả Việt đã nghĩ ngay tới việc sử dụng một thứ quốc ngữ riêng (chữ Nôm hay Nam), thứ chữ mà họ đã dùng yếu tố tượng hình của chữ Nho và tượng thanh của âm Việt để tạo nên.
Việc hình thành chữ Nôm là một trong những yếu tố nói lên khát vọng và ý chí độc lập hùng hồn nhất của dân Việt.
4. Sinh Hoạt Kinh Tế, Chính Trị, Xã Hội
Dân Hán có bản chất du mục, nên thích hợp cho phụ quyền và nền quân chủ chuyên chế. Trái hẳn với xã hội nông nghiệp của Việt hướng về mẫu quyền và tổ chức theo bộ lạc. Mỗi bộ lạc chiếm cứ một vùng, lập thành đơn vị làng tự trị, do một tù trưởng (Quan Lang, về sau chuyển thành Tiên Chỉ) cầm đầu. Chế độ Quan Lang hiện còn ở các làng bản người Mường. Có lẽ xuất phát từ căn bản xã thôn tự trị, nên trong xã hội việt trước đây dễ sinh ra nạn sứ quân và chế độ phong kiến (mỗi ông chúa làm chủ một vùng). Nhưng cũng nhờ xã thôn tự trị, vì quyền lợi trực tiếp, nên dân làng đã dễ dàng liên kết chống ngoại xâm. Đây cũng là điểm khiến Tàu gặp khó khăn trong việc cai trị Giao Châu. Chiếm xong đất đai, người Tàu nỗ lực phá cơ cấu xã hội hiện hành bằng cách chia Giao Châu ra thành nhiều quận huyện đặt dưới sự cai quản trực tiếp của các thái thú.
Bảng so sánh dưới đây cho thấy những nét khác biệt cơ bản giữa xã hội Tàu và Việt [13]
Hán sử viết, khi họ tới Giao Châu, dân Lạc Việt miền núi còn sống theo lối du canh du cư, nghĩa là họ phá rừng làm mùa ở vùng này vài vụ, rồi khi đất hết màu mỡ, lại chuyển đi vùng khác phá rẫy canh tác tiếp (cho tới thập niên 1970 các dân tộc Thượng ở cao nguyên miền Trung vẫn còn sống theo lối du canh). Người miền xuôi đã biết sử dụng việc dẫn thuỷ để canh tác. Người ta cấy lúa trên những ô ruộng được be bờ ngăn cách nhau, gọi là „ruộng lạc“. Vì thế dân có tên là dân Lạc (Việt) [14]
Để kết thúc và đánh giá mười thế kỉ Bắc thuộc, học giả Aurousseau viết:
„Bước vào đầu thế kỉ công nguyên người Việt thoạt tiên vẫn trung thành với phong tục tập quán và cơ cấu tổ chức xã hội cũ của họ, nhưng dần dà đã có những biến chuyển về mặt chính trị bản xứ và cung cách đối với chủ Tàu. Các nỗ lực kháng chiến và chống đối của họ đều bị đập tan. Đất nước họ từ đây trở thành một quận huyện thực thụ của Tàu. Dần dà họ phải chiều theo ý muốn của người cai trị và phải tiếc nuối từ bỏ những định chế truyền thống của mình. Chậm nhưng chắc, các cơ cấu hành chánh và xã hội cũng như nền văn minh kèm theo những tư tưởng mới của Tàu được đặt định lên miền đất mới này. Bước vào công nguyên, người Tàu phổ biến học thuật và lễ giáo của họ, dạy cho người Việt cách dùng thú vật để cày bừa, dạy cách ăn mặc, đi dép, cắt tóc. Họ mở trường phổ biến việc học, mang cách thức cưới hỏi có mối lái và của hồi môn tới. Tắt lại, người Tàu đã biến một dân tộc bán khai trở thành một cộng đồng cá nhân văn minh sống theo luật lệ hẳn hoi. Cuối cùng, dân Việt đã quên hẳn gánh nặng quá khứ. Chỉ vài thế kỉ sau công nguyên, họ đã hội nhập vào chế độ của Tàu. Một chế độ đã gây đớn đau, nhưng cũng mang lại sự cứu thoát, bởi vì nhờ nó mà dân Việt, vốn dĩ thích trật tự và gắn bó, đã học được tinh thần quốc gia và hợp lực đoàn kết. Tinh thần đó đã giúp họ tổ chức tiến tới, để mười thế kỉ sau, đã đánh bay được những thầy dạy và mẫu quốc và đã tạo sức sống cho một trong những quốc gia hùng mạnh nhất ở bán đảo Đông Dương.“ [15]
Đó cũng là quan điểm của Maspéro [16]
Tóm lại, theo hai học giả người Pháp, nếu không có Trung Hoa mang văn minh giáo hoá, thì dân Việt đã không có được ý thức, để tạo thành một quốc gia như ngày nay.
