Tùy bút 6 về Sài Gòn
Tác giả: Nguyễn Đông A
17/8/2026
Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn ở đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3. Photo: TGP Sài Gòn
Tôi viết những trang này không phải để kể lại một lịch sử, mà để giữ lại một tiếng thở. Một hơi thở rất nhẹ, mềm, nhưng đủ sức nâng đỡ bao thế hệ giữa thành phố đang gồng mình theo từng cơn nhịp sống. Công giáo ở Sài Gòn như chiếc áo len cũ, mặc vào thấy ấm, thấy thân, thấy mình còn có chốn để tựa vào mỗi khi đời gió ngược.
Tôi sinh ra ở miền Nam. Lúc nhỏ và khi trưởng thành có thời gian dài sống ở Sài Gòn, nên gắn bó với từng con đường Sài Gòn, và gắn luôn với một mái vòm thánh đường, một khung kính màu lấp lánh, một tượng Mẹ mòn chân vì người đời đến khóc, đến khấn, đến tin.
Bạn hỏi tôi: “Sao ông mê viết mấy thứ cũ kỹ vậy?”
– Tôi cười: “Cũ gì đâu, nó còn sống đó, mà sống bằng đức tin, bằng ký ức, bằng tình người…”
Trong những trang sau đây, tôi không kể hết. Tôi chỉ ghi lại những gì trái tim tôi rung lên, giữa những nhà thờ cổ, những bóng người lặng lẽ, những câu kinh thầm thì sau cánh cửa. Tôi mong bạn đọc, khi lật từng trang, sẽ thấy một Sài Gòn khác. Một Sài Gòn của hồn cốt, của lòng tin len vào từng xóm nghèo, từng mái tóc bạc.
Và nếu bạn có một buổi chiều nào đó, đi ngang Nhà thờ Đức Bà, hay Nhà thờ Cha Tam, hoặc đơn giản chỉ ngồi trước tượng Đức Mẹ ở Kỳ Đồng mà thở nhẹ một tiếng, thì tôi tin: bạn đã hiểu được điều tôi đang viết.
TỔNG GIÁO PHẬN SÀI GÒN – MẠCH NGẦM ĐỨC TIN GIỮA LÒNG THÀNH PHỐ
Sài Gòn, cái tên nghe ra tưởng như chỉ là phố xá, là dòng xe chen chúc, là bụi mù đường nhựa nóng. Nhưng thật ra, Sài Gòn còn là một đô thị thiêng liêng, nơi đức tin không nằm im trong sách kinh hay giữa lầu chuông, mà len vào từng góc chợ, từng con hẻm, từng nhịp sống xô bồ thường nhật. Giữa thành phố ấy, Công giáo không hẳn nổi bật, nhưng hiện diện, lặng lẽ mà vững vàng, như chiếc neo giữ lấy một phần linh hồn cho đô thị mỏi mệt vì bon chen.
Và nói đến Công giáo Sài Gòn, sao có thể không nhắc đến Tổng giáo phận Sài Gòn, một trong ba tổng giáo phận trọng yếu của Việt Nam, cùng với Hà Nội và Huế. Tổng giáo phận này không chỉ là đầu tàu về tổ chức tôn giáo, mà còn là trái tim của bao đời di dân, tín hữu, tu sĩ, là nơi từng người con Công giáo Miền Nam luôn hướng về bằng một niềm tự hào sâu lắng.
Tổng giáo phận Sài Gòn được thiết lập năm 1960, dựa theo Sắc chỉ Venerabilium Nostrorum do Đức Giáo hoàng Gioan XXIII ban hành. Nhưng nếu lần giở lại từng trang lịch sử, người ta sẽ thấy đức tin đã cắm rễ ở vùng đất này từ thế kỷ XVI, từ khi linh mục Juan de la Cruz dòng Đa Minh đặt chân tới Hà Tiên vào năm 1550, lúc bấy giờ còn thuộc vương quốc Khmer. Rồi đến Cha Alexandre de Rhodes, tức Cha Đắc Lộ năm 1624, đi vào Đàng Trong, mang theo không chỉ Phúc Âm mà cả bảng chữ Quốc ngữ vừa định hình.
Cha Đắc Lộ là người góp công lớn trong việc vận động Vatican thành lập hai “hạt đại diện tông tòa” đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1659: một ở Đàng Ngoài, một ở Đàng Trong. Từ đó, đức tin lan dần xuống miệt Hạ Đàng Trong, tức Nam Bộ ngày nay, và Sài Gòn, dù chưa mang tên ấy bắt đầu đón nhận những hạt giống đức tin đầu tiên.
Tới năm 1698, khi Chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập dinh Phiên Trấn, thì vùng đất Sài Gòn cũng được chính thức ghi danh trên bản đồ. Và từ đó, nhiều cộng đoàn Công giáo hình thành dọc theo sông rạch, tập trung ở các vùng như Chợ Quán, Gia Định, Thị Nghè, Thủ Đức, nơi có nhiều giáo dân di cư từ miền Trung lánh nạn cấm đạo.
Tới giữa thế kỷ XVIII, có khoảng 8.000 tín hữu Công giáo sinh sống ở vùng Hạ Đàng Trong, nhờ vào công lao của các thừa sai đến từ Dòng Tên, Dòng Phanxicô Tây Ban Nha, Hội Thừa sai Paris. Họ mang đức tin nhưng không quên mang theo chữ nghĩa, kiến thức, y học, và cả lối sống văn minh châu Âu, hòa quyện trong lòng nếp sống dân gian Nam Bộ.
Ngày 02 tháng 03 năm 1844, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XVI tách Đàng Trong thành Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) và Tây Đàng Trong (Sài Gòn). Từ đây, “hạt đại diện tông tòa” Tây Đàng Trong chính thức trở thành trung tâm của Công giáo Nam Bộ. Tuy vậy, địa giới lúc ấy còn bao gồm cả Campuchia, với khoảng 23.000 giáo dân. Tới năm 1850, Campuchia được tách ra, và Hạt Tông tòa Tây Đàng Trong chỉ còn 4 tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long – mà trong đó, Gia Định (tức Sài Gòn) là trung tâm tôn giáo quan trọng bậc nhất.
Tới năm 1924, cái tên “Tây Đàng Trong” được thay bằng “Hạt Tông tòa Sài Gòn” gọn gàng, rõ ràng, gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của vùng đô thị hóa này.
