Header Ads

  • Breaking News

    Những vấn đề thuộc thế hệ tương lai (Gen Z?)

    Bài 3 và 4

    Trương Nhân Tuấn

    17-8-2026

    Bài 3: Trị giá tài sản  bất động sản của hệ sinh thái Vingroup 

    Tổng số diện tích đất mà Nhà nước giao, nếu tính luôn đất thuê và tích lũy được qua M&A, tập đoàn Vingroup là chủ sở hữu khoảng 20.000 ha (chưa tính các dự án đang trong giai đoạn quy hoạch, chấp thuận chủ trương), tức khoảng 200 triệu mét vuông đất.

    Bài  toán “khó” là làm thế nào ước tính được trị giá tài sản bất động sản của Vingroup?

    “Khó” là vì giá trị đất sẽ tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố (biến số), như đất ở trung tâm thủ đô (Hà Nội), ở trung tâm thành phố (Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang…), các dải đất ven biển, bao gồm bờ biển cát trắng, đất ở các hải đảo có giá trị du lịch v.v…

    Cái “siêu việt” của tập đoàn Vingroup là đã thành công nâng giá trị bất động sản của mình, từ phân khúc thấp của một quốc gia đang phát triển lên ngang tầm với phân khúc cao (từ 3 ngàn đô la đến 6 ngàn đô la/mét vuông), ở một quốc gia phát triển trung bình như Tây Ban Nha, Ba Lan…

    Nếu so sánh cách thức “nâng giá đất” của Vạn Thịnh Phát (VTP) với Vingroup, ta sẽ thấy phương cách của Vạn Thịnh Phát chỉ là một cách lừa đảo thô thiển của một người vừa tốt nghiệp trung học phổ thông so với phương cách “hợp lệ, hợp pháp” của một đoàn cố vấn cấp cao.

    Vạn Thịnh Phát lập hàng ngàn pháp nhân “ma”, rồi mướn công ty thẩm định giá, nâng khống giá trị dự án lên gấp nhiều lần. Trong vòng tròn lừa đảo này không có dòng tiền thật mà chỉ là các bút toán đảo nợ lòng vòng trên sổ sách của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) sao cho VTP dễ dàng rút tiền gửi của người dân. Hầu hết các dự án của VTP là “đắp chiếu”, vì vướng mắc pháp lý nặng nề, không có hoạt động xây dựng thực chất. 

    Phương pháp của Vingroup là giao dịch thị trường thật, với các đối tác độc lập có tiềm lực quốc tế (CapitaLand, Mitsubishi, Nomura). Với cách này, đối tác nước ngoài chuyển hàng trăm triệu đến hàng tỷ đô la tiền tươi vào tài khoản của doanh nghiệp. Các dự án hợp lệ (có quy hoạch 1/500), có hạ tầng thật, công trình được xây dựng và bàn giao căn hộ cho cư dân ở thực sự.

    Cái cách nâng giá của Vingroup bằng cách bán cho các tập đoàn FDI hoàn toàn phù hợp với luật lệ của Việt Nam, không có gì để nói, nếu không có vấn đề thuộc về chính sách là Hiến pháp quy định “đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân”. Vấn đề khác là sự đóng góp của toàn hệ sinh thái Vingroup vào GDP của Việt Nam quá thấp.

    Thật là chuyện “té ghế”, với sự ưu đãi của Nhà nước vừa về chính sách, vừa về đất đai, đóng góp của Vingroup chỉ nhỉnh hơn một chút so với đóng góp vào GDP của nông dân trồng sầu riêng. Chuyện này sẽ bàn lại phần dưới.

    Nhờ vào cách “bán sỉ” cho các tập đoàn FDI, bất động sản đã giúp Vinhomes “tăng định giá và tạo đòn bẩy”.

    Thí dụ: Khi một tập đoàn quốc tế như CapitaLand hay Nomura chấp nhận mức giá (3.000 đô la đến 6.000 đô la/mét vuông) để mua lại một phân khu, mức giá này trở thành “tiêu chuẩn định giá” cho các khu đất tương tự còn lại của hệ sinh thái Vingroup.

