Header Ads

  • Breaking News

    Án Văn: Kỳ 5, 6, 7 và 8

    Nguyễn Thông

    Án văn – Kỳ 5: Vòng trắng và Sẹo đất

    Nguyễn Thông

    18-7-2026

    Lứa chúng tôi cũng từng chứng kiến 2 vụ án văn là bài  thơ “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật và “Sẹo đất” của Ngô Văn Phú. Hai ông nhà thơ này trưởng thành thời chống Mỹ, tạo dựng được tên tuổi, thậm chí ông Duật từng nổi danh là nhà thơ số 1 viết về Trường Sơn, vua biết mặt chúa biết tên, trọng vọng lắm. 

    Những năm cuối thập niên 60, đầu 70 đang khí thế hừng hực chống Mỹ, văn nghệ bị cuốn vào chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ta thắng địch thua, thế đứng trên đầu thù, “40 thế kỷ cùng ra trận/Có đảng ta đây, có Bác Hồ”, anh nào lệch ra khỏi quỹ đạo là chết ngay.

    Bác Duật, chả ngại gì khi nhận xét rằng, một kỳ nhân thời chống Mỹ. Lứa chúng tôi kém bác (sinh năm 1941) hơn một giáp, lúc vào học cấp 2 (lớp 5) thì bác đã tốt nghiệp đại học sư phạm rồi sau đó như mọi thanh niên xung phong ra mặt trận. Tài hoa thơ hàng đỉnh, một giọng mới mẻ rất thích, hơn cả những bậc tiền bối. Những bài như “Gửi em cô thanh niên xung phong”, “Tiểu đội xe không kính”, “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”… cắm mốc chắc khừ trên đỉnh thơ cách mạng. Có thể nói không ngoa, Phạm Tiến Duật ngôi số 1 của văn chương giai đoạn 1954 – 1975. Ai cãi tôi, cứ đọc thơ Trường Sơn của bác Duật thì tỏ.

    Đùng một cái, ông Duật viết bài “Viết về số 0” (được biết đến với cái tên phổ biến “Vòng trắng”), in tháng 1.1974. Lúc đầu có lẽ do tiếng tăm ông vẫn còn cao, vả lại bài thơ được in trên tạp chí Thanh Niên ít ai đọc nên người ta không để ý. Ông Duật viết: 

    Khói bom lên trời thành một cái vòng đen

    Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng

    Tôi với bạn tôi đi  trong yên lặng

    Cái yên lặng bình thường đêm sau  chiến tranh

    Có mất mát nào lớn bằng cái chết

    Khăn tang, vòng tròn như một số 0

    Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng

    Là cái đầu bốc lửa ở bên trong”.

    Sau chả biết có ai mách lẻo, thế là báo Nhân Dân và tạp chí Học Tập nã đại bác vào thần tượng Phạm Tiến Duật.

    Tạp chí Học Tập (sau đổi tên thành tạp chí Cộng sản) số tháng 9.1974 dõng dạc kết án “Giữa lúc cần nói to lên niềm sung sướng tự hào về cái được vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thì nhà thơ lại chỉ thấy cái mất, chỉ thấy tang tóc đau thương và than thở…”. Chỉ cần chừng ấy thôi là thành án, ông Duật mất bao nhiêu công phân trần, giãi bày nhưng triều đình chả chịu nghe.

    Còn ông Ngô Văn Phú ra mắt “Sẹo đất” năm 1972. Ông là nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ, là quan văn nghệ. Ít người biết ông là tác giả câu thơ tuyệt hay mà thiên hạ cứ nghĩ là ca dao. Bài “Mây và bông”, rằng: 

    Trên trời mây trắng như bông

    Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây

    Những cô má đỏ hây hây

    Đội bông như thể đội mây về làng.

    Ông anh tôi hồi học cấp 3 có lần bảo “thằng cha giỏi thật, chắc tán gái thành thần” khi nói về ông Phú và bài mây bông này.

    “Sẹo đất” làm chi mà nên tội? Chả là nhìn cái hố bom, ông Phú nghĩ có lẽ đất nó cũng như người, nó đau lắm. Trong bài thơ có câu “Tưởng như da thịt mình mới sẹo/Ai ngờ đất cũng sẹo như mình”.

    Tuyên giáo phang luôn, quy kết ông Phú có vấn đề về tư tưởng, không xác định rõ tính chất của cuộc chiến tranh giữa ta và địch, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây suy nghĩ sợ chiến tranh trong nhân dân. Ông Phú bị kiểm điểm, rồi bị cách chức, chịu bao phiền phức về sau.

