Bài 5
Tác giả: Phạm Hồng Lam
August 8, 2026
Tạm chấm dứt.
“…Ý thức mới: Khái niệm “Dân”:
Chuyển biến sang trang lịch sử, mà cũng là công trạng lớn nhất của hai nhà nho đại diện cho thế hệ nho gia giao thời này là việc khám phá và phát triển tư tưởng DÂN (Công Dân).
Trong chế độ quân chủ, đặc biệt quân chủ theo Tống Nho, không có khái niệm Dân (hay Công Dân). Dân chỉ là công bộc, nói rõ hơn, là nô lệ của vua. Đã là nô lệ thì không có Quyền. Vua toàn quyền định đoạt số phận của thần Dân.
Nay với những khẩu hiệu như Dân Chủ, Dân Quyền, Dân Trí, Dân Tộc, Dân Sinh, “Duy Dân” [3]hai nhà cách mạng đã đưa dân Việt bước vào một ý thức mới: Vai trò người Công Dân trên nền tảng Dân Tộc với những quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với Quốc Gia.
Tư tưởng đề cao Dân trong cộng đồng Dân Tộc đã được Phan Sào Nam quảng diễn đặc biệt trong bản cương lĩnh “Việt Nam Quốc Dân Đảng Chương Trình” [4]. Ước vọng thực hiện mục tiêu cách mạng của ông đã phải đành đoạn vì bị phản bội, nhưng nó đã được thế hệ đi sau tiếp tục”.
Trái: Chân dung Phan Bội Châu (1867 – 1940). Author: Unknown. Phải: Chân dung Phan Châu Trinh, (1872– 1926). Author: Khánh Ký.
Nhờ tiếp xúc được với các luồng tư tưởng cách mạng trên thế giới qua các Tân Thư (sách báo cách mạng của phương Tây và Trung Hoa) và nhờ các cuộc xuất ngoại tiếp cận được những biến chuyển của thế giới (như phong trào cách mạng ở Trung Hoa 1898, 1911; tiến bộ của Nhật đưa tới chiến thắng hạm đội Nga năm 1905; chính biến ở Nga 1917…) các nhà nho thế hệ cuối cùng lớn lên giữa giao thời thế kỉ như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng… đã nhận ra được những sai sót nhận thức của lớp nho gia cũ.
Họ đã phá vỡ các bế tắc đó và đưa cuộc đấu tranh của dân tộc chuyển qua một bước mới với nhận thức mới.
Mục tiêu đấu tranh của họ giờ đây không còn là giải phóng đất nước để tái lập nền quân chủ, mà là để xây dựng nền dân chủ. Phương thức không còn thuần tuý bạo động, mà chuyển qua song song với cải tạo xã hội, nâng cao dân trí. Việc giải phóng đất nước được Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh quan niệm như là kết quả tất yếu của cuộc giải phóng tư duy và xã hội. Nghĩa là hai ông cho rằng, cái ưu tiên nhất phải làm trong tiến trình dành độc lập là phải tạo cho toàn dân giác ngộ chính trị, phải sao cho mọi tầng lớp có ý thức cao về dân chủ, tự do. Khi dân đã ý thức, thì độc lập có thể kiến tạo dễ dàng. Chu Trinh đã có lần tâm sự với Bội Châu: Không sợ là không lấy được độc lập, nhưng sợ đến lúc đó dân ta không đủ tư cách và hưởng độc lập!
Bội Châu (Sào Nam) và Chu Trinh (Tây Hồ) là hai khuôn mặt đại biểu cho kháng chiến hậu cần vương hay cho thể hệ chuyển mình sang trang này.
Hai ông cùng chung một mục tiêu: giải phóng đất nước khỏi thực dân và phong kiến. Nhưng làm thế nào để giải phóng (chiến thuật) thì lại khác nhau: Chu Trinh muốn dựa vào Pháp để đánh đổ quân chủ xây dựng dân chủ trước, sau mới dùng dân chủ đánh Pháp. Bội Châu ngược lại: phải lợi dụng quân chủ để đuổi Pháp trước, rồi mới tính chuyện khác sau: “Nước không có thì lấy gì mà dân chủ.” [1]
Quan điểm bảo hoàng của Bội Châu chỉ là một chiến thuật, chỉ là tạm dùng cái mũ quân chủ để tìm sự hậu thuẫn của Nhật và của đám đông quần chúng. Và cuối cùng ông đã bỏ mũ này, vì cho rằng nó không còn hợp thời nữa, sau khi cách mạng ở Trung Hoa (1911) thành công. Phương pháp của Bội Châu là cách mạng bạo động. Vì thế sử sách gọi những người theo quan điểm này là phái bạo động.