    Khi giá trị định giá của tài sản dựa vào “mặt bằng giá ngoại”, hạn mức tín dụng mà các ngân hàng thương mại cấp cho Vingroup tự động tăng lên. Đại khái, Vingroup có thể được vay 60% đến 70% trên giá trị của khu nhà đất tương đương với giá  bất động sản của một quốc gia phát triển (tầm Tây Ban Nha hay Ba Lan). 

    Điều này còn cho phép Vingroup thế chấp phần quỹ đất còn lại để vay được số tiền lớn hơn từ các ngân hàng trong nước và quốc tế, tạo ra đòn bẩy tài chính khổng lồ để tài trợ cho các lĩnh vực thâm dụng vốn (như VinFast).

    Một vài thí dụ:

    Tập đoàn CapitaLand của Singapore hiện đang làm chủ khai thác hai phân khu:

    1. Vinhomes Smart City (Hà Nội): thuộc phân khu cao tầng (khoảng 3 đến 4 ha, khoảng 4.000 căn hộ). Dự án này mang tên Lumi Hanoi (giá trị ước tính hơn 1 tỷ đô la).

    2. Vinhomes Ocean Park 1 (Gia Lâm, Hà Nội): phân khu đất cao tầng. Dự án mang tên The Senique Hanoi (phát triển các tòa tháp chung cư cao cấp).

    Tập đoàn Mitsubishi Corporation của Nhật hiện đang khai thác phân khu Vinhomes Grand Park (TP. Thủ Đức), theo cách “mua lại”, bao gồm hai phân khu The Origami và The Beverly Solari.

    Tập đoàn Nomura  Real Estate của Nhật hiện đang khai thác khu Vinhomes Grand Park (TP. Thủ Đức), hình thức liên doanh và chuyển nhượng phân khu cao tầng (khoảng 10.000 căn hộ), bao gồm phân khu The Origami (hợp tác cùng Mitsubishi & Vinhomes).

    Tập đoàn Samty Corporation của Nhật hiện đang khai thác khu Vinhomes Smart City (Hà Nội), hình thức đầu tư là chuyển nhượng và hợp tác phát triển phân khu căn hộ phong cách Nhật, bao gồm phân khu The Sakura (nằm trong quần thể The Metrolink).

    Ngoài ra còn có GIC (Quỹ đầu tư quốc gia Singapore) đầu tư vào hệ sinh thái Vinhomes, nắm những cổ phần chiến lược trị giá 1,3 tỷ đô la.

    Tập đoàn KKR & Temasek (Mỹ & Singapore) cũng mua cổ phần Vinhomes trị giá 600 triệu đô la.

    Việc này đem lại lợi ích khổng lồ cho Vingroup, nhưng lại gây ảo giác về sự “phồn vinh”. Ban đêm Hà Nội, Sài Gòn lấp lánh ánh đèn, “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”, đẹp đẽ. Ta thấy hình như có một Singapore, một Tokyo ngay tại Hà Nội, Sài Gòn hay Đà Nẵng, Nha Trang… 

    Có bao nhiêu căn hộ trong một cao ốc thuộc Vingroup đã bán hết? Những cao ốc do tập đoàn FDI làm chủ, đại đa số dân chúng đều là “người nước ngoài” (luật Việt Nam quy định không quá 30% người nước ngoài trong một phân khu).

    Đại đa số người Việt Nam, công nhân, kỹ sư, thầy cô giáo, giáo sư đại học, luật sư… không mấy ai có tiền, kiểu lãnh lương Việt Nam, mua nhà ở Singapore hay Nhật.

    Tức là rủi ro vĩ mô sẽ sớm xuất hiện khi 70% số căn hộ còn lại “đắp chiếu”, khi mà việc định giá tài sản bị phụ thuộc vào kỳ vọng tăng trưởng liên tục của thị trường BĐS cao cấp.