    Nhìn chung tội của ông Duật ông Phú là sáng tác theo suy nghĩ cá nhân, không đi đúng đường lối quan điểm “ta tốt địch xấu, ta thắng địch thua”, “lãng mạn cách mạng”… nên phải phê phán triệt để, làm gương cho kẻ khác.

    Cả một thời, văn nghệ bị quản lý, lãnh đạo bằng những cái đầu, bộ óc rất ấu trĩ, thủ cựu, u mê. 

    Vănhọc 1954-1975

    (Còn tiếp)

    Án văn – Kỳ 6: Nhạc sĩ Lê Lan và ca khúc khóc lãnh tụ

    Nguyễn Thông

    21-7-2026

    Nửa đầu năm 2026, hai cuốn sách đỏ cả cũ lẫn mới, “Nỗi buồn chiến tranh” (cũ, của Bảo Ninh) và “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” (mới, Nguyễn Thành Nam) bị hồng vệ binh (còn gọi là bò đỏ) đánh tơi tả. Hai vụ án văn này sẽ có bài riêng, biên lại cho đời sau biết. 

    Sáchvà văn học

    Cuốn của tiến sĩ Nam nằm  trong vệt sách ca ngợi thần tượng, khen tụng lãnh tụ, chỉ có điều nịnh không khéo, không theo định hướng, không nằm trong khuôn khổ quy định, nên gặp nạn. Người ta nói Nam chống đối, chống phá nhà nước, ý đồ xấu này nọ…, nói thật, tôi không  tin. Dạng như Nam mà chống phá thì bắt sao xuể ở xứ này, bởi nhiều lắm. Anh ta chỉ ngây thơ và quá tự tin vào tình yêu lãnh tụ của mình.

    Vụ Nguyễn Thành Nam, “Chuyện với Thanh…”, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, mấy người cầm cương nhà xuất bản (tôi có quen, chơi với họ, hiểu về họ, sẽ viết sau) bị kỷ luật, bị bắt, chịu xử lý khiến nhớ về vụ án văn năm xửa xưa liên quan tới  nhạc sĩ Lê Lan. Cũng hồn nhiên ca ngợi lãnh tụ mà chịu nạn.

    Nhắc lại một chút. Nước Nam ta xưa nay, án văn nghệ thời nào cũng có. Không kể đến những án ghê gớm liên quan tới Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát…, chỉ riêng thời vô sản nắm quyền đã nẩy sinh nhiều vụ oan sai, tai tiếng, vẩn đục cả làng văn nghệ.

    Những người từng sống ở miền Bắc từ thập niên 50 về sau, chả mấy ai không biết không nghe về những vụ liên quan đến văn nghệ sĩ, đến những tác phẩm bị nhà cai trị “rút phép thông công” như nhóm Nhân văn giai phẩm (với Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Thụy An, Đặng Đình Hưng, Trần Duy…), “Nhãn đầu mùa” của Xuân Tùng – Trần Thanh, “Phá vây” của Phù Thăng, “Hai trận tuyến” của Hà Minh Tuân, “Sắp cưới” của Vũ Bão, “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, “Tây tiến” của Quang Dũng, “Mở hầm” của Nguyễn Dậu, “Những người thợ mỏ” của Võ Huy Tâm, một số bài ký của Nguyễn Tuân… Sau nữa là “Cửa mở” của Việt Phương, “Cây táo ông Lành” của Hoàng Cát, “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật, “Sẹo đất” của Ngô Văn Phú… Rồi “Đề cương văn nghệ năm 1986” của Nguyên Ngọc, “Ly thân” của Trần Mạnh Hảo, “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, những phát ngôn của Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Minh Châu, v.v.. 

    Có cái thành án, thậm chí tác phẩm bị cấm tiệt, tác giả bị tù tội; có cái chỉ do lệnh miệng vu vơ rồi chịu số phận dập vùi, cấm cửa ở các nhà xuất bản, không một tờ báo hoặc cơ quan truyền thông nào dám nhắc tới nữa. Tất cả chỉ bởi vì chính quyền-nhà cai trị không thích, không hài lòng, nhẹ thì cho nó là dao hai lưỡi, lập lờ hai mặt, ám chỉ, xuyện tạc, nặng thì bị quy thành chống đối, phản động, thù địch.

    Nhưng như thế đã đi một nhẽ. Đằng này có cả không ít tác phẩm theo dòng chủ lưu ca ngợi, đề cao, tâng bốc, xu nịnh (những điều mà người vô sản rất thích, rất chú trọng) cũng bị xử luôn. Tôi muốn nhắc ở đây trường hợp một bài hát từng khá nổi tiếng, bài “Khi ta nghe tiếng người” của nhạc sĩ Lê Lan.

    Cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh, ngày mất cụ Hồ, thôi thì đủ thứ được khai quật để “tưởng nhớ công ơn người”. Tivi, đài phát thanh, báo chí, hội nghị, hội thảo, cả những chuyên gia chuyên ăn theo đời cụ như Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Túc… được dịp nổ trời.

    Người vô sản lúc nào cũng khẳng định tập thể là trên hết nhưng sự sùng bái cá nhân của họ thì không lực lượng nào sánh kịp. Khi họ đã huy động cả bộ máy nắm  trong tay vào cuộc, có nhẽ trên thế gian này không còn thứ gì tồn tại ngoài điều mà họ đang ca ngợi. Tượng đài, khu tưởng niệm, bia nhớ ơn dày đặc trong cuộc đời thực vẫn chưa đủ, mà trong văn nghệ cũng phải tầng tầng lớp lớp mới chịu.

    Thế hệ chúng tôi đã trải qua, chứng kiến thời điểm cụ Hồ mất và những ngày sau đó. Nếu ai không hình dung ra như thế nào thì cứ móc vào với Triều Tiên bây giờ sẽ phát lộ kha khá sự giống nhau.  Trong thể chế vô sản, mối liên hệ giữa lãnh tụ với phần còn lại của xã hội chẳng khác gì giữa thánh nhân, hoàng đế, thần tiên, siêu nhân với người trần mắt thịt. 

    Nhiều cán bộ, đảng viên, dân chúng đã khóc thực sự khi được thông báo cụ từ trần. Giới văn nghệ sĩ, những người ăn lộc của cụ được dịp tỏ lòng biết ơn tái tạo sinh thành, nói theo  kiểu Nguyễn Tuân là “cuộc tái sinh màu nhiệm”. Giữa những ngày tháng 9 lịch sử năm 1969 ấy, hạng khóc cao cấp như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Huy Cận, Xuân Diệu, Việt Phương nức nở là chuyện đương nhiên, ngay cả chú bé thần đồng Trần Đăng Khoa cũng “cháu buốt ở trong tim này/ chỗ đeo tang suốt đêm ngày, Bác ơi”. Hình như viết văn làm thơ mà không có bài về cụ dịp cụ “lên đường theo tổ tiên” (về sau Tố Hữu tự sửa thành “nhẹ bước tiên” làm hỏng cả câu thơ của chính ông, rất màu mè, giả dối) thì sẽ không còn cơ hội nào tốt hơn để chứng minh với chế độ lòng trung thành của mình nữa.

    Các nhạc sĩ cũng vậy, không thể nằm ngoài vòng quản lý tâm hồn cách mạng. Hầu như toàn bộ giới son phe đều ráng ít nhất mỗi người một bài, nhiều vị vài ba bài khóc bác. Đỗ Nhuận, Chu Minh, Phạm Tuyên, Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Trần Chung, Xuân Giao, Nguyễn Văn Tý, Lưu Hữu Phước, Văn Ký, Văn An (bố của ông bạn tôi, anh Yên Ba)… đồng thanh rất cảm động.

    Không chỉ trông cây lại nhớ đến người mà trong mắt các nhạc sĩ trời đất đều thảm sầu, lòng người buồn héo hắt. Tôi còn nhớ đám học trò lớp 8 chúng tôi được tập 2 bài để kỷ niệm nhân sinh nhật 19.5.1970, hơn nửa năm sau khi cụ mất. Một bài của Huy Du, “Người sống mãi trong lòng con”, có những câu như trời sụp, chẳng hạn “Rừng Trường Sơn xót xa, bờ biển xanh sóng gào, trái tim nức nở nghẹn ngào”, hoặc “trời đất mây ngừng bay rơi nước mưa sầu, đàn chim xao xuyến bay, ngẩn ngơ bao luống cày, nước non vĩnh biệt cúi đầu”, vừa tập vừa khóc sụt sịt. Bài thứ hai, của một nhạc sĩ không nổi tiếng lắm, tuy nhiên khá cảm động. Cô Thanh chủ nhiệm gọi đó là bài “Khi ta nghe tiếng người”, tác giả nhạc sĩ Lê Lan. 

    Phải công nhận, ca từ và giai điệu bài hát của Lê Lan đều rất hợp với sự bi thương, ca ngợi, kính dâng. Dễ hát, xúc động, tình cảm sâu lắng. Trong không khí tang tóc mà viết được như vậy quả đáng nể.

