Bài 4
Tác giả: Phạm Hồng Lam
August 4, 2026
Pháp Chiếm Việt Nam
Chiến hạm Pháp pháo kích thành Gia Định vào ngày 18 tháng 2 năm 1859. Artist: Antoine Léon Morel-Fatio (1810–1871)
Từ thế kỉ 16., người Âu, đặc biệt là người Bồ (Portugal) đã tới Việt Nam. Nhưng phải bước qua thế kỉ sau họ mới bắt đầu có những giao thiệp đều đặn. Thương gia và giáo sĩ thiên chúa giáo là hai thành phần chính trong những đoàn người đến lúc ban đầu này. Mối lợi buôn bán và nhiệt tâm truyền giáo là động lực đưa họ vào Đại Việt.
Nhưng rồi cuộc cách mạng kĩ thuật ở thế kỉ 18. và đầu 19. đã đưa Âu châu vào một kỉ nguyên mới: Kỉ nguyên Kỹ Nghệ Hoá. Nhờ có máy móc, nền sản xuất tăng nhanh. Bên cạnh, nhờ phát minh máy hơi nước, những đoàn thuyền hàng hải lớn xuất hiện, có sức chuyển tải hàng hoá đi xa. Và hậu quả của nền sản xuất mới này là chủ nghĩa đế quốc. Người Âu đua nhau đi tìm thuộc địa, nơi cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Họ ép triều đình Mãn Thanh kí hoà ước 1858, buộc Trung Hoa phải nhượng các đặc khu kinh tế và thương mại.
Riêng tại Việt Nam, sau nhiều lần thất bại trong việc điều đình tự do thông thương và giảng đạo, Pháp hoàng Napoléon III. quyết định cho đánh chiếm một căn cứ để mặc cả.
Tháng 7 năm 1858 tướng De Genouilly điều động các chiến hạm Pháp và Tây-ban-nha từ Trung Hoa kéo xuống Đà Nẵng. Sở dĩ đánh Đà Nẵng, vì họ tin rằng, chỉ cần triều đình Huế đầu hàng là chiếm xong cả nước. Mà Huế không xa Đà Nẵng bao nhiêu. Nhưng sau 5 tháng dậm chân tại chỗ trên bán đảo Sơn Chà đầy chết chóc do sương lam chướng khí, Pháp phải rút lui.
Đà Nẵng khó nuốt. De Genouilly đổi mục tiêu, xuôi nam. Lí do: Miền Nam có nhiều sông, thuận lợi cho tàu chiến và có thể nhờ sông Cửu giao thông được với miền nam Trung Hoa, họ tưởng như vậy. Vùng này lại là vựa lúa, căn cứ hậu cần tốt. Hơn nữa Pháp phải chiếm gấp bất cứ một điểm nào ở Việt Nam, vì Anh lúc đó đã chiếm xong Ấn-độ và Miến-điện, đã dành được độc quyền thương mại ở Thái-lan và đang muốn dòm ngó Đông Dương.
Đầu 1859 Pháp nã đạn vào Vũng Tàu. Song cuộc tiến công phải khựng lại một năm. Số là vì các lí do sau: dân quân Việt chống trả mãnh liệt, Pháp đánh nhau với Ý tại Âu châu và họ phải cùng Anh trở lại Trung Hoa, để ép thi hành hiệp ước đã kí.
Năm sau (2/1861) Pháp chiếm đồn Kì Hoà. 12.000 dân quân giáo mác của tướng Nguyễn Tri Phương tan rã trước 4.000 tay súng xâm lăng. Được thế, Pháp chiếm luôn ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường. Triều đình Huế phải kí Hoà Ước 1862, nhượng ba tỉnh bị chiếm, chấp nhận bồi thường chiến phí và cho Pháp tự do thông thương và giảng đạo.
Bản đồ các tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa trong bản đồ hành chính Cochin Chine khu vực thuộc Pháp kiểm soát năm 1863 (Basse Cochinchine Francaise) và trước đó là Nam Kỳ Lục tỉnh năm 1859 (Basse Cochinchine). (Henri Rieunier (1833-1918) vẽ năm 1863.)
Năm năm sau Pháp chiếm thêm ba tỉnh Vỉnh Long, An Giang, Hà Tiên. Quan khâm sai Phan Thanh Giản chống không nổi, tuẫn tiết.
Ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1865, thời Pháp xâm chiếm miền Đông. Author: P. Bouillet
Cuộc tiến chiếm vết dầu loang ở miền Nam kéo dài 10 năm. Cho tới lúc này, chính quốc Pháp vẫn không có một chính sách thực dân rõ ràng và chính thức ở Việt Nam. Những cuộc đánh chiếm là do sáng kiến của một số võ quan với sự hỗ trợ bán chính thức của Bộ Thuộc Địa. Thị trường Trung-hoa và lối vào thị trường đó mới là bận tâm chính của Pháp. Sau khi nhận ra rằng, chỉ qua sông Hồng mới vào Vân-nam được, Pháp mới tính chuyện thôn tính miền Bắc.
Và cơ hội đã tới, khi thống đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương không cho đoàn ghe tàu chở vũ khí của lái buôn Jean Dupuis dùng sông Hồng lên Vân-nam. Lãnh đạo Pháp ở miền Nam là Dupré phái đại uý Garnier dẫn gần 200 tay súng ra Bắc. Ngoại trừ Hà Nội, Nam Định và Hải Dương là còn chống trả đôi chút, quân quan Bắc Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên đầu hàng giặc vô điều kiện: Tình trạng tinh thần quan quân miền Bắc hoàn toàn suy sụp. Huế lại phải kí hoà ước 1874 nhượng đứt miền Nam cho Pháp, cho Pháp dùng sông Hồng thông thương với Trung Hoa và chấp nhận tự biến thành thị trường tiêu thụ của Pháp. Đối lại, Garnier rút khỏi Bắc.
Henri Rivière (1827–1883)
Trong khi đó, sau thời gian tê liệt vì cuộc bại trận 1870 (do Đức đánh), quốc lực của Pháp khôi phục lần và người ta lại nghĩ tới việc mở mang thuộc địa. Bộ Thuộc Địa yêu cầu dứt điểm luôn miền Bắc để trọn vẹn hoá cuộc thực dân. Nhân cớ miền Bắc loạn lạc, đe doạ kiều dân Pháp, toàn quyền Nam Kì Le Myre de Villers cử đại tá Henri de Rivière ra Bắc. Ông này đánh một loạt các tỉnh. Qua lời cầu cứu của triều đình Huế, Trung Hoa cho đổ hàng trăm ngàn quân tràn vào chiếm cứ một số tỉnh ở biên giới Bắc. Cùng với sự hiệp lực của quân Tàu, Nam quân đã giết được Rivière và 33 lính Pháp ở Cầu Giấy. Cái chết của Rivière khiến nghị viện Pháp chấp thuận (358 phiếu thuận, 50 chống) dự án chiếm Bắc Kì của nội các Jules Ferry. Pháp tăng quân đánh Huế. Cùng lúc vua Tự Đức mất, triều đình hỗn loạn vì khủng hoảng thừa kế. Huế thất thủ, phải kí hoà ước 1883, sau bổ túc thêm hoà ước 1884, chia Việt Nam thành ba kì: Nam Kì trở thành thuộc địa, Bắc và Trung Kì chịu qui chế bảo bảo hộ của Pháp.
Cuộc chiến xâm lược kéo dài 24 năm chấm dứt. Pháp thống trị Việt Nam từ đây.
Phản Ứng Của Dân Việt
Phía triều đình
Suốt ¼ thế kỉ đó vua quan Việt chỉ loay hoay với câu hỏi: hoà hay chiến và ngồi nhìn cuộc xâm lăng như một định mệnh.
Bao nhiêu bản điều trần canh tân của các nhà nho yêu nước sáng suốt, để đưa đất nước thoát bế tắc, lần lượt bị vua quan bác bỏ. Nguyễn Lộ Trạch với „Thiên hạ đại thế luận” kêu gào phải mau có một nền Chánh Giáo (nền giáo dục hữu hiệu như Nhật đã có), thì nước nhà mới mong không rơi vào nô lệ. Tham tri Phạm Phú Thứ, sau khi có dịp sang Pháp thấy sự tiến bộ của người, về điều trần xin mở khoa học hàng hải, dạy ngoại ngữ, bỏ bế quan toả cảng, khai mỏ. Quan Trần Đình Túc khuyến cáo nên mở rộng giao thương với nước ngoài. Đinh Văn Điền kêu gọi cải tổ việc binh, mời thầy tây phương tới huấn luyện. Quan Nguyễn Hiệp điều trần nên theo kinh nghiệm Thái-lan lợi dụng sự cạnh tranh quyền lợi giữa các thế lực, để giữ độc lập cho nước. Nổi bật nhất là Nguyễn Trường Tộ với 48 bản điều trần yêu cầu cải cách về mọi mặt [1]
Nguyên do chính khiến vua quan Việt bất lực trước những chuyển biến thời cuộc và bảo thủ chống lại cải cách là vì ảnh hưởng của độc tố và độc tôn Tống Nho.