Còn Chu Trinh hô hào ba khẩu hiệu nền tảng: Dân Chủ, Dân Quyền và Dân Trí. Ông chủ trương bất bạo động và hợp tác với nhà nước bảo hộ, để trước hết cải cách xã hội và nâng cao dân trí. Ông cho rằng, dân trí cao thì việc đòi dân quyền dễ. Từ nền tảng dân quyền đấu tranh bài quân chủ rồi đuổi thực dân. Sử sách gọi người theo quan điểm này là phái cải cách.
Phong Trào Duy Tân
Với quan điểm đấu tranh trên Tây Hồ đã cùng với các chí sĩ nhà nho dấy lên Phong Trào Duy Tân với những chủ trương như sau:
1. Bài bỏ Nho học và cổ tục xấu. Đổi mới xã hội bắt nguồn từ đổi mới tư duy con người. Mà muốn đổi mới tư duy, một mặt phải cởi bỏ xiềng xích giam ta trong hủ lậu, đó là Nho học và hủ tục, mặt khác phải có một nền giáo dục cải cách với những điểm sau:
– Thay nền giáo dục đương thời bằng một nền Chánh Giáo, dựa trên nền tảng tổng hợp từ giáo dục truyền thống dân tộc và tây phương. Bỏ từ chương thơ phú nho học; học không cốt để làm quan vinh thân phì gia nữa, mà để lãnh hội và mở rộng kiến thức thực dụng: Sử, Địa, Toán, Lí, Hoá, Sinh. Chân lí không còn là cái độc quyền của Tứ Thư Ngũ Kinh, mà còn tìm được cả nơi các khoa học mới. Kiến thức khoa học sẽ đẩy lùi các thói tục hủ lậu.
– Dùng chữ Quốc Ngữ thay chữ Hán.
Chữ Quốc Ngữ là hồn trong nước
Phải đem ra tỉnh trước dân ta
(Trần Quý Cáp, Chiêu Hồn Nước)
2. Đề cao việc học nghề. Một chủ trương quả là cách mạng đối với tâm thức xã hội lúc đó, vốn còn nặng truyền thống khổng – mạnh. Các nhà nho Duy Tân coi “nghề nghiệp là nguồn gốc văn minh” (Nguyễn Phan Lãng, Thiết Tiền Ca), nên họ hô nhau mở nông hội, thương hội, công ti thương nghiệp, cửa hàng lương thực thực phẩm, đi khai mỏ, trồng quế …
3. Cổ vũ Dân Chủ. Muốn có Dân Quyền thì phải thực thi Dân Chủ. Mà lực cản lớn nhất của Dân Chủ là nền quân chủ và nho học, nên phải cực lực phá bỏ hai thứ đó. Những nhà Duy Tân đã tách “trung quân” ra khỏi “ái quốc”: yêu nước không còn nhất thiết có nghĩa là trung thành với vua.
Thế rồi các nhà nho Duy Tân kéo nhau đi khắp nơi diễn thuyết, diễn kịch, ngâm thơ hô hào bỏ hủ tục, bỏ Nho học từ chương, mở trường quảng bá văn thơ cải cách yêu nước và dạy văn hoá mới.
Phương tiện phổ biến tư tưởng cải cách đặc trưng nhất của phong trào Duy Tân ở miền Bắc là trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Đây là một trung tâm văn hoá với bốn ban chuyên môn: Ban giảng dạy phụ trách các lớp học miễn phí, Ban ấn loát in các tài liệu (đa số là văn thơ cách mạng của Bội Châu từ hải ngoại gởi về) cho nhu cầu học sinh và tuyên truyền. Ban tài chánh và Ban tuyên truyền lo việc diễn thuyết, ca kịch, phổ biến tài liệu.
Trường do Lương Văn Can đứng đầu, có một đội ngũ phong phú giáo viên tình nguyện không lương, có thư viện nhỏ cho mượn sách. Chi phí của Trường được tài trợ chủ yếu bởi các thương, nông hội và các công ti của phong trào.
