Tác giả: Nguyễn Đông A
August 25, 2026
(Đôi điều về bốn cuốn “Sài Gòn dưới lớp Sài Gòn”, hai tập tiếng Việt và hai tập tiếng Pháp.)
Tôi không nhờ ai viết lời giới thiệu cho bộ sách này. Sau cùng, tôi nghĩ người thích hợp để nói đôi điều về hành trình của nó vẫn là chính mình, không phải để giải thích tác phẩm thay cho người đọc, mà chỉ để kể lại nó đã hình thành ra sao, tôi đã viết với tâm thế nào, và vì sao sau hai tập tiếng Việt lại có thêm hai tập tiếng Pháp.
Trước đây, tôi thường viết những tùy bút ngắn, để ý nghĩ đi khá tự do, từ chuyện nọ rẽ sang chuyện kia rồi tìm cách nối chúng lại bằng một mạch cảm xúc nằm phía dưới. Tôi gọi lối viết ấy là “hỗn văn”. Nó hợp với nhịp đọc trên mạng xã hội. Viết ngắn, đọc nhanh và tương đối dễ đến với nhiều người.
Về sau, cách viết của tôi thay đổi. Tôi viết dài hơn, đưa vào nhiều tư liệu hơn, để văn chương đi cùng lịch sử, địa lý, văn hóa, tín ngưỡng, ký ức đời sống. Từ đó lần lượt ra đời “Hồn phách núi sông”, hai tập “Cánh cò sông nước”, rồi “Người trên thánh giá” và “Đồng lúa và Dấu lặng Ngôi Lời”. Tôi vẫn xem đó là tùy bút, chỉ khác ở chỗ cái “tôi” không còn đi một mình mà có thêm tư liệu đồng hành.
Tôi chưa bao giờ có ý viết sách cho giới nghiên cứu chuyên nghiệp. Những gì cần tra cứu, đối chiếu, tôi vẫn cố làm cho cẩn thận, nhưng tôi không muốn người đọc phải đi qua một rừng thuật ngữ và chú thích mới gặp được câu chuyện. Tôi muốn một người đọc bình thường, có thể cầm sách lên, đọc một địa danh quen thuộc rồi bất chợt nhận ra phía dưới nơi mình đang đứng còn biết bao lớp đời đã đi qua. Lịch sử chỉ thật sự gần gũi khi ta nhận ra nó không nằm đâu xa, mà đôi khi ở ngay dưới bước chân mình.
Ban đầu, sau những cuốn sách về miền Đông, miền Tây và tôn giáo, tôi định viết tiếp về dải ven biển miền Trung. Chuyến về Việt Nam năm 2025 cũng đã giúp tôi gom thêm khá nhiều tư liệu. Nhưng đúng lúc ấy, vài người bạn gợi ý, sao không viết về Sài Gòn?
Tôi chần chừ khá lâu. Sài Gòn đã có nhiều người viết, trong đó nhiều người viết rất hay, rất sâu. Tôi không muốn kể lại những điều người khác đã kể. Nhưng nhìn lại, tôi nhận ra trong tay mình đã có những bài viết từ hơn mười năm trước, cùng nhiều ký ức riêng về Chợ Lớn, về những khu phố từng qua lại, về gia đình, bạn bè. Nhiều con đường và nơi chốn đã âm thầm đi vào đời mình. Đề tài tôi không chủ ý tìm đến, chúng lại ở trong mình đủ lâu, đến một ngày tự lên tiếng.
Tôi bắt đầu gom lại bài cũ, viết thêm những vùng đất còn bỏ trống, rồi sửa đi sửa lại cho đến khi thành 80 tùy bút. Số lượng ấy tự nhiên chia thành hai phần: Tập 1 gồm 38 bài, Tập 2 gồm 42 bài. Nếu Tập 1 đi từ vùng trung tâm rồi mở dần về hai phía Đông – Tây, thì Tập 2 nghiêng nhiều hơn về vùng Gia Định cũ và mở xuống Nam, lên Bắc. Như Bình Thạnh, Phú Nhuận, Gò Vấp, Tân Bình, Hóc Môn, Củ Chi, Quận 4, Nhà Bè, Cần Giờ… Hai tập vì thế không phải hai cuốn sách tách rời, mà là hai nửa của cùng một cuộc đi quanh Sài Gòn – Gia Định, khi thì đi theo địa giới, lúc theo một con kênh, một ngôi chợ, một con đường, đôi khi chỉ theo một cái tên còn sót lại trong trí nhớ người đời. Những lối đi ấy tưởng chừng rời rạc, cuối cùng lại gặp nhau ở một nơi, đó là ký ức.