Đến ngày 24 tháng 11 năm 1960, Tòa Thánh thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, và Sài Gòn chính thức trở thành một tổng giáo phận, đứng đầu giáo tỉnh Miền Nam. Từ đây, Giáo phận Phú Cường và Xuân Lộc lần lượt được tách ra vào năm 1965, còn Tòa Tổng giám mục Sài Gòn được nâng lên thành Tòa Hồng y đầu tiên của miền Nam vào năm 2003.
Tính đến năm 2019, tổng giáo phận có hơn 697.000 giáo dân, 988 linh mục (gồm 346 linh mục triều và 642 linh mục dòng), 203 giáo xứ, 14 giáo hạt. Đây là nơi có số người Công giáo đông thứ hai cả nước, chỉ sau Giáo phận Xuân Lộc.
Trung tâm của tổng giáo phận là Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, Vương cung Thánh đường mang tước hiệu “Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội”, được xây từ năm 1877 đến 1880. Tọa lạc giữa Quận 1 hoa lệ, nhà thờ như một viên ngọc giữa lòng đô thị, là nơi tín hữu, du khách, lữ hành hay cả người vô thần đều muốn dừng chân, lặng nhìn và thầm lặng thở dài.
Tòa Tổng giám mục Sài Gòn thì nằm tại 180 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, được xây từ năm 1900, là trung tâm điều hành hành chánh và là nơi gìn giữ ký ức giáo phận. Nơi đây quy tụ 11 phòng ban, từ mục vụ đến truyền thông, từ giáo lý đến công tác xã hội.
Tổng giáo phận còn có những cơ sở thiêng liêng nổi bật như Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Fatima Bình Triệu: tọa lạc tại Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, được cha Phaolô Võ Văn Bộ khai sáng năm 1962, và chính thức thành lập giáo xứ vào năm 1977. Đại chủng viện Thánh Giuse: do linh mục Wibaux thuộc Hội Thừa sai Paris thành lập năm 1863, đào tạo linh mục cho Tổng giáo phận Sài Gòn, Phú Cường và Mỹ Tho.
Tổng giáo phận Sài Gòn không chỉ là một cơ cấu hành chính, mà còn là một chiếc nôi lớn của đời sống Công giáo đô thị, nơi đức tin hòa vào đời sống, nơi có cộng đoàn người Hoa tại nhà thờ Cha Tam, nơi có dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng với đời sống xã hội sâu sắc, nơi mà mọi tầng lớp tín hữu, từ bác sĩ, sinh viên cho đến người bán vé số, người lượm ve chai đều có chỗ để cầu nguyện và yêu thương nhau.
Giáo phận không hẳn chỉ có tiếng chuông ngân vang giữa sương sớm. Nó còn là tiếng hát ca đoàn trong đêm vọng, tiếng khóc tiễn đưa tại nghĩa trang Lái Thiêu, tiếng đọc kinh trong trại tù Chí Hòa, tiếng giảng giáo lý giữa lớp học tình thương, tiếng chuông nhỏ nơi xóm nghèo Tân Hương, Bình Tân, nơi trẻ em tụng kinh Mân Côi dưới ánh đèn dầu…
Sài Gòn có thể thay tên. Nhưng Tổng giáo phận Sài Gòn, trong lòng giáo dân, mãi là cái tên gợi thương, nhớ và tin, là nơi đức tin và tình người cùng nhau đi xuyên qua biến động, để còn lại một điều duy nhất: ánh sáng vẫn cháy, dù đời có mù khói.
NHÀ THỜ ĐỨC BÀ – BIỂU TƯỢNG ĐỨC TIN GIỮA THÀNH PHỐ PHỒN HOA
Tôi nhớ hoài, mỗi lần đi ngang qua trung tâm quận Nhất, đứng từ xa nhìn về hướng phía quận Ba, giữa đám xe cộ hối hả và hàng cây sao cổ thụ tỏa bóng xanh rợp một vùng, thì đập vô mắt trước tiên là mái vòm đỏ và hai ngọn tháp vút cao như chọc thẳng lên trời của nhà thờ Đức Bà. Nơi ấy không chỉ là ngôi thánh đường của riêng người Công giáo Sài Gòn, mà còn là một phần ký ức, một phần hồn đô thị, một tượng đài sống động giữa lòng thành phố, không thể lẫn vào đâu được.
Từ ngày người Pháp chiếm được Sài Gòn năm 1859, việc đầu tiên mà chính quyền thuộc địa lo liệu không chỉ là xây dinh thự hay trạm lính, mà là một nhà thờ để viên chức, thương nhân, và binh lính có chỗ hành lễ, gửi gắm tâm linh nơi vùng đất phương Đông xa lạ. Nhà thờ đầu tiên được lập vội vàng ở Đường số 5, tức đường Ngô Đức Kế bây giờ, chỉ là một kiến trúc nhỏ nhoi. Thấy chật chội, chẳng đủ sức chứa, năm 1863, Đô đốc Victor Auguste Duperré mới cho dựng thêm một nhà thờ gỗ bên bờ “Kinh Lớn”, nơi nay là đường Nguyễn Huệ. Ngặt nỗi khí hậu nóng ẩm, mối mọt sinh sôi, chưa tới mươi năm nhà thờ gỗ đã bị phá hủy.
Có lẽ cũng nhờ những thất bại ban đầu đó mà người Pháp quyết chí làm một nhà thờ vững bền, đàng hoàng hơn. Năm 1876, một cuộc thi thiết kế được mở ra với sự tham gia của 18 đồ án từ nhiều kiến trúc sư khác nhau, và cuối cùng, bản vẽ mang đậm phong cách roman cải biên, lồng ghép sắc thái gothic của kiến trúc sư Jules Bourard được chọn. Địa điểm để xây nhà thờ cũng được cân nhắc kỹ: nào là nền Trường Thơ cũ nơi giờ là Lãnh sự quán Pháp, nào là khu Kinh Lớn, rồi sau cùng, mảnh đất giữa bốn ngả đường sầm uất được chọn làm nơi dựng nên công trình linh thiêng này.
Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Đức cha Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên, khởi đầu cho một kỳ tích kiến trúc giữa vùng nhiệt đới. Và đúng ba năm sau, năm 1880, ngôi nhà thờ hoàn thành. Ngày lễ cung hiến nhà thờ được tổ chức trọng thể với đủ nghi lễ Công giáo và nghi thức nhà nước thuộc địa, bởi toàn bộ chi phí xây dựng lên tới 2,5 triệu franc, đều do Soái phủ Nam Kỳ chi trả.