Đông Kinh Nghĩa Thục hoạt động được một năm thì bị thực dân đóng cửa (1908). Phong trào Duy Tân cũng bị khủng bố, nhân các cuộc biểu tình của dân các tỉnh miền Trung yêu cầu chính quyền giảm và miễn thuế. Các lãnh đạo cải cách người bị giết, kẻ bị tù, đày. Chu Trinh bị tù ở Côn đảo, sau bị đày sang Pháp.
Về mặt chính trị, phong trào Duy Tân thất bại. Là vì cải cách đích thực không bao giờ có được trong một chế độ bạo quyền toàn trị. Hoặc cái này hoặc cái kia. Nếu chấp nhận cải cách, chế độ có thể sẽ bị cuốn trôi.
Nhưng trên bình diện văn hoá xã hội, phong trào Duy Tân đã như một con sóng đẩy dạt những trì lực bảo thủ của xã hội truyền thống, mở ra hình ảnh về một Việt Nam mới. Đặc biệt hơn cả, là qua việc hô hào đổi mới và phổ biến tài liệu cách mạng – nhất là các văn thơ rực lửa yêu nước của Sào Nam, phong trào đã góp phần hun đúc, nuôi dưỡng tinh thần quốc gia và ý chí độc lập nơi dân Việt.
Nay ta hát một thiên ái quốc
Yêu gì hơn yêu nước nhà ta
(Phan Bội Châu, Ái Quốc Ca)
Phong Trào Đông Du
Trong khi đó ở hải ngoại Sào Nam chủ trương tranh thủ ngoại viện, để gây bạo động trong nước. Ông chia sẻ mục tiêu của phái cải cách, nhưng không tin vào sự thành công của con đường ôn hoà.
Để chuẩn bị tầng lớp lãnh đạo cho đất nước và đồng thời đào tạo cán bộ cho tổ chức cách mạng, thoạt tiên Sào Nam và các đồng chí khởi xướng Phong Trào Đông Du (1906) khuyến khích và tìm cách đưa người sang Nhật du học. Hơn 200 thanh thiếu niên đã hưởng ứng phong trào. Họ được lần lượt gởi vào các trường quân sự lẫn dân sự. Song chưa được bao lâu thì Nhật kí với Pháp thoả ước (1908), theo đó Pháp nhượng bộ một số quyền lợi kinh tế, đối lại Nhật chấp nhận trục xuất các nhà cách mạng việt nam. Như chim vỡ tổ, một vài thanh niên chấp nhận gian khổ tìm cách lưu lại Nhật, một số lánh sang Trung Hoa, số còn lại theo Sào Nam tạm lánh sang Thái-lan chờ thời.
Phong trào Đông Du chỉ là một trong những sinh hoạt của Duy Tân Hội – một tổ chức cách mạng do Bội Châu cùng Kì Ngoại Hầu Cường Để lập năm 1904 nhằm ba mục tiêu: đánh đổ thực dân Pháp, khôi phục Việt Nam và thành lập nền quân chủ lập hiến (theo kiểu Nhật).
Thành viên của Duy Tân Hội đa phần ở trong nước; họ cộng tác mật thiết với phái Cải Cách. Sau khi ở hải ngoại Nhật ra lệnh trục xuất các du sinh, ở trong nước Pháp ra sức tiêu diệt phong trào Duy Tân, thì Duy Tân Hội cũng rơi vào bế tắc.
Năm 1912, phấn chấn trước tin cách mạng Trung Hoa do Tôn Dật Tiên lãnh đạo lật đổ triều đình nhà Mãn Thanh (1911), Sào Nam đổi Duy Tân Hội thành Việt Nam Quang Phục Hội với một tôn chỉ duy nhất: Dùng bạo lực đánh đổ thực dân Pháp, để lập một nước Việt Nam Cộng Hoà Dân Chủ, nghĩa là từ đây chia tay với nền quân chủ [2]. Bội Châu nhờ Tôn Dật Tiên giúp để đánh Pháp, nhưng tình thế của cách mạng trung hoa lúc đó hãy còn quá nhiều khó khăn, chưa giúp gì được, ngoài việc cho một số sinh viên Việt vào học trường sĩ quan Hoàng Phố.