    Lại càng đáng ghi nhận hơn nếu ta biết rằng Lê Lan là một nhạc sĩ quân đội, chuyên chém to kho mặn, nhiều bài kể lể như vè hoặc tấu hài, chỉ xoáy vào chuyện đánh nhau, chém giết. Lứa chúng tôi đều thuộc mấy bài của ông thường được phát  trong chương trình ca nhạc đài phát thanh, như “Kèn tiến công vang dội”, “Tiểu đội ta đạt 3 danh hiệu”, giờ nghe lại thấy cứ sao sao ấy, chẳng hạn “thằng cầm đầu vừa lóp ngóp ngoi lên, lốc nhốc một bầy quỷ Mỹ theo sau. Một hai ba bốn năm sáu… tên. Bắn thôi. Chớ bắn vội đồng chí ơi, chờ chúng tới một vài mét thôi. Một loạt đạn lia ra bốn phía, khà khà”, đại loại cứ nhẩn nha kể lể vậy, chả ra hát mà cũng chả ra kịch.

     Nhạc Lê Lan là thế. Mà chẳng riêng gì Lê Lan, thời bấy giờ hầu hết nhạc sĩ đều gân cổ hò hét cho xứng tầm anh hùng thời đại, như Trọng Bằng, Trọng Loan, Hồ Bắc, Phạm Đình Sáu, Lưu Hữu Phước. Chiến tranh đã tạo cho nhạc sĩ cách mạng khuôn mặt thần chết rất dữ dằn.

    Lại nói bài của Lê Lan. Tôi dù dốt nhạc nhưng phải tự nhận thuộc nhiều bài thời chiến tranh, ngay cả những bài chả mấy ai để ý cũng thuộc, chả hạn “Khúc hát đảo quê hương” của Phạm Đình Sáu, “Người Châu Yên em bắn máy bay” của  Trọng Loan, “Con cua đá” của Ngọc Cừ – Phan Ngạn, hay mấy bài vè kể lể của Lê Lan vừa nhắc.

    Bài Lê Lan khóc cụ Hồ, tôi thuộc không sót một chữ, đơn giản bởi nó hay. Vậy nhưng bẵng đi sau hơn 50 năm, chợt lẩn mẩn nghĩ cái bài ấy của cha nào mà mình quên béng tên. Điện cho ông bạn Xuân Ba – bộ nhớ của lớp đồng môn, hỏi mày ơi, mày có nhớ cái bài hát viết về cụ bị cấm hồi xưa không. Y cười xoe xóe bảo quên thế đếch nào được, của Lê Lan, có thế mà cũng không nhớ. Tôi chưa kịp nói thêm, y hát ông ổng trong máy điện thoại viễn liên “Như dòng sông đưa phù sa, bốn mùa xanh một màu đất nước/Người là ánh nắng ban mai, như hoa thơm Tháp Mười/Trọn niềm tin khi ta nghe tiếng người/Thời đại mới đang bừng lên, Hồ Chí Minh sáng mãi tên người/Dìu toàn dân qua chông gai mỗi bước đường…”. Công nhận tài thật, cứ như cái máy cát xét xổ băng. 

    So với những bài khóc cụ, tôn sùng cụ, như “Người là niềm tin tất thắng” (Chu Minh), “Đôi dép Bác Hồ” (Văn An), “Miền Nam nhớ mãi ơn Người” (Lưu Cầu)… thì ca khúc khóc cụ của nhạc sĩ Lê Lan đương nhiên không cùng chiếu, nhưng được như vậy là quá giỏi.

    Tôi cũng nhớ chứ có quên hẳn đâu, chỉ hỏi lại cho chắc ăn về tác giả thôi. Như đã nói, lời bài hát (bây giờ người ta hay gọi điệu đà là ca từ) rất hay, giản dị, hợp cảnh, hợp người, tràn đầy tình thương yêu. Cô Thanh động viên đám học trò, các em hát bài này thế nào cũng đoạt giải. Đám chúng tôi lại rơm rớm nước mắt, chả biết vì cô Thanh, vì cụ Hồ, hay vì bài hát hay.

    Thế rồi đùng một cái, có nhẽ chỉ được gần 1 năm sau khi bài hát ra đời, Lê Lan và tác phẩm nghẹn ngào của ông bị lên đoạn đầu đài. Ca ngợi cụ Hồ cũng mặc. Quân pháp bất vị… cụ. Thiên hạ đồn ầm lên rằng nhạc sĩ ăn cắp nhạc (hồi ấy nói thẳng là ăn cắp chứ không ne né đạo điếc như bây giờ). Nhạc ca ngợi cụ mà lại là thứ ăn cắp thì càng phải xử nặng.