Người ta thường hay nhắc về gạch đỏ, gỗ quý, cửa kính Pháp… nhưng ít ai để ý: từng cây đinh, từng khúc sắt, xi măng, ốc vít đều được mang từ bên Pháp sang bằng tàu biển. Vật liệu bền, gạch từ Toulouse đặc biệt để trần, không trát vữa, vậy mà qua hơn trăm năm, tường gạch vẫn giữ màu hồng au không phai, không bám rêu.
Năm 1895, hai tháp chuông được dựng thêm, mỗi tháp cao gần 58 mét, bên trong lắp 6 quả chuông đồng lớn đúc từ Pháp, nặng tổng cộng 28 tấn. Riêng bộ chuông này, ngày nay vẫn được xem là một trong những bộ chuông cổ nhất và âm vang nhất Việt Nam. Mỗi dịp lễ trọng, tiếng chuông ngân vang khắp bốn phương, dội vào lòng người một cảm giác linh thiêng khôn tả.
Trái: Nhà thờ Đức Bà thời Pháp thuộc năm 1930. Author: Indochine française. Aéronautique militaire. Phải: Tượng đồng Giám mục Adran và Hoàng tử Cảnh, dựng trước Nhà thờ dưới thời Pháp thuộc.
Năm 1903, ngay giữa vườn hoa trước nhà thờ, người Pháp còn dựng tượng đồng của giám mục Bá Đa Lộc, Pigneau de Béhaine nắm tay hoàng tử Cảnh. Bức tượng từng là biểu tượng “hòa hiếu Đông – Tây” nhưng bị tháo dỡ vào năm 1945 trong bối cảnh chính trị thay đổi. Sau này, chính tại nơi ấy, năm 1958, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên đã đặt tạc bức tượng “Đức Mẹ hòa bình” bằng cẩm thạch trắng, tạc từ Ý, cao 4,6 mét, nặng 8 tấn, đưa về bằng tàu Oyanox. Tượng không đánh bóng, để giữ nét thô mộc, cổ kính, biểu hiện cho một niềm tin bền vững, mộc mạc mà sâu xa. Ngày 17/2/1959, Đức Hồng y Krikor Bedros XV Aghagianian cử hành nghi thức làm phép tượng, cũng từ đó, người ta quen gọi luôn nơi đây là “nhà thờ Đức Bà”.
Tới ngày 5/12/1959, Tòa Thánh nâng nhà thờ lên hàng “Tiểu vương cung thánh đường”. Một danh hiệu danh giá trong hệ thống nhà thờ Công giáo toàn cầu, chỉ dành cho những công trình tiêu biểu về cả lịch sử lẫn tâm linh. Mái vòm cao, kiến trúc nguy nga, nội thất lộng lẫy, tất cả đều nói lên một sự nghiêm trang và tôn kính. Cả thánh đường dài 93m, rộng 35m, vòm mái cao 21m, có thể chứa hơn 1.200 giáo dân trong mỗi thánh lễ.
Nhìn vào bên trong, ấn tượng đầu tiên là hàng cột đá sừng sững, mỗi bên sáu cột, tượng trưng cho mười hai thánh Tông đồ. Bàn thờ chính bằng đá nguyên khối, khắc sáu thiên thần nâng đỡ mặt bàn. Dọc theo hai bên là những nhà nguyện nhỏ với bàn thờ các thánh, cùng “14 chặng đàng thánh giá” làm bằng đá trắng. Trên cao, ánh sáng đổ qua 56 cửa kính màu, tạo ra một không gian thiêng liêng huyền ảo, như lọc cả bụi trần ra ngoài.
Gác đàn organ nằm phía trên cửa chính, là một trong hai cây đàn cổ nhất Việt Nam. Dù đã hỏng, nhưng cây đàn ấy từng là niềm tự hào, mỗi lần tấu vang là lan khắp vòm đá, chạm vào hồn người. Bộ đồng hồ cổ đặt giữa hai tháp chuông, chế tạo từ Thụy Sĩ năm 1887, vẫn hoạt động bền bỉ sau hơn một thế kỷ.
Tính từ lúc xây đến nay, nhà thờ trải qua ba lần trùng tu đáng kể: thêm tháp chuông năm 1895, dựng vườn hoa và tượng đài Bá Đa Lộc năm 1903, đặt tượng Đức Mẹ Hòa Bình năm 1959. Gần đây nhất là cuộc đại tu bắt đầu từ 29/6/2017, dự kiến kéo dài đến 2027. Một chặng đường gian nan vì ảnh hưởng dịch bệnh, thiếu vật liệu đặc thù từ châu Âu, nhưng cũng là nỗ lực nghiêm cẩn nhằm bảo tồn một di sản tâm linh – kiến trúc – văn hóa độc nhất của thành phố này.
Trái: Nhà thờ Đức Bà chụp năm 2013. Author: Diego Delso. Phải: Quang cảnh bên trong Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, chụp năm 2012. Auhtor: Jimmy McIntyre – Editor HDR One Magazine
Nhà thờ Đức Bà chụp năm 2013. Author: Diego Delso
Tôi còn nhớ rõ, lần cuối tôi dự lễ ở đây là hơn chục năm trước. Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình, lúc ấy đã già yếu lắm rồi, vẫn cố gắng chủ tế thánh lễ, dáng ngài chậm chậm, từng bước bước lên bàn thờ, có cha phụ tế dìu hai bên. Ánh sáng xuyên qua các ô kính màu, in bóng lên gương mặt ngài một vẻ thánh thiện đến rưng rưng.
Nhà thờ Đức Bà không chỉ là “vương cung thánh đường”, mà còn là một chứng nhân của bao đổi thay đất Sài Gòn, là cái neo giữ hồn người trong những giờ phút bấp bênh, là nơi trú ẩn của niềm tin giữa lòng đô thị chộn rộn. Mỗi viên gạch, mỗi ô cửa, mỗi tiếng chuông là một hồi ức, một gợi nhắc, một dẫn đường cho những ai còn khát khao điều linh thánh giữa cõi trần bụi bặm này.