Chúng ta không phủ nhận các yếu tố tích cực của văn hoá bắc phương. Tuy nhiên quan điểm của hai học giả này ngày nay đã không còn vững, như lịch sử thời tự chủ của Đại Việt và Việt Nam đã minh chứng: Hễ thời đại nào giữ được bản sắc dân tộc, thì triều đó thịnh; trái lại thời nào để cho văn hoá ngoại lai lấn át hoặc chạy theo tôn vinh mẫu mực văn hoá này, thì thời đại đó suy nhược.
Gia sản quan trọng nhất của bắc phương để lại trên đất Việt là Khổng giáo với nền Nho học. Nhưng trước khi hai yếu tố này phát triển và ảnh hưởng toả trùm lên xã hội Việt, chúng ta đã chứng kiến một thời đại hoàng kim về văn minh văn hoá của Đại Việt (thời Trần và đầu thời Hậu Lê). Điều này rõ ràng phản bác lại lập luận: Thoát Trung thì được, nhưng thoát Khổng thì không nên, vì nhờ có Khổng mà xã hội Việt đã đứng vững trong cả ngàn năm qua!
………………..
Chú thích:
[1] Henri Maspéro, Le Royaume de Van Lang. BEFEO 1918: 10.
[2] Henri Maspéro, như trên. Taylor, Thẩm định lại thời kì Bắc thuộc. Dân Văn số 17.
[3] Xem Nguyễn Văn Huyên, Les Chants Alternés des Garçons et des Filles en Annam. Paris 1954. Maspéro, Le Taoisme et les Religions Chinoises. Galliamrd 1971: 268tt.
[4] Chế độ mẫu hệ ở Việt Nam được xác nhận trong một tờ sớ của Tiết Tông (viên quan của nước Ngô: 221-280) và trong bài khảo luận của Finot: Les grandes époches de l´Indochine (BSEMT: Bulletin de la société d´enseignement mutuel du Tonkin; tome 15,II, tr. 281-287). Chi tiết về tờ sớ được Nguyễn Ngọc Huy: Quốc Triều Hình Luật, q.a, 1989. trích ghi từ Vũ Văn Mẫu: Cổ Luật Việt Nam Lược Khảo.
[5] Xem Lê Hữu Mục, Lĩnh Nam Chích Quái. Như trên.
[6] Xem Cao Thế Dung, Chân Dung Phụ Nữ Việt Nam Trong Văn Hóa Sử. Tiếng Mẹ. USA 1990
[7] Nguyễn Khắc Ngữ, như trên. Trang 162t.
[8] Hoàng Văn Chí, Xã thôn Việt Nam. Xác Định 15 & 16. 1987.
[9] Văn hoá lưỡng hợp là văn hoá chấp nhận nhị nguyên: có nam lẫn nữ, vừa âm lẫn dương; chứ không nhất nguyên như văn hoá trung hoa. Trung Hoa chỉ có ông Tơ, tiên Bà, tiên Cô, Phật ông mà thôi, sang tới Việt biến thành ông Tơ bà Nguyệt, tiên Ông tiên Bà, Phật bà quan âm.
[10] Giáo Hội công giáo trước đây đã không hiểu được điểm này, nên đã để xẩy ra “cuộc tranh luận về nghi lễ” (thờ kính tổ tiên) đáng tiếc và bi thảm ở Trung Hoa (và phần nào ở Việt Nam). Muốn rõ thêm, đọc Klaus Schatz, “… dass diese Mission eine der blühendsten im Osten werde”. Bản dịch Việt ngữ của Phạm Hồng-Lam, Hoa Trái Ở Phương Đông“. Nxb Phương Đông, Tp. HCM, 2017. Trang 212-223.
[11] Phạm Cao Dương, Góp phần nhận định về sự du nhập Nho giáo… Văn Lang số 4 tháng 12/92.
[12] Aurousseau, La Première Conquête chinoise des Pays Annamites. BEFEO 231(923). Trang 211. Xem Viên Như, Nguồn gốc chữ khoa đẩu và hai chữ khoa đẩu. https://nghiencuulichsu.com/2018/04/20/nguon-goc-chu-khoa-dau-va-hai-chu-khoa-dau
[13] Hoàng Văn Chí, Xã Thôn Việt Nam. Xác Định 15&16. 1987. Cùng tác giả, Duy Văn Sử Quan, USA 1990, Trang 119.
[14] Aurousseau, La Première Conquête chinoise des Pays Annamites. BEFEO 23 (1923). Trang 211.
Tại sao lại gọi là „ruộng lạc“ và dân „Lạc Việt“? Hoàng Văn Chí (sđd. 1990. Trang 78tt.) cho rằng, chữ „lạc“ là do biến ấm của chữ „lúa“ hay „ló“. Người Mường và người dân ở Nghệ An vẫn gọi lúa là ló. Theo tác giả, có lẽ khi người Hán vào Giao Châu, họ nghe dân bản xứ gọi những thủa ruộng nước của họ là „ruộng ló“ (lúa, lạc), nên người Hán đã phiên âm và gọi dân này là dân „Lạc” (Lạc Việt).
[15] Aurousseau, như trên. Trang 244.
(còn nữa)
Phạm Hồng Lam
Không có nhận xét nào