    Nghe đâu Lê Lan ăn cắp giai điệu một bản dân ca Trung Á, rồi lại đồn từ bài hát ca ngợi Sa Pa Ép (Sapaev là một tướng lĩnh nổi tiếng của hồng quân Liên Xô, sư trưởng sư đoàn kỵ binh  trong binh đoàn kỵ binh của nguyên soái Budioni. Hồi những năm 60 ở miền Bắc có chiếu bộ phim “Sư trưởng Sapaev” rất hay, ta thắng địch thua, xem khoái lắm).

    Không biết lệnh cấm, rút phép thông công từ Ban Tuyên huấn của ông Tố Hữu, hay Hội Nhạc sĩ VN của ông Đỗ Nhuận, hay Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật của ông Nguyễn Đình Thi, hay từ cấp nào đó, Tổng cục Chính trị của ông Song Hào chẳng hạn, mà bài “Khi ta nghe tiếng người” với cái tên Lê Lan ngay lập tức chìm vào quên lãng.

    Không ai nhắc tới nữa. Không một lần phát lại trên đài nữa, mà chả riêng bài này, hình như tất cả những bài khác của Lê Lan cùng chịu chung số phận. Một khi phiên tòa vô hình của chế độ đã đóng ịch chiếc búa xuống mặt lim thì chỉ từ chết tới bị thương. 

    Không phải ai khác, chắc Lê Lan ngấm được điều đó. 42 năm sau (năm 2012) dù Lê Lan có được chiêu tuyết, được nhà nước nghĩ lại, sửa sai, truy tặng Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật thì cũng quá muộn bởi ông đã “khối hờn mang xuống tuyền đài chưa tan”.

    Nghĩ cũng lạ, một bài hát viết về lãnh tụ, ca ngợi hay thế, chỉ khép vào án ăn cắp giai điệu mà tan nát một đời. Nếu thế, thì Đỗ Nhuận cũng phải chịu án ấy khi lấy gần như nguyên giai điệu hò Nghệ Tĩnh để ra đời bài “Trông cây lại nhớ đến người”, rồi còn bao nhiêu bài quan họ, xẩm xoan, chèo ca ngợi cụ Hồ từ những làn điệu cổ xưa. Đành phải chép miệng, có nhẽ Lê Lan đã không gặp may trong sự nghiệp ca ngợi của mình.

    (Còn tiếp)

    Án văn – Kỳ 7: Hai ông “ường” bị lên bờ xuống ruộng

    Nguyễn Thông

    31-7-2026

    Cả hai ông cùng vần “ường”, một ông nhà văn tên cúng cơm Hoàng Minh Tường, ông kia là nhà điêu khắc gò đồng tên theo CCCD do chính quyền cấp là Phạm Xuân Trường. Rất nổi tiếng, được kính trọng nể phục, cả ông viết văn lẫn ông gò đồng. 

    Sáchvà văn học

    “Thời của thánh thần”

    Trước hết nói về ông Tường. Sinh năm 1948, Mậu Tý, tuổi con chuột, làm đủ nghề (dạy học, làm báo, viết văn, nghiên cứu…), viết văn từ sớm, năm 1973 đã có tiểu thuyết được giải cấp bộ, năm 2008 ra cuốn “Thời của thánh thần” nổi như cồn, rồi ngay sau đó bị đánh tơi tả, thu hồi, cấm tiệt.

    Ảnh bìa sách “Thời Của Thánh Thần”, của nhà văn Hoàng Minh Tường

    Cuốn này chịu án trảm quyết  trong nước, nhưng lại được thế giới khen nức nở, đánh giá rất cao, dịch ra nhiều thứ tiếng như Hán (Trung Quốc), Pháp, Hàn, Nhật… Đó là vài lời vắn tắt về cuộc đời và sự nghiệp ông văn sĩ Tường. 

    Nhà văn Hoàng Minh Tường hơn đám tôi 7 – 8 niên, cùng tuổi bác Nguyễn Duy. Lứa ấy nhiều bác giỏi, cực giỏi, như Lưu Quang Vũ, Nguyễn Duy, Dương Kỳ Anh…

    Cụ Tường có nét đời na ná hao hao các “nhà” Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, nghĩa là từng học sư phạm, làm thầy giáo, được bổ lên miền núi “vời vợi nghìn trùng”, chả biết có để lại giống nòi nơi ấy không, rồi sa vào viết văn, làm báo, hiến phần đời còn lại cho văn chương.