NHÀ THỜ TÂN ĐỊNH – MÀU HỒNG KÝ ỨC TRONG TIM ĐÔ THỊ
Tôi nhớ hoài, có bữa một người bạn ở xa vô Sài Gòn chơi, vừa xuống sân bay, việc đầu tiên không phải là đi chợ Bến Thành, không phải chạy ra bến Bạch Đằng, mà là hỏi tôi: “Ê mậy, cái nhà thờ màu hồng ở đâu dzạ, dẫn tao đi coi cái!”. Nghe vậy tôi chỉ cười. Ờ, Sài Gòn vậy đó, có nhiều nhà thờ đẹp lắm, mỗi cái một vẻ, nhưng cái nhà thờ hồng phấn giữa lòng quận Ba, tức Nhà thờ Tân Định thì đúng là một chuyện riêng, một hồn riêng, một vệt ký ức màu hồng kỳ lạ, vui mắt và linh thiêng, trang nghiêm mà như mộng mị.
Tên đầy đủ là Nhà thờ Thánh Tâm Chúa Jesus Tân Định, nhưng hỏi như vậy thì ít ai biết, người ta quen gọi ngắn gọn là “nhà thờ Tân Định”, thậm chí gọi luôn “nhà thờ màu hồng”, nghe vừa dễ thương, vừa… rất Sài Gòn.
Nhà thờ Tân Định, chụp năm 2020. Photo: Báo Thanh Niên
Tọa lạc ngay đường Hai Bà Trưng, quận 3, con đường lớn xưa gọi là đường Lareynière thời Pháp thuộc, Nhà thờ Tân Định được khởi công năm 1870, chỉ sau Nhà thờ Đức Bà ít năm, nhưng cũng đã khánh thành từ năm 1876, nghĩa là đến nay đã ngót nghét 150 năm tuổi. Cả một đời người nằm trong cái kiến trúc đồ sộ, vững chãi, mà vẫn bay bổng như lâu đài cổ tích ấy.
Kiến trúc nhà thờ mang phong cách gothic chủ đạo. Vòm nhọn, tháp chuông cao vút, trần cao hun hút nhưng lại điểm xuyết thêm những chi tiết roman, baroque kiểu Âu châu thế kỷ XIX. Màu hồng phấn phủ cả mặt ngoài lẫn nội thất bên trong được sơn từ năm 1957, khiến nhà thờ có cái vẻ vừa cổ kính, vừa nữ tính, vừa như bước ra từ một cuốn sách thiếu nhi phương Tây, lại vừa chững chạc như một bà cố đạo cao niên khoác chiếc áo dòng hồng lạ mắt giữa lòng đô thị phương Đông.
Trên đỉnh tháp chính cao 52,6 mét, đủ cao để nhìn thấy từ xa mỗi buổi hoàng hôn, là cây thánh giá bằng đồng cao ba mét. Trong lòng tháp là năm quả chuông lớn, tổng cộng nặng tới 5,5 tấn. Chúng tạo ra một thứ âm thanh thánh thót, vang xa mỗi khi chuông đổ lễ. Hai tháp phụ hai bên, tuy thấp hơn, nhưng lại xinh xắn với các tháp đèn, ô cửa sổ hoa gió, hoa văn cầu kỳ, mỗi lần ánh nắng chiếu qua lại lấp lánh như có người thắp đèn trời.
Đi vào bên trong, cái ấn tượng đầu tiên là hàng cột gothic đồ sộ dẫn thẳng tới cung thánh. Bên trái là các tượng thánh nữ, bên phải là các thánh nam, mỗi pho tượng đặt trên một bệ riêng, trang nghiêm mà ấm áp. Cung thánh thì nổi bật với bàn thờ đá cẩm thạch trắng ngà, những bức phù điêu được khắc từ cuối thế kỷ XIX tinh xảo, tỉ mỉ từng đường nét.
Về mặt cấu trúc, nhà thờ chia thành một gian giữa chính với mái vòm cao, được bao quanh bởi các hành lang hai bên. Phía trên là một phòng trưng bày, kiểu kiến trúc thường thấy trong các nhà thờ phương Tây. Hai bên cánh cung thánh là hai bức tượng quen thuộc: Đức mẹ Maria bên trái, Thánh cả Giuse bên phải gần gũi, hiền từ, như bảo bọc lấy từng ánh mắt cúi đầu cầu nguyện.
Từ lúc khởi sự, nhà thờ đã trải qua biết bao thay đổi. Người gầy dựng nền móng đầu tiên là Cha Donatien Éveillard, một vị linh mục mà người Sài Gòn hồi đó ai cũng kính nể. Ông vừa đi vận động tài chính, vừa chỉ huy công trình. Chỉ có một người Hoa tên A Lộc cùng ông lo phần kỹ thuật. Cả hai đã dầm sương dãi nắng, mài miệt suốt hai năm trời. Cuối cùng, vào năm 1876, một thánh đường nguy nga ra đời với chi phí khoảng 15.000 đồng Đông Dương, thời đó là cả một gia tài kếch xù.
Cha Éveillard mất năm 1883, giáo dân thương tiếc nên an táng ngài ngay trong nhà thờ, phía trước bàn thờ Đức Mẹ, một cái nghĩa cử thiêng liêng, để đời, để đạo, cùng hòa làm một.
Những năm 1890, Cha Louis Eugène Louvet Ngôn tiếp nối di sản, lại tổ chức xổ số gây quỹ để mở rộng, tu sửa. Các tòa nhà mới được dựng lên từ năm 1896 đến 1898. Đến năm 1928 – 1929, nhà thờ được nâng cấp lớn: xây tháp chuông hình bát giác cao vút, dựng thêm tiền sảnh đằng trước và làm trần giả cho gian giữa. Cái cách người ta làm, kỹ lưỡng, linh hoạt, giữ gìn bản sắc, lại nâng tầm kiến trúc, thể hiện rõ ý chí của một cộng đồng sống bằng đức tin, bằng lòng thương xót và bằng cái đẹp thánh thiện.
Năm 1949, người ta gia cố lại các trụ chính ở gian giữa. Và rồi, năm 1957, lần sơn màu hồng định mệnh bắt đầu, biến nhà thờ Tân Định thành một biểu tượng thị giác độc đáo không chỉ của giáo hội, mà cả trong đời sống đô thị. Đến bây giờ, ai đi ngang đường Hai Bà Trưng cũng không thể làm ngơ trước một tòa nhà cổ tích màu hồng ngọt như son, nằm giữa lòng phố thị xám bụi, xe cộ rần rần.