Bởi thế, tên sách lúc đầu tôi định đặt là “Ký ức Sài Gòn”. Sau nhiều lần cân nhắc, tôi đổi thành “Sài Gòn dưới lớp Sài Gòn”. Tôi thích cái tên này vì nó nói được điều mình muốn viết mà không cần mang thêm trang sức. Một Sài Gòn hôm nay nằm trên những Sài Gòn đã qua. Thành phố đổi đường, đổi chợ, đổi bến xe, lấp kênh, phá nhà, dựng cao ốc, thay địa giới và tên hành chính, nhưng lớp cũ hiếm khi biến mất hoàn toàn. Nó lẩn vào một địa danh, một câu nói, một ngôi miếu nhỏ, một đoạn kênh, thậm chí vào cách người ta vẫn quen gọi một nơi dù tên chính thức đã mất từ lâu. Tôi từng viết: “Sài Gòn hôm nay cứ vậy mà sống chồng lên những lớp Sài Gòn đã mất, lớp nọ đè lên lớp kia, như phù sa bồi năm này qua năm khác.” Đó cũng là cách ngắn nhất để hiểu về tên cuốn sách.
Tôi không nhìn một con đường hay một khu phố như vật thể đứng yên. Tôi thường muốn biết trước nó là gì, đã trải qua những đời nào, tại sao đổi tên, người nào từng sống ở đó, chuyện gì đã mất và điều gì còn lại. Bởi vậy, lịch sử trong sách thường không đi theo một đường thẳng. Đang từ một buổi sáng hiện tại, câu chuyện có thể rẽ về một hai thế kỷ trước rồi lại trở về hôm nay. Tôi để thời gian đi gần với cách ký ức của con người vẫn đi. Đầu óc chợt nhớ, chợt quên, liên tưởng, quay lại, chồng lớp lên nhau. Trong cách viết ấy, tư liệu là phần nền, nhưng tôi không muốn nó trở thành phần nặng nhất. Tôi cố để những mốc năm tháng, tên người, địa danh, sử liệu hòa vào câu chuyện, rồi từ đó mới dẫn sang ký ức, suy nghĩ và cảm nhận của mình.
Nói cho đúng, “Sài Gòn dưới lớp Sài Gòn” không phải một bộ địa phương chí, cũng không phải sử học theo nghĩa chuyên ngành. Nó vẫn là tùy bút, nhưng là thứ tùy bút chịu khó lần tìm dấu vết. Tôi chỉ mong những gì thuộc về dữ kiện thì đủ cẩn trọng, còn những gì thuộc về cảm nhận thì được nói bằng giọng của một người đã có phần đời mình gắn với nơi ấy. Tôi không giấu cái “tôi”. Những câu chuyện nói về má, về cậu dì, bạn học, kể về những chuyến xe, quán cà phê, những lần trở về sau nhiều năm sống xa. Khoảng cách đôi khi làm ký ức khác đi. Khi ở quá gần một nơi, người ta thường chỉ thấy nó như một phần sinh hoạt hằng ngày, đi xa rồi mới nhận ra có những thứ rất nhỏ lại bám vào mình khá dai dẳng. Tôi tự hỏi không biết mình đang kể chuyện Sài Gòn hay Sài Gòn mượn ký ức của tôi để kể lại một phần đời của nó.
Từ Tập 1 sang Tập 2, mạch suy nghĩ ấy vẫn tiếp tục nhưng có phần đi sâu hơn. Nếu ban đầu tôi thường tự hỏi một nơi đã từng là gì, thì về sau tôi càng quan tâm một nơi mà con người đã sống như thế nào. Một cây cầu không chỉ để qua sông, một ngôi chợ không chỉ để mua bán, một dòng kênh không chỉ để thoát nước. Mà ở đó nhiều thế hệ đã sống, đã yêu, chia tay, kiếm ăn và già đi quanh nó, khoảng không gian ấy lại bắt đầu có một đời sống khác.
Tôi gọi hình dung ấy bằng một chữ vay mượn: palimpsest – bản viết đè. Ngày xưa, trên những tấm da thuộc đắt tiền, người ta cạo chữ cũ để viết chữ mới lên. Nhưng chữ cũ không mất hẳn, dưới lớp chữ mới vẫn còn dấu tích của những văn bản trước đó. Thành phố cũng vậy, mỗi thời đại viết lên nó một lớp mới, nhưng ít khi xóa sạch được những gì đã có. Tôi tin rằng một địa danh đôi khi bền hơn một tòa nhà, còn ký ức có thể bền hơn cả địa danh. Một nơi mất đi về vật chất chưa chắc đã chết. Nó chỉ thật sự biến mất khi chẳng còn ai nhớ, không còn ai gọi tên, không còn câu chuyện nào được kể lại.