    Hồi tôi [còn] nhỏ, đi học, đã biết danh bác Tường, càng lớn càng biết kỹ, nể phục. Cách nhau hơn nửa giáp nhưng tôi ngó ông như đấng bậc. Thỉnh thoảng có dịp gặp nhau, tại hạ một điều cung kính, hai điều cung kính.

    Nhớ cái hồi tháng 10.2017, tay Nguyễn Một tổ chức nhóm đi miền Trung. Ngó nghiêng, tinh dững tay chơi thiên hạ biết danh, nào là Hoàng Minh Tường, Nguyễn Một, Nguyễn Trí, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Đăng Bình, Đặng Vỹ, Trần An Bình…, tự dưng tôi lọt thỏm vào. Đám con gái xinh đẹp quấn quít vây quanh “anh” Tường, chụp ảnh chung với anh, ăn cũng kéo ghế ngồi gần. Tôi thì thầm với Một, chả biết dại trai hay dại gái, nhưng dại nào cũng xứng. Tới phố cổ Hội An thăm cụ trẻ Nguyễn Sự, ngồi sát sạt và trò chuyện tâm đắc nhất cũng là bác Tường.

    Đọc  sách của Hoàng Minh Tường, cuốn “Thời của thánh thần” đủ làm ta nể phục một tài năng, nhân cách, sự hiểu biết, bản lĩnh cương trực, tới cuốn “Chữ và người – 400 năm” (năm 2025) có lẽ phải tăng thêm mức nữa, cúi đầu bái phục. Sao người ta, những người có quyền hành, lại chưa xét trao giải cho cuốn này nhỉ.

    Liên quan tới cuốn “Thời của thánh thần” bị “rút phép thông công” thu hồi cấm tiệt, nhà cháu có tí ký ức. Chả là năm 2009, lang thang mấy hiệu sách ở quận 3, bất chợt ngó thấy trên kệ có gáy sách “Thời của thánh thần”. Lạ, cấm như thế mà nơi đây vưỡn còn. Vội ôm ngay hai cuốn. Khổ, túi chỉ còn đủ tiền mua chừng đó, chứ nếu ví căng có khi bốc hết. Một cuốn biếu sếp Đặng Thanh Tịnh, người ưa mê văn chương, bọn mình đùa đặt cho ông tên “Cách mạng”. Vài tuần sau, mình đi ngang, sếp ngoắc vào, bảo tay Tường viết khiếp thật, thời này không bị bắt còn may. 

    Sách

    Những ai đã đọc “Thời của thánh thần” đều biết bác Tường dựng lại một giai đoạn  lịch sử bao điều khủng khiếp, ghê nhất là Cải cách Ruộng đất và Nhân văn Giai phẩm. Sách nói thật, phơi bày những thứ mà chốn cửu trùng cố giấu suốt bao nhiêu năm giời. Thế là bị đánh. Trên đời này, đánh văn chương dễ nhất. Tròn méo khó phân định.

    Nói thật, những tang thương vụ cải cách ruộng đất mà bác Tường phản ánh bằng hình tượng nghệ thuật trong cuốn “Thời của thánh thần” ghê thì ghê thật, nhưng so với những cuốn về sau, gần đây, như “Kiến, chuột, và ruồi” (bọ Lập, Nguyễn Quang Lập) hay “Gia đình” (Phan Thúy Hà)… vẫn chưa là gì.

    Người ta đã đánh Hoàng Minh Tường và “Thời của thánh thần”, tạo nên một án văn ra sao. May mắn, tôi có chút tư liệu về vụ này.

    Đó là biên bản cuộc họp Hội Nhà văn Việt Nam thẩm định cuốn “Thời của thánh thần” ngày 6.9.2008. Hầu như những nhân vật quan trọng nhất của hội có mặt và phát biểu, những Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Trần Đăng Khoa, Vũ Tú Nam, Hồ Anh Thái, Lê Thành Nghị, Nguyễn Khắc Trường, Trung Trung Đỉnh (cụ Đỉnh khi ấy là Giám đốc NXB Hội Nhà văn, nơi cho ra lò cuốn này)… Chê, phê phán, đấu rất ghê. Mà chẳng biết họ đã đọc nó chưa.

    Xin nêu ra đây vài lời vàng ngọc:

    Nhà phê bình Lê Thành Nghị: “…tác giả có nói được một số sự thật nhưng chỉ nói được hiện tượng của mặt trái, mặt sai của xã hội. Tác giả liệt kê sự đen tối, sai lầm mà không nói được sự sâu xa về  chính trị, của vấn đề mình nêu. Ví như nói về vụ Nhân văn giai phẩm, tác giả không có tầm nhìn về mặt chính trị, là bản chất của vấn đề này. Việc người di tản, mất mát trong chiến tranh, tác giả nói quá nhiều về mất mát, đau thương, nói với thái độ phán xét quá mức, phủ nhận hết, lên án hết. Người đọc không còn nhìn nhận được bản chất sâu xa của vấn đề đó, là những thắng lợi của chúng ta…”. 