Nhiều du khách quốc tế đến Sài Gòn, họ không đến vì tôn giáo, nhưng đến vì… cái màu hồng này. Người chụp ảnh cưới, kẻ quay clip du lịch, cô dâu Nhật, chú rể Hàn, những bà ngoại người Ý, đủ cả. Nhưng có lẽ ít ai biết, bên dưới lớp sơn rực rỡ kia là một chiều sâu lịch sử gần 150 năm, là mồ hôi và lòng tin của biết bao giáo dân, là bóng mát tâm linh cho hàng chục thế hệ con chiên Sài Gòn. Hiện tại, Giáo xứ Tân Định có tới 9 giáo khu, hơn một ngàn gia đình, tổng cộng khoảng 6.500 giáo dân.
Nhà thờ Tân Định nói sao cho đủ? Màu hồng ấy có thể là màu của hy vọng, màu của lòng mến, màu của tuổi thơ ai đó từng được dắt tay đi lễ sáng Chủ nhật. Nhưng cũng có thể là màu của sự ngóng trông, sự gìn giữ, sự nhẹ nhàng giữa một thành phố đang mỏi mệt vì quá nhiều tốc độ, quá nhiều đổi thay.
Tôi vẫn nhớ như in lần đầu đứng dưới chân tháp chuông, ngước nhìn lên, tháp cao lồng lộng giữa trời, chuông chưa đổ, mà lòng tôi đã rung lên rồi…
NHÀ THỜ CHA TAM – GIAO HÒA ĐÔNG TÂY TRONG HỒN CHỢ LỚN
Tôi hay nói chơi với mấy người bạn ngoài Bắc khi họ vô Sài Gòn chơi rằng: “Muốn hiểu Sài Gòn, thì đừng chỉ coi quận Nhất, mà phải chui vô Chợ Lớn, phải nghe cái tiếng leng keng rao hàng dọc đường Hồng Bàng buổi sáng sớm, phải ngửi mùi cháo cá, bánh tiêu ở góc Ông Ích Khiêm, rồi mới coi được cái tâm tình nó mần nên cái hồn phố này”. Nói vậy, thiệt ra cũng không quá lời đâu. Vì chính tôi, có má gốc Sài Gòn, bà con ở rải từ quận Năm qua quận Tám, nên tôi lui tới Chợ Lớn cũng như người ta đi chợ về nhà, thành ra thân quen với từng ngách từng nẻo, đặc biệt là Nhà thờ Cha Tam, một nơi có lạ gì, nhưng mỗi lần ghé lại đều có cảm giác như mới bước vô một mảnh ký ức xưa.
Nhà thờ Cha Tam, chụp năm 2011. Author: Fumihiko Ueno
Nhà thờ Cha Tam, nghe dân gian gọi vậy, chớ tên chính thức là nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê. Nằm ngay số 25 đường Học Lạc, phường 14, quận 5, nhà thờ nhỏ thôi, không hoành tráng như Đức Bà hay Tân Định, nhưng ai đã từng đi ngang mà ngó vô một cái, thì hẳn cũng phải ngoái đầu nhìn lần nữa. Nó mang một vẻ đẹp dị biệt, không đồ sộ nhưng vững chãi, vừa tây, tây kiểu Gothique, lại đậm chất Hoa kiều. Một hỗn dung lạ lẫm mà lại hài hòa như thể duyên ngầm.
Tôi từng đứng trước cổng tam quan của nhà thờ vào một buổi chiều ẩm ướt cơn mưa vừa tạnh, lá cây còn đọng giọt và nghĩ thầm: “Ở giữa lòng đô thị, giữa những ồn ào Chợ Lớn, mà vẫn có một chốn yên như vầy… là may mắn cho người giữ đạo, cũng là an ủi cho kẻ đi hoài chưa tới một đức tin nào”.
Cái tên “Cha Tam”, là do người ta thương, nhớ mà gọi. Tên thật của ngài là Linh mục Phanxicô Xaviê Tam Assou, người đã dựng nên chính ngôi nhà thờ này vào đầu thế kỷ XX. Mà nhà thờ đâu chỉ là thánh đường nó còn là trường học, là nơi nuôi trẻ, là một phần đời sống của cộng đồng Công giáo người Hoa ở Chợ Lớn. Một cộng đồng nhỏ, kín đáo mà trầm sâu.
Người ta hay nhắc đến Cha Tam gắn với một sự kiện chấn động lịch sử cuộc đảo chính ngày 1/11/1963. Ngày ấy, Tổng thống Ngô Đình Diệm và em là Ngô Đình Nhu, sau khi trốn thoát khỏi dinh Gia Long, đã tạm trú tại nhà ông Mã Tuyên, một thương gia gốc Hoa ở Chợ Lớn. Sáng hôm sau, hai ông tới nhà thờ Cha Tam cầu nguyện, lần cầu nguyện cuối cùng. Sau đó bị bắt và sát hại trên đường về Bộ Tổng tham mưu. Câu chuyện đau lòng đó đã gắn tên nhà thờ này vào lịch sử như một nhân chứng lặng thinh của biến thiên chính trị miền Nam. Người già ở Chợ Lớn giờ vẫn nhớ, và trong cái nhớ ấy, có cả nỗi buồn man mác, rưng rưng.
Nhưng Nhà thờ Cha Tam, dĩ nhiên không chỉ là chốn dừng chân bất đắc dĩ của chính trị. Nó là nơi gieo rắc đức tin từ hơn trăm năm trước. Từ năm 1865, khi Cha Philippe, một thừa sai Paris, thành lập ngôi nhà thờ đầu tiên cho người Hoa ở Chợ Lớn lúc ấy chỉ mới có khoảng chục người gốc Hoa định cư để buôn bán. Nhà thờ đầu tiên dựng bằng kiểu nhà Việt, gần ga xe lửa, giờ là ngã tư Trần Hưng Đạo B – Châu Văn Liêm. Vài mái tranh, vài ghế gỗ, một bàn thờ, vậy mà cũng thành nơi nương tựa tinh thần cho bao người từ phương Bắc phương Đông tìm tới đất phương Nam này.