Trong lúc đó, sự phát triển và các hoạt động của Việt Nam Quang Phục Hội ở trong nước khiến Pháp lo ngại. Sau những vụ cài bom ở Thái Bình và Hà Nội năm 1913 của Quang Phục Hội, Pháp mua chuộc tỉnh trưởng Quảng Đông là Long Tế Quang bắt giữ Bội Châu suốt bốn năm trời. Mất minh chủ và trước việc tăng cường khủng bố của thực dân Pháp (giờ đây đã rảnh tay hơn sau Thế Chiến I. chấm dứt) Việt Nam Quang Phục Hội bị tê liệt.
Ra khỏi tù, Bội Châu thu nhỏ tổ chức của mình lại vào một nhóm nòng cốt gọi là Thâm Tâm Xã (lập cuối năm 1923) gồm một số thanh niên trẻ đầy nhiệt huyết. Trong số này có Phạm Hồng Thái, người đã gây kinh động qua việc ném lựu đạn ám sát Toàn Quyền của Pháp ở Việt Nam là Merlin năm 1924. Do biến cố này, thực dân kết án tử hình khiếm diện Sào Nam lần thứ hai.
Năm 1925, vừa sau khi chuyển Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng tiếp tục dùng vũ lực đánh đuổi thực dân, để kiến tạo một “Tân Việt Nam” với ba tiêu đích nền tảng: Dân Sinh được hạnh phúc, Dân Quyền được tự do và Dân Trí được nâng cao, Bội Châu bị mật thám Pháp bắt ở Thượng Hải và đưa về Việt Nam kết án tử, sau đổi sang an trí chung thân tại Huế.
Như đã nói, Tây Hồ và Sào Nam theo hai con đường khác nhau, nhưng vẫn chung một mục tiêu: một đất nước độc lập và dân chủ, một dân tộc khai trí và ấm no. Bạo Động hay Cải Cách, cả hai đều nằm trong con đường Dân Tộc. Hai ông luôn bám sát vào truyền thống văn hoá dân tộc trong suy tư và hành động. Cả hai đã không đạt đích, nhưng đã gây được ý thức và nuôi dưỡng ý chí bất khuất của người dân, để rồi 20 năm sau, với ý thức và quyết tâm đó, dân Việt đã đuổi được thực dân ra khỏi bờ cõi, giành lại độc lập.
Ý thức mới: Khái niệm “Dân”:
Chuyển biến sang trang lịch sử, mà cũng là công trạng lớn nhất của hai nhà nho đại diện cho thế hệ nho gia giao thời này là việc khám phá và phát triển tư tưởng DÂN (Công Dân).
Trong chế độ quân chủ, đặc biệt quân chủ theo Tống Nho, không có khái niệm Dân (hay Công Dân). Dân chỉ là công bộc, nói rõ hơn, là nô lệ của vua. Đã là nô lệ thì không có Quyền. Vua toàn quyền định đoạt số phận của thần Dân.
Nay với những khẩu hiệu như Dân Chủ, Dân Quyền, Dân Trí, Dân Tộc, Dân Sinh, “Duy Dân” [3]hai nhà cách mạng đã đưa dân Việt bước vào một ý thức mới: Vai trò người Công Dân trên nền tảng Dân Tộc với những quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với Quốc Gia.
Tư tưởng đề cao Dân trong cộng đồng Dân Tộc đã được Phan Sào Nam quảng diễn đặc biệt trong bản cương lĩnh “Việt Nam Quốc Dân Đảng Chương Trình” [4]. Ước vọng thực hiện mục tiêu cách mạng của ông đã phải đành đoạn vì bị phản bội, nhưng nó đã được thế hệ đi sau tiếp tục.