    Nhà văn Hồ Anh Thái: “Một cuốn sách như tín hiệu về sự tự do ngôn luận, công khai phê phán những vấn đề nhức nhối của xã hội Việt Nam. Có phải đã đến lúc tự do ngôn luận như thế không?”.

    Chỗ này tôi (Thông) nói thêm: Nhà văn thường khéo ăn khéo nói, không muốn mất lòng ai, vừa bày tỏ được suy nghĩ, vừa an toàn bản thân. Nhưng câu hỏi có tính “hai mặt” của ông Thái thì tôi cho rằng ông phê phán ông Tường đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận để viết sai viết bậy, chứ không phải bày tỏ sự mừng vui quyền tự do ấy đã được mở ra với cuốn “Thời của thánh thần”.

    Nhà văn Vũ Tú Nam: “Tác giả nhồi nhét nhiều sự kiện thất thiệt, sai lầm, mất mát. Thử hỏi như vậy có lợi gì? Không chấp nhận được”.

    Nhà  thơ Trần Đăng Khoa: “Tên nhân vật thì quái đản không thể chấp nhận được”…

    Đồng nghề mà còn nện nhau chí tử vậy, nói chi tuyên huấn tuyên giáo, chính trị thuần. Chỉ từ chết tới bị thương.

    Đại loại những ý kiến trong cuộc họp này của các thủ lĩnh văn chương quốc doanh đã góp phần quan trọng đi đến quyết định: Cục Xuất bản, cũng như các cấp cao hơn, đã ban lệnh cấm tiệt, thu hồi, nghiền nát cuốn sách viết không theo ý họ.

    (Còn tiếp)

    Án văn – Kỳ 8: Thù dai cả bức chân dung

    Nguyễn Thông

    1-8-2026

     Trong hai ông “ường” bị hành lên bờ xuống ruộng, người  trong bài trước là nhà văn Hoàng Minh Tường, còn lần này là nhà  điêu khắc Phạm Xuân Trường. 

    Giữa tháng 11.2023, dư luận xã hội, nhất là giới văn nghệ sĩ, văn hóa văn nghệ, dậy sóng vụ Phạm Xuân Trường và “án treo”. Xã hội nóng vậy nhưng tịnh không thấy một tờ báo mậu dịch quốc doanh nào hó hé nửa lời. Chắc còn chờ chỉ đạo. Làm thân phận “chim trong lồng” khổ thế đấy. Đó là thực chất của tự do báo chí ở xứ này.

    Phạm Xuân Trường là ai? Bác ấy – nhà điêu khắc, nhà văn, nhà thơ, cũng thuộc hàng danh sĩ ở đất (Hải) Phòng. Nhắc tới đất Phòng thời hiện đại đừng quên những Bùi Ngọc Tấn, Đào Trọng Khánh, Thi Hoàng, Nguyễn Thụy Kha…, dĩ nhiên có cả Phạm Xuân Trường. Tôi chỉ vinh dự là đồng hương bác Trường chứ chưa được gặp, trò chuyện bao giờ, còn các “cụ” kia thì mình từng hầu chuyện.

    Là người ngoại đạo điêu khắc-hội họa, tôi không dám bàn sâu về tác phẩm của bác Trường, nhưng rất nể phục. Trên đời có những họa sĩ, thậm chí nổi tiếng, chỉ vẽ cái chân dung vào giấy, vào vải cho giống cũng không vẽ được, đằng này bác Trường hì hụi gò mặt người ta lên mảnh kim loại đồng mà cứ như chụp lại bằng búa bằng đe, toát ra cả thần thái “đương sự” thì quá tài. Hình như trong giới làm [văn] nghệ chưa ai đạt được điều này. Tôi cũng chơi với họa sĩ Đỗ Đức, một bậc thầy về tranh khắc gỗ. Lão gia họ Đỗ chỉ cần vài ba nét quệt là thiên hạ nhận ra ngay khắc họa ai. Coi cứ phục lăn.