Năm 1898, Cha Tam về Chợ Lớn. Cha người gốc Hoa, biết nhiều thứ tiếng địa phương như Triều Châu, Hẹ, Phúc Kiến nên được giáo phận Sài Gòn gửi về để mở rộng đạo cho cộng đồng người Hoa. Cha kiếm đất, mua ba mẫu đất ngay trung tâm Chợ Lớn, một vị trí đắt giá không phải chỉ về địa lý mà còn về biểu tượng. Năm 1900, đích thân Đức cha Lucien Mossard làm lễ đặt viên đá đầu tiên. Năm 1902, nhà thờ hoàn thành, trang nghiêm, tĩnh lặng giữa chốn phồn hoa. Sau đó, cha Tam còn xây trường học, nhà nội trú, nuôi trẻ mồ côi. Người Chợ Lớn thương cha như người thân trong nhà, gọi tên “Cha Tam” mà không thêm gì, như nói về một người ông, người cha đầy ân cần, hy sinh.
Đến năm 1934, Cha Tam qua đời, an táng gần cửa nhà thờ. Phần mộ nằm đó, âm thầm, nhưng không cô đơn, vì ngày nào cũng có bước chân người đi ngang khấn vái, có ánh nến lung linh hằng đêm như sự nhớ ơn âm ỉ cháy hoài không tắt.
Sau Cha Tam, nhiều linh mục khác tiếp nối, xây dựng thêm các giáo điểm như Đức Bà Hòa Bình, Bình Tây, Phú Lâm, Thánh Giuse, Bình Thới… Dưới thời cha Joseph Guimet, rồi Cha Charles Chang. Thậm chí đến tiểu chủng viện dành cho người Hoa cũng được lập ra, đào tạo linh mục, truyền giáo. Đó là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của Công giáo trong cộng đồng người Việt gốc Hoa, đặc biệt từ thập niên 1950–1970.
Đến năm 1975, số giáo dân gốc Hoa tại Giáo xứ Phanxicô Xaviê lên tới 8.000 người. Nhưng rồi biến cố đổi đời, đất nước thống nhất, người Hoa lần lượt ra đi. Sau năm 1978, giáo dân tản mác bốn phương, nhà thờ trở nên vắng hơn, buồn hơn, nhưng ngọn đèn đức tin chưa khi nào tắt.
Kiến trúc nhà thờ là một điểm nhấn độc đáo. Pha trộn giữa Gothic của phương Tây và những yếu tố thuần Hoa của Á Đông. Cổng tam quan rực màu đỏ, mái ngói âm dương, chữ Hán khắc trên biển hiệu, đầu đao uốn cong cong như vẫy gọi tổ tiên. Hai con cá chép chầu bên thánh giá, biểu tượng sinh động cho sự chuyển hóa.
Bên trong, nhà nguyện Đức Mẹ được dựng theo kiểu tiểu đình người Hoa, cột sơn son thếp vàng, câu đối rực rỡ, lồng đèn thắp vàng khung cửa. Mái lợp ngói lưu ly xanh biếc, hoa sen điểm xuyết trên nóc, cột đỏ như lửa. Đỏ của may mắn, nhưng cũng là đỏ của máu, của đạo lý giữ gìn.
Cửa sổ cao vút, chóp nhọn kiểu gothic, nhưng hoa văn lại là hoa sen, cá chép, bồ đề, trúc… hình tượng Phật giáo xen kẽ trong kiến trúc Công giáo, như một cách thở của lòng bao dung tôn giáo. Kính màu ở những ô cửa kể lại từng câu chuyện Kinh Thánh – Abraham dâng Isaac, Phêrô chối Chúa, Mẹ Maria buồn bã dưới chân thập giá. Tất cả lung linh như kính vạn hoa, mỗi tia sáng là một tia hy vọng.
Bên ngoài, dọc hành lang sân nhà thờ là các phù điêu 107 thánh tử đạo Việt Nam và 110 thánh tử đạo Trung Hoa, những linh hồn đã sống chết vì đức tin, giờ nằm yên trên những mảng tường đá, nhưng vẫn nói với hậu thế bằng ánh nhìn bình thản, cam chịu mà hừng hực.
NHÀ THỜ HUYỆN SỸ – BẢN GIAO HƯỞNG BẰNG ĐÁ CỦA MỘT PHÚ HỘ NHÂN LÀNH
Tôi đến Nhà thờ Huyện Sỹ giáo xứ Chợ Đũi vào xế chiều nhưng lòng tôi thì lại sáng. Tôi đi từ đầu đường Tôn Thất Tùng, nơi tiếng xe lướt qua inh ỏi, rồi chậm bước khi bóng tháp chuông ẩn hiện trên nền trời dầu mặn. Công trình ấy không chỉ là một dấu tích thời gian, mà là bản giao hưởng bằng đá, ánh sáng và đức tin giữa lòng phố thị.
Tôi bước và trong thánh đường, tấm kính màu lung linh phản chiếu trên tường vòm lọt ngay vào tầm mắt. Dưới ánh sáng ấy, ký ức hiện về một người đàn ông hiếm thấy, có nhiều tiền của mà lại có một trái tim rộng mở, là ông Lê Phát Đạt, người mà người dân gọi là “Huyện Sỹ”. Ông là một trong “Tứ đại phú hộ Nam Kỳ” thời bấy giờ, giàu có bậc nhất, từng học hành ở Pinang (Malaysia), biết nhiều thứ tiếng, gồm Latin, Pháp, Hoa, Quốc ngữ.
Trái: Nhà thờ Huyện Sỹ, chụp năm 2014. Author: Bùi Thụy Đào Nguyên. Phải: Tượng đài thánh tử đạo Mátthêu Lê Văn Gẫm, chụp năm 2014. Author: Bùi Thụy Đào Nguyên
Năm 1902, ông đã hiến đất rộng hơn một mẫu và trích đến một phần tư gia tài, khoảng 30.000 đồng Đông Dương, để xây dựng ngôi nhà thờ. Ông chọn tên Thánh Philipphê làm bổn mạng, nhưng dân chúng vẫn quen gọi ngôi nhà cầu nguyện này là Nhà thờ Huyện Sỹ, để ghi nhớ ông
Ông qua đời năm 1900, trước khi công trình hoàn thiện. Đến năm 1920, khi vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài mất, linh cữu hai vợ chồng mới được đưa vào an táng trang trọng ngay sau cung thánh, cạnh tượng thánh bổn mạng.