    Nếu thị trường rơi vào chu kỳ suy thoái kéo dài, các đối tác ngoại ngừng mua sỉ và người tiêu dùng không hấp thụ nổi mức giá cao ngất ngưởng đó. Hiệu ứng “đòn bẩy ngược” sẽ xuất hiện: Định giá tài sản suy giảm, áp lực bổ sung tài sản thế chấp tăng lên và chi phí lãi vay của khối nợ phình to sẽ đe dọa thanh khoản của toàn bộ hệ sinh thái.

    Tôi không biết tập đoàn Vingroup đã vận động Quốc hội ra sao để các đại biểu đổi luật cho phép Vingroup chuyển (BĐS của Nhà nước giao cho mình) sang tay tập đoàn FDI nước ngoài. Ngay cả thời hạn 50 năm hay 70 năm (có thể gia hạn nếu hết hạn), thì chuyện này có khác gì “tô giới” thời kỳ Trung Hoa bị đại cường phân liệt?

    Trên đất nước Việt Nam, chúng ta sẽ thấy hai thế giới riêng biệt: Một ở tầng lớp trên cao sống trong những tòa nhà đầy tiện nghi (kiểu Nhật, kiểu Singapore) là những ông chủ người nước ngoài; một tầng lớp dưới thấp sống bên ngoài thành phố, trong những khu ổ chuột, là đại đa số dân chúng Việt Nam.

    Sau 70 năm hay 90 năm, những “tô giới” này có trở thành một Hong Kong hay một Singapore hay không? Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng… có thể trở thành một “trung tâm tài chính quốc tế” hay không? Theo tôi là “chuyện nằm mơ”.

    Nhưng khi có rủi ro khủng hoảng dây chuyền từ BĐS, toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam có nguy cơ phá sản do thiếu thanh khoản. Quỹ đất của Nhà nước, khi phải xuất những khu đất có nguy cơ đe dọa an ninh quốc phòng Việt Nam như Làng Vân (Hải Vân Bay), cho thấy đã cạn kiệt, không còn đất cung cấp cho Vingroup làm bàn đạp choàng nợ nữa. Người phải chịu tổn thất của chuyến buôn  bất động sản của Vingroup lại là người dân Việt Nam. 

    Người Việt Nam có tiền, đại đa số do bán được đất hay vừa nhận được tiền bồi thường từ đất. Những người này “le lói” mua xe, ăn chơi… một thời gian ngắn, xe trở thành phế liệu. Người dân hết tiền, nghèo vẫn hoàn nghèo do thiếu kế hoạch đầu tư hợp lý, dài hạn.

    Trở lại chuyện đóng góp của hệ sinh thái Vingroup vào GDP Việt Nam. Doanh thu hợp nhất hàng năm của Vingroup (VIC) đạt khoảng 160.000 – 190.000 tỷ VND (tương đương khoảng 6,5 – 7,5 tỷ USD). Quy mô GDP danh nghĩa của Việt Nam đạt khoảng 430 – 470 tỷ USD. Nếu so sánh tỷ lệ doanh thu/GDP danh nghĩa: doanh thu của hệ sinh thái Vingroup tương đương khoảng 1,5% – 1,8% quy mô GDP cả nước.

    Nếu tính theo giá trị gia tăng (lợi nhuận trước thuế + chi phí lương người lao động + khấu hao tài sản + thuế nộp ngân sách), phần giá trị gia tăng thực tế mà Vingroup tạo ra đóng góp trực tiếp vào khoảng 0,6% – 0,9% GDP.

    Về đóng góp ngân sách, Vingroup và các công ty thành viên (Vinhomes, VinFast, Vincom Retail…) nộp ngân sách Nhà nước khoảng 30.000 – 45.000 tỷ VND/năm (chiếm khoảng 1,8% – 2,5% tổng thu ngân sách Nhà nước tùy từng năm cao điểm bàn giao bất động sản).