Số là hai năm sau ngày Bội Châu bị bắt, một nhóm thanh niên trẻ thành lập tại Hà Nội một đảng cách mạng cũng mang tên Việt Nam Quốc Dân Đảng (1927). Những người trẻ này thừa hưởng trọn vẹn gia sản tư duy hậu Cần Vương và lớn lên trong khung cảnh giao thời của một Việt Nam chao đảo giữa cũ (văn hoá truyền thống) và mới (ảnh hưởng tây phương). Sự chao đảo giao thời này đã thể hiện rõ nét qua câu hỏi mà thế hệ Yên Bái đã đặt ra cho mình phải lựa chọn trong hoàn cảnh cực kì khó khăn: Thành Công hay Thành Nhân? [5]
Vì còn biết bám theo lối mòn Dân Tộc của lớp đàn anh minh nho đi trước, thế hệ Yên Bái đã không ngần ngại chọn Thành Nhân. “Sát thân thành nhân”, chứ không chấp nhận phản bội dân tộc để Thành Công bằng mọi giá. Và họ đã hàng hàng lớp lớp hiên ngang bước lên pháp trường, chấp nhận cái chết, để trả nợ non sông.
Chân dung 13 vị liệt sĩ của Việt Nam Quốc Dân Đảng tuẫn quốc tại Yên Báy năm 1930, báo Monde (Saigon) năm 1934. Author: Monde
Trong khi đó, cũng lớn lên giữa giao thời và cũng đứng trước lựa chọn như trên, một số người trẻ khác đã chối từ con đường Dân Tộc, để dứt khoát chọn Thành Công bằng mọi cách, kể cả việc tàn sát anh em mình và phản bội dân tộc mình. Dưới là cờ Quốc Tế Vô Sản và vũ khí Giai Cấp Đấu Tranh họ đã gây nên thảm hoạ cho đất nước và dân tộc, mãi đến tận hôm nay.
***
Tạm chấm dứt loạt bài “Sử Việt Đọc Vài Trang” ở đây.
Lẽ ra còn một bài nữa, trình bày giai đoạn hiện tại, từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam nắm chính quyền. (Sẽ bổ túc trong tương lai).
Loạt bài trên đây được viết vào đầu thập niên 1990´. Lúc đó, sau những biến chuyển trọng đại của lịch sử thế giới, báo hiệu sự tan rã của ý thức hệ cộng sản và việc giành lại dân chủ tự do của các dân tộc đông âu, trong tôi bừng lên niềm hi vọng, là bình minh cũng sẽ tới với dân tộc Việt Nam.
Nhưng bình minh đã không đến sớm như mình nghĩ, nên tôi đành tạm dừng ở đây.
Khi nhìn lại dòng lịch sử thăng trầm của Đất Nước, ta nhận ra hai sự kiện lớn trong muôn vàn biến cố. Đó là dân tộc Việt đã giành lại được độc lập, sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc; và dân tộc này, trong chừng mực nào đó, đã chỗi dậy dưới thời Lí (1009-1225), đạt đến hoàng kim văn minh văn hoá trong thời Trần (1335-1413), để bước dần vào hoàng hôn dưới thời Lê (1428-1788), rồi đi vào đêm tối dưới thời Nguyễn (1802-1945) và ngụp lặn trong đêm đen nghiệt ngã dưới thời Cộng Sản (1954-?).
Yếu tố nào đã giúp cho dân tộc này giành được độc lập khỏi hoạ Bắc phương? Nhiều học giả [6] đã đưa ra những lí giải về khía cạnh chính trị, địa chính trị, kinh tế, văn hoá. Song tới nay vẫn chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào, nhằm trả lời vấn nạn một cách rốt ráo. Nhìn chung, yếu tố văn hoá xem ra là sức mạnh chủ đạo trong việc giành độc lập. Khi người Tàu đến, thì xã hội Việt đã được tổ chức đâu vào đấy với một bản sắc văn hoá đặc thù riêng, trong đó định chế Làng Xã, mà hồn sống của nó là tục thờ Thần Hoàng và tinh thần Gia Tộc, đã góp phần ngăn cản và đẩy lùi mọi ảnh hưởng ngoại nhập. Và trên tất cả là tiếng nói: người Việt vẫn giữ được tiếng nói của mình, nên đã không bị đồng hoá. Suốt trong thời lệ thuộc Tàu, nho gia Việt sử dụng tiếng Nho, nhưng phát âm khác hẳn người Tàu, và dân ta thì vẫn nói tiếng Việt, chẳng hiểu gì tiếng Tàu, vì thế văn hoá bắc phương đã không thấm sâu được vào nếp sống và lối suy nghĩ của người Việt.