Nhà thờ Huyện Sĩ dài 40m, rộng 18m. Thiết kế kiểu Gothic vòm nhọn, cột chịu lực cao vút và mái chóp tháp chuông được linh mục Bouttier chọn để xây dựng năm 1902. Năm 1905, thánh đường hoàn thiện, với đá granite Biên Hòa rắn chắc ốp mặt tiền và các cột trụ, phản chiếu ánh sáng chói chang mỗi khi hoàng hôn đổ xuống.
Tháp chuông cao đến 57m, nổi bật trên nền trời Sài Gòn, có tượng gà Gaulois trên đỉnh, biểu tượng của ánh sáng và văn minh phương Tây. Bên trong là bốn quả chuông nặng, đúc tại Pháp năm 1905, hai quả lớn được tặng bởi con cháu Huyện Sỹ, hai quả nhỏ hơn là tình nghĩa của ông bà.
Nhà thờ sơn tường màu vàng nhạt, trầm ấm, xen lẫn vẻ cổ kính và sinh động trong từng đường nét, từng chi tiết cửa vòm, từng mái gờ đục thủ công. Mỗi chi tiết đều phản ánh sự hòa quyện giữa kỹ thuật phương Tây và khí hậu nhiệt đới.
Đi vào sâu trong, cảm nhận đầu tiên của tôi là một không gian huyền nhiệm. Mái vòm gắn trần kính từ Ý, tạo cảm giác lung linh như lạc bước vào một dãy Gethsemani khác giữa phố thị nhộn nhịp. Dọc hai bên tường là các tượng thánh điêu khắc tinh xảo, nhưng ấn tượng nhất là tượng thánh Philipphê bằng đá cẩm thạch, tay vững trọn cây thánh giá Phục sinh, ánh mắt hướng thẳng lên trời như dẫn lối.
Đứng lặng nhìn trước phần mộ ông bà Huyện Sỹ, được điêu khắc nguyên khối như người thật. Bà trong tà áo dài khăn đóng, ông đội khăn đóng và đi giày chạm khắc tinh vi từng nếp áo váy, tôi tưởng tượng hình ảnh ông bà đang quỳ xuống, ôm lấy cung thánh như ôm lấy đứa con tinh thần của mình.
Khoảng sân trước nhà thờ rộng hơn một mẫu, được giữ gìn thông thoáng, lát đá granite. Giữa sân là tượng Thánh tử đạo Việt Nam Matthêu Lê Văn Gẫm người bị xử giảo vì chuyên chở các linh mục vào Sài Gòn năm 1847. Bên trái là Núi Đức Mẹ Lộ Đức khởi dựng năm 1960 để kính Đức Mẹ và cầu nguyện bệnh nhân mỗi ngày 11/2. Bên phải là đồi Canvê, tượng Chúa dang tay, nơi tín hữu đến giải tội và sám hối, do Cha Dương Hoàng Thanh xây dựng năm 1974.
Nhà thờ không chỉ là xây dựng bằng đá, gạch, thủy tinh mà còn là nơi lưu giữ hơi thở của bao thế hệ tín hữu. Mỗi sáng, người Sài Gòn cũng đi lễ sớm, áo dài chỉnh tề, tay lần chuỗi Mân Côi, mắt hướng lên thánh giá. Thứ bảy, chủ nhật thì đông đúc, các ban hát, ca đoàn, thiếu nhi xếp hàng trong niềm thành kính. Ở bất kỳ mùa nào, nơi đây đều chứa đựng dấu chân người đi, từ người nghèo đến người giàu, từ sinh viên đến thương gia, để cầu nguyện, để cảm ơn, để sống một phút tĩnh lặng hiếm hoi giữa Sài Gòn chuyển mình.
Sài Gòn hôm nay vẫn đổi thay từng giờ, tòa cao ốc mọc lên nhanh như nấm, cửa thép đóng mở inh ỏi, phố phường tấp nập. Nhưng Nhà thờ Huyện Sỹ vẫn đứng sừng sững bên góc phố, như một chứng nhân không vội, không rời.
Tôi nghĩ, ngôi thánh đường này là một cuốn bút ký sống, bằng đá, bằng ánh sáng, bằng âm vang lễ nghi và sự hy sinh lặng thầm. Mỗi viên đá, mỗi mái vòm, mỗi khung kính màu kể câu chuyện của dòng thời gian và chân lý của đức tin, sự hiến dâng, sự nối dài, sự sáng mãi giữa đời thường.
Rồi tôi rời nhà thờ, rời Sài Gòn, và biết rằng mình vừa bước ra khỏi một không gian vật chất, để trở về với một con người, với suy nghĩ là, đức tin nếu có thể sống cùng đá, cùng phố, thì nó cũng có thể sống trong mỗi con người, chịu đựng và thăng hoa dù giữa chợ đời bộn bề.
NHÀ THỜ KỲ ĐỒNG – DẤU CHÂN MẸ GIỮA PHỐ CHẬT LÒNG NGƯỜI
Sống ở Sài Gòn, có những ngày tôi thấy lòng mình chộn rộn chẳng vì đâu, như thể gió phố thổi trúng vào một miền ký ức lâu đời, vậy là lại cuốc bộ về nhà thờ Kỳ Đồng. Từ chỗ tôi ở bên cầu Trương Minh Giảng, giờ là đường Lê Văn Sỹ, đi thêm một đoạn là tới số 38 Kỳ Đồng, cái địa chỉ ai cũng biết, ai cũng thân quen, vì nơi ấy không chỉ có một ngôi nhà thờ, mà có cả một hơi thở ấm nồng của niềm tin, của lòng người tìm đến Mẹ trong những bận lòng không nói được nên lời.
Nhà thờ Kỳ Đồng. Photo: TGP Sài Gòn.
Người Sài Gòn đạo dòng hay nói vui với nhau: “Muốn nghe giảng hay, ghé nhà thờ Kỳ Đồng”. Câu đó như đùa mà thiệt. Vì các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, từ lâu, vốn nổi tiếng giảng dạy sâu sắc, nắm chắc Kinh Thánh, mà lời nói lại chan chứa tình người. Mà thiệt ra, đâu phải chỉ các cha dòng. Tôi nhớ hồi bà cụ cố tôi mất, lễ an táng tổ chức tại đây, giữa một ngày oi ả, cha quản hạt Vũng Tàu hôm đó giảng một bài về “sự chết” mà tôi nghe xong, lòng như được rửa sạch khỏi bụi trần nhẹ hẫng, an nhiên. Giọng cha đặc sệt Nam Kỳ, đều đều như con nước ròng, mà mỗi chữ đều lặn sâu vô tim người ta một cách lặng lẽ.