    Nếu đem so sánh với khu vực  kinh tế tư nhân, theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Ban  Kinh tế Trung ương, khu vực kinh tế tư nhân nói chung đóng góp khoảng 45% – 50% GDP. Khối kinh tế cá thể/hộ gia đình (tiểu thương, nông dân, tài xế, cửa hàng nhỏ) đóng góp tới khoảng 30% – 32% GDP. Khối doanh nghiệp tư nhân có đăng ký (hơn 900.000 doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ – SMEs) đóng góp khoảng 10% – 12% GDP.

    Đóng góp của các ngành nông – lâm – thủy sản vào GDP: đóng góp ổn định khoảng 11,5% – 12,0% GDP của Việt Nam (tương đương quy mô giá trị gia tăng khoảng 50 – 55 tỷ USD/năm). 

    Trồng trọt và chăn nuôi (nông nghiệp thuần túy): chiếm khoảng 72% – 74% tổng giá trị toàn ngành (tương đương ~8,5% – 9,0% GDP).

    Thủy sản (nuôi trồng và đánh bắt hải sản): chiếm khoảng 22% – 24% tổng giá trị toàn ngành (tương đương ~2,6% – 2,8% GDP). Lâm nghiệp: chiếm khoảng 4% – 5% còn lại.

    Ngành nuôi trồng & khai thác thủy hải sản (tôm, cá tra, hải sản) đóng góp 2,6% – 2,8% GDP cả nước. Kim ngạch xuất khẩu khoảng 9,0 – 11,0 tỷ USD/năm.

    Ngành trồng trọt lúa gạo (an ninh lương thực quốc gia): giá trị gia tăng từ sản xuất lúa gạo đóng góp khoảng 1,8% – 2,2% GDP. Kim ngạch xuất khẩu đạt kỷ lục khoảng 4,5 – 5,5 tỷ USD/năm (với sản lượng xuất khẩu từ 7,5 – 8,3 triệu tấn gạo).

    Đặc biệt, trái sầu riêng trở thành “vua trái cây xuất khẩu” mới của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 2,2 – 3,0 tỷ USD/năm (chiếm gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn bộ ngành rau quả Việt Nam). Đóng góp trực tiếp vào GDP ước tính khoảng 0,4% – 0,6% GDP, tạo ra dòng tiền thu nhập thực tế rất lớn cho các hộ nông dân tại Tây Nguyên, ĐBSCL và Đông Nam Bộ.

    Nếu so sánh với Top 4 Chaebol Hàn Quốc (Samsung, Hyundai, SK, LG), đóng góp của họ vào khoảng 50% – 60% GDP danh nghĩa Hàn Quốc. Chỉ riêng Samsung đã tương đương ~18% – 20% GDP.

    Tóm lại, Vingroup chỉ đóng góp thực tế vào GDP quốc gia ở mức dưới 1% GDP, chỉ nhỉnh hơn sầu riêng một chút. Nhưng tại sao Vingroup lại được Nhà nước coi như là “con cưng”, được Nhà nước cưng chiều, giao hết sản nghiệp, phần còn lại đều là con ghẻ? 

    Xương sống thực sự tạo ra của cải và việc làm cho xã hội Việt Nam hiện nay không phải là một vài tập đoàn tư nhân “khủng”, kiểu Vingroup, mà chính là hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể và gần 1 triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) – lực lượng đang tạo ra hơn 40% GDP nhưng lại là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất về mặt tiếp cận vốn tín dụng và mặt bằng kinh doanh.

    Còn nông nghiệp, với mức đóng góp ~12% GDP và hơn 50 tỷ USD xuất khẩu, thực tế mới là nguồn sinh lực bền vững và tấm lá chắn an toàn giúp nền kinh tế vượt qua các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

    Câu hỏi tiếp theo là, tại sao Nhà nước tiếp tục xuất quỹ đất, tiếp tục choàng nợ cho Vingroup, trong khi mọi lợi nhuận của tập đoàn này đã và đang đổ vào “cái lỗ đen” không đáy là VinFast? Vingroup đã “lấy hết phần” của những đứa con khác của Việt Nam. Lấy gì đầu tư vào AI, vào công nghệ số? Lấy gì đầu tư vào giáo dục để bảo đảm đời sống cho thế hệ tương lai?