Tuy nhiên, tôi cũng không muốn hai tập sách trở thành một lời than dài về quá khứ. Thành phố phải đổi thay, cũng như con người phải già đi. Tôi không phản đối đô thị hóa, càng không cho rằng cái gì cũ cũng đáng giữ và cái gì mới cũng đáng ngờ. Điều khiến tôi bận tâm hơn là cách chúng ta thay đổi một thành phố.
Những con kênh cần được hồi sinh, những khu nhà phải chỉnh trang, những con đường phải mở rộng. Nhưng đằng sau một dự án đẹp trên bản vẽ thường vẫn có những đời người phải dời đi. Vì vậy, ở Tập 2, tôi đặt nhiều câu hỏi hơn về người dân bình thường, những người đôi khi đứng ngoài các câu chuyện lớn của quy hoạch và phát triển.
Tôi từng viết về rạch Xuyên Tâm: “Con rạch có thể hồi sinh, còn hơn một ngàn sáu trăm hộ dân rồi sẽ trôi dạt về đâu?” Với tôi, câu hỏi ấy quan trọng hơn việc đứng hẳn về một phía. Một đô thị văn minh không chỉ được đo bằng bao nhiêu cao ốc đã mọc lên, mà còn ở cách nó đối xử với những người phải nhường chỗ cho những cao ốc, đại lộ và dự án ấy.
Đi sâu hơn nữa, tôi nhận ra thứ mình thật sự muốn giữ không hẳn là những viên gạch cũ. Tôi muốn giữ mối quan hệ giữa con người và nơi chốn. Thành quách có thể bị phá, chợ có thể dời, kênh có thể lấp, địa giới có thể đổi. Nhưng nếu một cái tên vẫn được gọi, một câu chuyện vẫn được truyền lại, một ký ức vẫn còn người mang theo thì nơi ấy chưa hoàn toàn biến mất.
Tôi đã viết một câu mà đến nay vẫn thấy gần với tinh thần của cả bộ sách: “Ký ức chính là hình thức tồn tại bền bỉ nhất mà con người có thể dành cho nhau. Bền hơn sòng bạc, bền hơn quyền lực, và bền hơn cả thời gian.”
Bởi thế, trong hai tập sách tôi nói đến công trình lớn nổi tiếng, nhưng cũng nói về những nơi rất nhỏ, có chuyện thuộc chính sử, nhưng cũng có truyền thuyết và lời kể dân gian. Những điều chưa thể xác quyết, tôi cố để chúng tồn tại như những khả năng khác nhau thay vì ép quá khứ phải nói một câu trả lời duy nhất. “Truyền thuyết dân gian vốn không cần đúng sai, nó chỉ cần sống được trong miệng người đời.” Viết về quá khứ, biết mình không biết hết cũng là một cách tôn trọng quá khứ.
Tôi cũng cố giữ cho cuốn sách một giọng kể gần gũi. Những tư liệu phổ biến, nếu có thể thì diễn đạt lại bằng lời của mình, tôi không dẫn dài. Một số câu chữ của người khác cần giữ nguyên tôi mới đặt trong ngoặc kép, nguồn cần thiết thì ghi ngay bên cạnh, không chú thích quá nhiều, quá nặng. Tôi muốn người đọc đang đi theo một câu chuyện về con đường hay dòng kênh, không phải liên tục bước ra khỏi câu chuyện ấy để kiểm tra chú thích.
Dĩ nhiên, lựa chọn này cũng tự giới hạn cuốn sách. Nó không thể thay thế một công trình học thuật chuyên ngành và tôi cũng không có ý định làm việc đó. Tôi chỉ mong phần khảo cứu đủ chắc để nâng đỡ câu chuyện, còn câu chuyện đủ mềm để người đọc không cảm thấy mình đang đọc một bảng thống kê được kéo dài.
Sau khi hoàn tất hai tập tiếng Việt, tôi nghĩ đến việc đưa bộ sách sang tiếng Pháp. Từ đó hình thành thêm hai cuốn “Saïgon Sous Les Couches De Saïgon”, tương ứng với Tập 1 và Tập 2 tiếng Việt.
Tôi xem đây là bản dịch từ nguyên tác tiếng Việt, chứ không phải hai cuốn sách khác được viết lại bằng tiếng Pháp. Vì vậy, nguyên tắc đầu tiên là giữ nguyên nội dung, dữ kiện, mạch suy nghĩ và cái nhìn của mình. Nhưng dịch văn chương, nhất là thứ văn mang tính chất tùy bút vừa có phần khảo cứu, không thể chỉ thay từng chữ Việt bằng chữ Pháp tương ứng. Nếu bám quá sát cú pháp tiếng Việt, câu Pháp sẽ cứng. Nếu quá tự do để câu Pháp thật bóng bẩy, giọng điệu nguyên tác lại có nguy cơ biến mất. Công việc khó nhất vì vậy nằm ở khoảng giữa. Tôi trung thành với ý nhưng không bị trói vào hình thức của câu gốc.