    Có người trên phây búc chê cái triển lãm chân dung đồng (đồng mà trị giá hơn cả vàng) ấy của bác Trường hơi tạp nham, rằng ai lại lôi cả những vô danh tiểu tốt lên ngự cùng đấng bậc. Nghĩ thế cũng chưa đúng. Đây là nghệ thuật, là sáng tạo, gửi hồn mình vào tác phẩm, chứ không phải buổi duyệt đội ngũ người nổi tiếng. Bác í có thể gò đồng chân dung bà cụ hàng xóm, người chạy xe ôm, hoặc đứa cháu… cũng được cơ mà. Xưa cụ Trần Văn Cẩn chả từng lừng lẫy với bức tranh lụa “Em Thúy” vẽ đứa cháu vô danh tiểu tốt đó sao.

    Biên ngắn gọn vụ việc thế này, theo chính lời kể của “đương sự” nạn nhân Phạm Xuân Trường: Bác ấy tổ chức buổi triển lãm tác phẩm của mấy chục năm sáng tạo, những bức gò đồng thể hiện chân dung/ gương mặt “người nổi tiếng và bạn bè” tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội. Theo đúng quy định, bác đã gửi danh sách 185 tác phẩm cho Sở Văn hóa – Thể thao Hà Nội. Tháng 11, gần sát ngày khai trương triển lãm, Sở duyệt, gạt bỏ 31 tác phẩm, là chân dung của 29 người (bởi có 2 tác phẩm thể hiện nhiều người), cấm, không cho treo. Trong số bị cấm có chân dung các nhà trí thức, văn nghệ sĩ như Phan Khôi, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Hoàng Cầm, Dương Tường, Nguyên Ngọc, Phùng Quán, Nguyễn Duy, Bùi Ngọc Tấn… Gọi vụ này là “án treo” bởi vậy. 

    Danh sách chân dung các văn nghệ sĩ bị cấm. Nguồn: Phạm Xuân Trường

    Không hiểu ông bà sở nào, hiểu biết đến đâu, tầm văn hóa cỡ mấy, quyền hành mức gì, do ngu dốt hay do nhìn đâu cũng thấy nhạy cảm, thấy sự nguy hiểm, hay được ai/ cấp nào chỉ đạo, mà quyết diệt xóa cả những đấng bậc, những danh nhân đã có công lao to lớn với đất nước, nhân dân; với cả những người nổi tiếng được xã hội, cộng đồng ghi nhận. 

    Chân dung của 4 trong số 29 văn nghệ sĩ bị cấm: Trần Đức Thảo, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán. Nguồn: Phạm Xuân Trường/ Tiếng Dân edit

    Nếu những người bị “án treo” ấy là phản động, xấu xa, bị dân phỉ nhổ, căm ghét thì chả nói làm gì, đằng này họ là nhân vật  lịch sử lẫy lừng, nhiều người được chính nhà nước phong tặng tuyên dương giải này, giải nọ. Tôi cho rằng đám cán bộ sở quyền hành đó không thể không biết những  con người tên tuổi Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Trần Dần, Trương Tửu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Duy… Chúng biết cả đấy. Nếu thực sự không biết thì đó là nỗi nhục, là vết nhơ  trong việc dùng người thực hiện công vụ ở xứ này. 

    Chúng chả dám tự ý đâu. Phải do những kẻ trên chúng, quyền hành hơn chúng. Những kẻ luôn bị ám ảnh bởi “vụ án” Nhân văn Giai phẩm dù chuyện đáng xấu hổ do họ gây ra đã qua gần 7 chục năm. Họ muốn thực hiện những vụ Nhân văn mới bởi họ luôn cảnh giác với thế lực thù địch. Trong họ chỉ có con robot lập trình sẵn hoạt động, nhìn ai cũng xấu, nhìn cái gì cũng tệ hại, nguy hiểm cho sự cai trị của họ. Cứ thử đọc một dòng “Không cấp phép tác phẩm: Chân dung Trần Đức Thảo” trong văn bản họ trả lời ông Trường, thấy đám này thật ti tiện. Là quản lý trại hòm chứ không phải quản lý văn hóa.

    Vụ cấm tranh đồng của nhà điêu khắc tài hoa và nhân văn Phạm Xuân Trường phải nói thẳng là vụ Nhân văn giai phẩm bis, vụ đấu tố, hủy diệt văn nghệ mới. Nó là sự kết hợp của chính trị thô bạo với sự quản lý ngu dốt và thói nhỏ nhen, tiểu nhân tầm thường. Nó là sự xuống dốc thê thảm của văn hóa trong tay bọn hồng vệ binh thối nát. Phải vạch mặt, chỉ ra đích danh thủ phạm chứ không thể xuê xoa mãi được.

    (Còn tiếp)


    Không có nhận xét nào