    Bài 4: Những vấn đề thuộc thế hệ tương lai (Gen Z?)

    Trương Nhân Tuấn

    Bài 4: Lổ đen Vinfast

    19/8/2026

    Giá trị của Vinfast trên sàn Nasdaq (Mã: VFS) vào tháng 8/2023 có lúc lên tới 80 – 90 đô la một cổ phiếu. Vốn danh nghĩa lên hơn 190 tỉ đô la. Hiện thời cổ phiếu VFS dao động quanh vùng 3 – 5 đô la/cổ phiếu, tương ứng với mức vốn khoảng 8 đến 11 tỉ đô la. Phần lớn cổ phần (96-97%) VFS vẫn do ông Phạm Nhật Vượng và các pháp nhân liên quan trong hệ sinh thái Vingroup trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ.

    Khoảng hai tháng trước, Vinfast bán 100% cổ phần tại Công ty Sản xuất và Kinh doanh VinFast (VFTP – đơn vị sở hữu nhà máy Hải Phòng và Hà Tĩnh) cho một nhóm nhà đầu tư với giá 530 triệu đô la. Đáng chú ý, bên mua sẽ gánh toàn bộ khoản nợ và nghĩa vụ tài chánh khoảng 7 tỉ đô la (hơn 180.000 tỉ đồng) liên quan đến mảng sản xuất này. Bên nhận chuyển nhượng là một nhóm nhà đầu tư do Future Investment Research & Development dẫn đầu, trong đó tỉ phú Phạm Nhật Vượng vẫn tham gia góp vốn cá nhân.

    Điều này có nghĩa là gánh nặng tài chánh từ nhà máy được đưa ra khỏi sổ sách của Vinfast (pháp nhân niêm yết trên sàn Nasdaq) để chuyển sang một cấu trúc đầu tư tư nhân độc lập nhằm “làm sạch” báo cáo tài chính cho VinFast toàn cầu.

    Rõ ràng đây là một sự “chuyển hướng chiến lược”. Vinfast đã rút bớt nguồn lực tại phương Tây để tập trung vào xe mini, phổ thông giá rẻ như VF 3/VF 5, khai thác đội xe taxi nội bộ và mở rộng sang Nam Á – Đông Nam Á.

    Theo tôi đây là hành vi thừa nhận sai lầm và nỗ lực “sửa sai” của ông Vượng nhằm cứu vãn dòng tiền trước khi mảng bất động sản không còn đủ sức gánh vác.

    Những sai lầm của tỉ phú Phạm Nhật Vượng là gì?

    Quan sát bằng cái nhìn của một nhà quản trị chiến lược doanh nghiệp và kinh tế học công nghiệp, ta có thể kết luận rằng việc đầu tư vào xe điện theo mô thức Vinfast đã làm bộc lộ những sai lầm cốt tử, về mặt tính toán năng lực và định vị thị trường. Ông Vượng đã biến một tham vọng của cá nhân thành một cuộc phiêu lưu tài chánh đầy rủi ro, không chỉ cho tập đoàn Vingroup, mà còn kéo theo cả nước vào nguy cơ “chưa thoát nghèo đã già”.

    Năm ngoái tôi có viết hai bài viết về chủ đề “Vingroup có thể bị sụp đổ hay không?”. Tôi có đưa một vài dự đoán. Theo tôi Vingroup “quá lớn để sụp đổ”, kiểu các tập đoàn Chaebol của Hàn quốc (trước 1997). Vingroup sụp đổ là kéo theo toàn bộ hệ thống ngân hàng sụp đổ. Việt Nam sẽ lâm vào cảnh phá sản. Để tránh nguy cơ này, nhà nước đặt “lằn ranh đỏ”, học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chánh Hàn quốc 1997.