Còn tại sao văn minh văn hoá dân Việt vươn tới đỉnh cao dười thời Trần? Là vì xã hội thời này có cuộc sống bao dung, khai phóng, không độc tôn và nô lệ cho một tín ngưỡng hay học thuyết nào. Nhà Nguyễn đi vào đêm tối, vì nọc độc Tống Nho khiến cho vua quan chỉ mong được Hán hoá. Đảng cộng sản việt nam ngụp lặn trong đêm đen, vì tôn thờ một ý thức hệ ngoại lai không tưởng.
Tắt lại, khi dân tộc có và giữ được bản sắc bao dung và khai phóng của mình, đất nước nở hoa; khi dân tộc tự choàng vào cổ mình ách nô lệ ý hệ, đất nước điêu tàn.
Do đó, bài học quan trọng nhất, khi nhìn lại lịch sử mình: Chớ bao giờ dại dột độc tôn hay nô lệ cho một học thuyết hay ý thức hệ nào nữa!
Trên công trường trong trại tập trung Dachau (trại do chính quyền Tộc-Xã -Nazi của Hitler thành lập ở gần München, miền nam Đức, nơi có hơn 40 ngàn nạn nhân bị giết), người ta dựng một tấm bảng khắc to chữ “ĐỪNG BAO GIỜ NỮA” bằng nhiều thứ tiếng. Nó nhắc nhở dân tộc này và những ai tới tham quan là đừng bao giờ tái phạm, đừng bao giờ để cho thảm họa này diễn ra một lần nữa.
Mai đây, khi làm chủ lại được đất nước, dân tộc Việt củng cần có một tấm bảng lớn với nội dung như thế. Đừng bao giờ tự tròng vào cổ mình một ý thức hệ ngoại lai nữa!
Đài tưởng niệm các nạn nhân ở Dachau
Phạm Hồng Lam
………………..
Chú thích:
[1] Phan Bội Châu, Tự Phán. Nhân Chủ Học Xã. CA, 1987: 88.
[2] Phan Bội Châu, Tự Phán. Nhân Chủ Học Xã. CA, 1987: 160-165.
[3] Qua câu tuyên bố của Phan Bội Châu: „Dân không duy vật, Dân chẳng duy Tâm, Dân chỉ Duy Dân“.
[4] Sau khi soạn xong bản cương lỉnh này, Bội Châu giao cho Lâm Đức Thụ in và chuyển về nước. Nhưng thay vì tới tay các chí sĩ trong nước, tài liệu đã rơi vào tay mật thám Pháp. Do sự phản bội của Lâm Đức Thụ? Các học giả tại Việt Nam đã không biết tới (hay không được nói đến?) tài liệu này. Jörgen Unselt, một sinh viên người Đức đã tìm được nó qua bản dịch Pháp ngữ do mật thám Pháp thời đó thực hiện. Chủ yếu dựa vào tài liệu này, Unselt đã viết luận án tiến sĩ (Đại Học Heidelberg, 1978) với đề tài: Vietnam: die nationalistische und marxistische Ideologie im Spätwerk von Phan Boi Chau (1867-1940) (Ý thức hệ quốc gia và cộng sản trong tác phẩm về sau của Phan Bội Châu).
[5] Qua câu nói của Nguyễn Thái Học, người đứng đầu Việt Nam Quốc Dân Đảng, trong cuộc họp tại Võng La đêm 26.01.1930 đi tới quyết định tổng khởi nghĩa: “Chúng ta không thành công thì thành nhân, có gì mà ngần ngại.”
[6] Một số tác giả tiêu biểu: Paul Mus, Henri Maspero, Ed. Chavannes, Terry Rambo, J. DeFrancis, K.W. Taylor, A.B. Woodsite, Ngô Nhân Dụng, Hoàng Văn Chí, Holmgren, P. Gourou, Oskar Weggel, Tạ Chí Đại Trường, Hoàng Xuân Hãn.
* Phạm Hồng Lam: Bài 1: Trong Hỗn Mang Tiền Sử: Dân Tộc Việt Đến Từ Đâu?, Bài 2: Văn hóa Việt dưới ảnh hưởng của Bắc phương (-111 đến 939)
* Phạm Hồng Lam: Bài 3: Văn Hoá Đại Việt Trong Thời Tự Chủ (thế kỷ X – XIX)
*Phạm Hồng Lam: Bài 4: Pháp Xâm Lăng Và Sự Suy Vong Văn Hoá
Không có nhận xét nào