Nhà thờ Kỳ Đồng, chính danh là “Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”, là một phần trong khu tu viện của dòng Chúa Cứu Thế tại Sài Gòn. Người đời quen gọi là “Nhà thờ Kỳ Đồng”, giản dị, thân tình như thể một ngôi nhà quen trong xóm. Nhà thờ này được khởi công năm 1949, dưới sự điều hành của linh mục bề trên Beliemare, và chính thức hoàn thành, khánh thành năm 1952 – giữa bối cảnh Sài Gòn khi ấy còn thấp thoáng dư âm thời Pháp thuộc, còn lẫn lộn tiếng chuông nhà thờ và tiếng tàu điện leng keng.
Khác với kiến trúc cầu kỳ kiểu gothic của Nhà thờ Đức Bà hay nét baroque pha sắc màu Á Đông của Nhà thờ Tân Định, nhà thờ Kỳ Đồng mang tinh thần cách tân, đơn giản mà trang nghiêm. Bên ngoài là các khối hình học gãy gọn, tam giác, vòm cong, những đường nét ít màu mè, ít họa tiết, nhưng nhờ đó mà ánh mắt người ta khi bước vào liền bị hút thẳng về tượng “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” được đặt nổi bật ở chính diện hai vòm cửa. Một hình ảnh thân thương và uy nghi.
Kiến trúc nhà thờ chú trọng ánh sáng, những ô cửa sổ cao vút cho nắng gió len vào thánh đường, làm dịu mát lòng người đang nguyện cầu. Không có các hàng cột nặng nề chắn lối, không có những chi tiết phù điêu rối rắm, chỉ có Chúa chịu nạn ở cung thánh, giữa một không gian trống thoáng mà lại đầy thiêng liêng, như một trái tim đang đập nhịp đều cho cả cộng đồng giáo dân nơi này.
Thập niên 1960, giáo dân tụ họp quanh khu vực Kỳ Đồng càng ngày càng đông, mà các nhà thờ lân cận như Tân Định, Chợ Đũi, Hòa Hưng đều quá xa. Việc lãnh các bí tích trở nên vất vả. Linh mục chính xứ Tân Định lúc đó ngỏ lời mời dòng Chúa Cứu Thế phụ trách một giáo xứ riêng tại đây. Sau một thời gian cân nhắc, Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã ra quyết định chính thức thành lập giáo xứ “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” và ủy thác cho Phụ tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đảm nhận coi sóc. Linh mục Gioan Nguyễn Văn Thính thay mặt phụ tỉnh đón nhận sự giao phó, mở ra một chặng đường mới, nơi truyền giáo không còn chỉ là trách nhiệm, mà đã trở thành một lẽ sống.
Nói về Mẹ – không thể không nhắc đến bức linh ảnh “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”, biểu tượng thiêng liêng gắn liền với Dòng Chúa Cứu Thế toàn cầu. Năm 1866, Đức Giáo hoàng Piô IX trao bức ảnh cho Cha bề trên Nicolas Mauron, căn dặn một câu mà người ta vẫn nhắc mãi như một lời sai phái từ thiên đình: “Hãy làm cho thế giới biết Mẹ”. Và kể từ đó, mỗi cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế ở bất kỳ quốc gia nào cũng rước Mẹ về, không chỉ đặt ảnh Mẹ trên bàn thờ, mà đặt Mẹ trong trung tâm của sứ vụ, của trái tim.
Ở Việt Nam, dù người Công giáo vốn đã có lòng sùng kính Đức Mẹ tự bao đời, nhưng theo các thừa sai Canada từng ghi nhận, trước năm 1925, danh hiệu “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” chưa phổ biến. Mãi đến sau 1946, với sự hiện diện mạnh mẽ của dòng Chúa Cứu Thế, tượng ảnh Mẹ đã hiện diện ở hầu hết các nhà thờ lớn nhỏ trên cả nước. Tại Kỳ Đồng, các giờ hành hương kính Mẹ bắt đầu diễn ra hai lần một tuần, vào thứ tư và thứ bảy, với các khung giờ riêng biệt cho tiếng Việt, tiếng Pháp, và cả tiếng Tamil dành cho cộng đồng phụ nữ Ấn Độ đang làm việc cho chính quyền Pháp thời đó.
Dòng Chúa Cứu Thế đến Việt Nam vào năm 1933, và chọn Sài Gòn làm điểm khởi đầu cho hành trình truyền giáo. Đặc sủng của dòng là hướng tới người nghèo, người bị bỏ rơi, là mở ra những “tuần đại phúc”, các đợt giảng rao và hướng dẫn linh hồn suốt nhiều ngày đêm. Và nhà thờ Kỳ Đồng, chẳng bao lâu sau, trở thành trung tâm hành hương Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lớn nhất miền Nam, nơi mà hằng ngày, không chỉ có người đi lễ, mà có người tìm đến khóc lặng trước Mẹ, có người đi xa về mang theo cả vali tâm sự, đặt dưới chân tượng Đức Mẹ, mong được ủi an.
Bây giờ, nếu có dịp ghé ngang Nhà thờ Kỳ Đồng vào một buổi chiều thứ bảy, bạn sẽ thấy dòng người lặng lẽ xếp hàng chờ đến lượt ghi lời khấn. Người khấn vì bệnh tật, người vì hôn nhân trục trặc, người vì con cái hư hỏng, người chỉ khấn… cho bình an. Những tờ giấy ghi lời nguyện đặt đầy trên bàn nguyện vọng, ai đọc cũng thấy lòng mình nao nao. Ở đây, Mẹ không chỉ là một tượng thờ, Mẹ là chỗ tựa, là nơi ai cũng có thể trở về, dù trong người mang theo bao nhiêu tổn thương, gãy đổ.
Mỗi lần bước ra khỏi nhà thờ Kỳ Đồng, tôi luôn ngước nhìn lại lần nữa. Trên bức tường trắng đơn sơ, ảnh Mẹ tỏa ra một ánh sáng dịu dàng, như Mẹ nói rằng: “Về đi con, mọi sự rồi sẽ ổn”.
(còn nữa)
Nguyễn Đông A
Không có nhận xét nào