    Cuộc khủng hoảng 1997 ở Hàn quốc có nguyên nhân từ việc các Chaebol (Daewoo, Samsung, KIA v.v…) vay quá nhiều ở ngân hàng quốc tế (lên tới 400% hơn số vốn, thậm chí có tập đoàn nợ tới 1.000%). Khủng hoảng thanh khoản của ngân hàng đã khiến các tập đoàn này không thể trả nợ đúng kỳ. Toàn bộ nền kinh tế Hàn quốc sụp đổ. Để tránh bị phá sản, Hàn quốc phải vay 58 tỉ đô la từ IMF, với những điều kiện “chảy máu” vì đau nhưng phải cắn răng chấp nhận.

    “Lằn ranh đỏ” cho các Chaebol Việt Nam là nợ không quá 200% vốn mà trong đó phần lớn là “nợ quốc dân”. Do đó, mỗi khi Vinfast lặn ngụp trong nợ thì nhà nước phải giao thêm các dự án cho Vinhomes để giãn nợ (như dự án Hải Vân Bay giao cho Vinhomes cùng lúc với cuộc tái phối trí chiến lược của Vinfast).

    Vấn đề nảy sinh là nhà nước càng giao đất cho Vinhomes, giá căn hộ Vinhomes càng cao thì nhà nước càng gặp khó khăn. Nhà nước phảii đền bồi với giá rất cao ở các dự án quốc gia như sân bay Long Thành, Đường sắt cao tốc Bắc-Nam, dự án giải toả ngoài đê sông Hồng… Chuyện này sẽ trở lại bên dưới.

    Chúng ta có thể liệt kê bốn sai lầm chiến lược trong ván xì tố của Phạm Nhật Vượng gọi là Vinfast

    Sai lầm thứ nhứt là ảo tưởng về mô hình “tích hợp hệ thống”. Ông Vượng ngây thơ tin rằng có thể “đi tắt đón đầu” công nghệ xe điện (kiểu theo kịp các quốc gia tiên tiến Mỹ, Đức, Anh, Pháp…) bằng cách dùng tiền mua mọi thứ: Thuê thiết kế Ý (Pininfarina), thuê kỹ thuật Áo/ Đức (Magna, AVL, Bosch), mua cell pin Trung Quốc (CATL, Gotion) và lắp ráp lại tại Việt Nam.

    Đoàn cố vấn của ông Vượng đã không tính toán được rằng trong chuỗi giá trị xe hơi điện, lợi nhuận thuộc về người sở hữu công nghệ lõi (nhà sản xuất pin, chip, phần mềm tự hành… mà trong đó Trung Quốc chiếm tới 70%). Một doanh nghiệp chỉ đóng vai trò “tổng hợp và lắp ráp” kiểu Vinfast thì sẽ nhận biên lợi nhuận rất mỏng (tiền gia công cộng với tiền lời trên tỉ số 30% cái made in Vietnam còn lại).

    Cái thậm sai là, với phần lợi nhuận vô cùng nhỏ, Vinfast phải gánh toàn bộ chi phí bảo hành (những chiếc xe đã bán), chi phí thuê đất làm nhà máy, chi phí thuê showroom, khấu hao nhà máy và rủi ro thị trường (kiểu bị kiện tụng do xe chưa đạt tiêu chuẩn hay xe bị tai nạn. Chuyện này sẽ trở lại bên dưới)…

    “Cục nợ 7-9 tỉ đô la” của Vinfast vừa được “tráo bài ba lá”, hoán vị từ nước ngoài về lại Việt Nam (để nhà nước in tiền, dân VN trả nợ), cho ta thấy bề nổi của tảng băng lỗ lã của Vinfast chỉ chưa tới 5 năm sau khi được “lên sàn Nasdaq” ở Mỹ.

    Sai lầm thứ hai là năng lực của Vinfast lệch pha hoàn toàn với năng lực cốt lõi. Thế mạnh cốt lõi làm nên sự nghiệp của Vingroup là khai thác quỹ đất, quan hệ cơ chế trong nước (còn có thể gọi là thao túng chánh sách) và bán hàng bất động sản nội địa.