Tôi giữ cấu trúc tư tưởng và hình ảnh chính, nhưng có những câu cần đảo vị trí thành phần, rút bớt chỗ lặp, nối hoặc tách mệnh đề để thuận với nhịp tiếng Pháp. Thành ngữ, khẩu ngữ phương Nam và những câu nói đời thường càng không thể dịch máy móc. Điều cần chuyển sang ngôn ngữ khác không chỉ là nghĩa từ điển, mà còn là thái độ của người nói, lúc bông đùa, lúc chua chát, lúc ngậm ngùi, lúc chỉ nói hờ hững mà phía sau lại có một nỗi buồn. Tôi đặc biệt muốn giữ cái “tôi” của bản tiếng Việt. Một bản dịch có thể đúng từng dữ kiện mà mất giọng kể thì, với tôi, vẫn chưa thật sự là bản dịch của cuốn sách này.
Những địa danh, tên riêng và nhiều từ ngữ gắn chặt với văn hóa Việt Nam được giữ lại khi cần thiết, thay vì cố tìm một từ Pháp gần nghĩa nhưng làm mất sắc thái bản địa. Một số khái niệm không có đối ứng hoàn toàn trong văn hóa Pháp được giải thích nhẹ ngay trong câu hoặc bằng ngữ cảnh, sao cho người đọc Pháp ngữ hiểu mà dòng văn vẫn liền mạch.
Tôi cũng cố giữ hệ thống hình ảnh trong suốt nguyên tác. Thành phố như một cơ thể có mạch máu, vết thương và ký ức. Các lớp lịch sử như phù sa hay những lớp chữ viết đè. Đường phố, dòng kênh, cây cầu, ngôi chợ như những sinh thể có tuổi đời và số phận. Nhưng mỗi ẩn dụ đều phải được thử lại trong tiếng Pháp, bởi một hình ảnh tự nhiên trong tiếng Việt, đôi khi trở nên lên gân khi dịch nguyên dạng sang một ngôn ngữ khác. Một số câu vì thế tôi dịch theo hiệu quả do hình ảnh tạo ra, chứ không theo bề mặt chữ nghĩa.
Tôi muốn người đọc Pháp ngữ, khi đọc, không có cảm giác đang đi qua một bản văn Việt Nam bị ép vào chiếc áo tiếng Pháp, nhưng đồng thời cũng không muốn bốn cuốn sách trở thành hai giọng khác nhau. Bản Pháp ngữ cần có sự tự nhiên của tiếng Pháp mà vẫn nghe được, đâu đó bên dưới, nhịp nói và cách nghĩ của một người Việt viết về Sài Gòn. Và chính ở đó, việc dịch tình cờ gặp đúng tinh thần của tên sách. Bên dưới lớp tiếng Pháp vẫn còn lớp tiếng Việt. Cũng như bên dưới Sài Gòn hôm nay vẫn còn những Sài Gòn đã mất. Bốn cuốn sách, hai Việt, hai Pháp vì thế đối với tôi không phải bốn hành trình riêng. Chúng chỉ là hai cách ngôn ngữ cùng lần xuống những lớp ký ức của một thành phố. Hai ngôn ngữ ở trên có thể khác nhau, nhưng tôi càng mong người đọc gặp cùng một nơi, một Sài Gòn không chỉ tồn tại trên bản đồ, mà còn trong trí nhớ của con người.
Tôi đã cố viết bằng những gì mình biết, đã đọc, đã đi qua và còn nhớ. Chỗ nào thuộc về tư liệu, tôi cố giữ sự cẩn trọng chỗ nào thuộc về cảm xúc, tôi không giấu mình. Còn thành công đến đâu, những lớp Sài Gòn ấy hiện lên thế nào, người đọc sẽ có cách cảm nhận riêng.
Người viết chỉ có thể giữ lại một phần rất nhỏ của một thành phố. Đôi khi một thành phố không cần chúng ta giữ nguyên mọi thứ. Nó chỉ cần, sau bao lần thay tên đổi dạng, vẫn còn người nhận ra dấu vết cũ, dừng lại và nhớ rằng nơi này đã từng có một đời sống khác. Nếu bốn cuốn sách làm được, dù chỉ một chút nhỏ điều ấy, vậy là đủ rồi.
Nguyễn Đông A
Sách đã có phát hành trên Barnes & Noble.
Bản tiếng Việt:
“Sài Gòn dưới lớp Sài Gòn”, Tập 1.
Mã số: 9798182570640
“Sài Gòn dưới lớp Sài Gòn”, Tập 2.
Mã số: 9798182570725
Bản tiếng Pháp
Saïgon sous les couches de Saïgon, Volume 1
Mã số: 9798182575546
Sai gon sous les couches de Sai gon, Volume 2
Mã số: 9798182575898
Không có nhận xét nào