    Ngành xe cộ toàn cầu đòi hỏi một tư duy về kỹ năng hoàn toàn khác. Cơ khí vận hành 100% chính xác. Nghiên cứu và phát triển (R&D) phải có tầm nhìn dài hạn. Khối quản trị phải có thực tài, vì chuỗi cung ứng quốc tế vô cùng phức tạp cũng như việc xây dựng niềm tin thương hiệu toàn cầu là hết sức khó khăn. Vingroup lại đem tư duy “bốc hốt”, kiểu “mì ăn liền”, muốn đánh nhanh, đánh lớn, đánh bằng tiền để chiếm đất của ngành bất động sản để áp vào một ngành công nghiệp có rào cản kỹ thuật và thời gian kiểm chứng sản phẩm vô cùng khắt khe.

    (Tôi gọi “thao túng chánh sách” là vì nhà nước giao đất cho Vinhomes với số lượng khủng. Đất đai sở hữu toàn dân nhà nước là người quản lý. Vấn đề là ông Vượng chưa bao giờ giải trình trước quốc hội chuyện ông sử dụng đất ra sao, chuyện bán dâdt cho FDI nước ngoài để nâng giá BĐS ra sao… Hệ quả những chuyện này đã làm phân hoá xã hội, tác hại lên đời sống người dân vì lạm phát. Sẽ trở lại chuyện này phần dưới).

    Sai lầm thứ ba là sai lầm về thứ tự tiếp cận thị trường. Thay vì tập trung tối ưu hóa chi phí và chiếm lĩnh thị trường nội địa hoặc các thị trường đang phát triển ở Đông Nam Á, VinFast lại chọn đánh thẳng vào Mỹ và Tây Âu ngay từ đầu. Đây không phải là cú “thấu cáy” trong cờ bạc (poker) mà là hành vi đốt tiền vào “chiến trường đẫm máu”.

    Thị trường phương Tây có tiêu chuẩn an toàn ngặt nghèo, khách hàng khó tính, mạng lưới pháp lý dày đặc đồng thời dưới sự thống trị của các gã khổng lồ (Tesla, Hyundai, Ford, BMW…). Việc móc tiền túi mở hàng loạt showroom đắt đỏ tại California hay châu Âu đã tiêu hao hàng tỉ đô la mà không thu về doanh số đáng kể. Hệ quả làm cho hao mòn uy tín thương hiệu do các đánh giá kỹ thuật ban đầu chưa hoàn thiện.

    Sai lầmm thứ tư là tạo ra rủi ro “hiện sinh” cho cả hệ sinh thái (nguy cơ lây lan). Thay vì khoanh vùng rủi ro, Vingroup đã đem dòng tiền, tài sản thế chấp và uy tín của mảng bất động sản (Vinhomes) ra để bảo lãnh và bù lỗ cho VinFast. Điều này biến một dự án công nghiệp mạo hiểm thành mối đe dọa sống còn đối với sự an toàn tài chánh của toàn bộ tập đoàn. Cách nói khác là đe doạ sự sống còn của cả nền kinh tế VN.

    Vì vậy tôi khẳng định rằng việc đầu tư vào Vinfast theo quy mô và tốc độ như giai đoạn vừa qua là một cuộc phiêu lưu mang tính vượt quá khả năng chịu đựng (Overextension) về cả tài chánh lẫn nền tảng công nghệ của doanh nghiệp.

    Tỉ phú Phạm Nhật Vượng tự định vị mình là người dẫn đầu công nghệ trong khi thực chất chuỗi cung ứng phần lớn vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc. Ông Vượng không thấy Vinfast ở trong tư thế “bánh mì kẹp chả”: Ở phân khúc cao cấp thì không đủ uy tín công nghệ để đấu với Tesla, BMW. Ở phân khúc giá rẻ thì không thể cạnh tranh về chi phí sản xuất và chuỗi cung ứng với các hãng xe nội địa Trung Quốc (BYD, Geely, Wuling)…

    (Còn tiếp)

    Trương Nhân Tuấn


    Không có nhận xét nào