Nho Giáo nguyên thuỷ (thịnh hành trước thời Khổng-tử và được ông hệ thống lại trong Ngũ Kinh và các học trò cóp nhặt trong Tứ Thư) không đề cao quân quyền, không chủ trương độc tài, mà trái lại cổ xuý dân chủ và quyền cách mạng (quyền thay thế vua, nếu vua đi ngược lại ý dân): dân trọng, quân khinh. Nho phát triển đến cuối thời Chiến Quốc (tk. -III.) thì bị phái Pháp Gia, nhà Tần rồi nhà Hán xuyên tạc làm biến chất: Lòng hiếu thảo cha mẹ được cắt nghĩa thành lòng trung với vua, dân chủ và quyền cách mạng biến mất, nhường chỗ cho quân quyền tuyệt đối, vua trở thành con trời.
Đến đời Tống, nhờ được Chu Hi (1130-1200) thêm vào phần siêu hình (rút từ Lão và Phật Giáo), Nho trở nên hoàn chỉnh và biến thành một thứ tôn giáo chiếm độc tôn vũ đài [2]. Nho kể từ thời Chu Hi trở đi được gọi là Tống Nho (Neokonfuzianismus). Ngoài việc thêm phần siêu hình, Chu Hi còn cắt nghĩa lại kinh điển và bóp méo thêm một đợt nữa. Nguy hiểm nhất, là ông cho rằng, có chân lí tuyệt đối, và chân lí này nằm sẵn trong kinh sách; chỉ cần thuộc lòng kinh sách là có thể tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Sách của Chu Hi được các triều đại Tàu và Việt đưa vào giáo trình thi bắt buộc. Hậu quả của Tống Nho là tinh thần giáo điều, cố chấp, cực kì bảo thủ, mê văn chương thi phú, tôn sùng kinh sách „thánh hiền” mà bịt tai nhắm mắt với thời cuộc. Ngoài ra sự độc tôn Tống Nho cũng như nhu cầu đề cao thi cử của các triều đại tiếp nối đã làm mất tinh thần học uyên nguyên của Nho: thay vì học để thành nhân, thì học để thi đậu làm quan kiếm chỗ ăn trên ngồi trước.
Vua quan, sĩ phu Việt thừa hưởng tất cả những độc tố đó.
Nên khi tây phương tới, họ vẫn mải mê với thi phú, gặp chuyện gì cũng ngoái cổ về mẹ Trung Hoa vĩ đại, nơi sản xuất ra vua Nghiêu vua Thuấn và gần đây về “bác Mao vĩ đại”, đỉnh cao trí tuệ của cách mạng vô sản.
Đề đối sách kì thi Hội năm 1876 do vua Tự Đức ra: Nước Thanh (Tàu), nước Nhật đã canh tân, đã buôn bán với các nước, nay nước ta có nên mở cửa, cũng như các nước kia, cho ngoại quốc vào buôn bán không? Phan Đình Phùng, người đậu đình nguyên khoa đó, trả lời: Bỏ đạo nghĩa mấy nghìn năm mà theo Tây phương thì lại trở thành rợ! [3]. Đầu óc này sẽ trở thành đại quan Ngự Sử của triều đình và nhà lãnh đạo kháng chiến Cần Vương nổi tiếng nhất sau đó.
Hãy nghe đại quan Võ Phạm Khải biện luận bác bỏ những yêu cầu cải cách:
“… Ta nghe: Thủa xưa bắn Hậu Nghệ không dùng cây cung của Hậu Nghệ, giết Hạng Võ không phải dùng thanh kiếm của Hạng Võ, trừ giặc Hung nô đâu có cần ngựa tốt tên độc của Hung nô, mà chỉ dùng chước hay quân giỏi của nhà Hán, cũng như đánh Tần, Sở đâu đâu có cần dùng ngay giáp bền dao bén của Tần, Sở, mà chỉ dùng cây, gậy của Tề, Lương.
Cổ ngữ nói: Thấy sự quái lạ, mình đừng thèm cho là quái lạ, tự nhiên sự quái lạ ấy tự hết; thấy cọp đừng sợ, tự nhiên cọp phải sợ mình. Nay các anh đừng tâng bốc người Tây dương là tài khéo, thì họ khoe khoang tài khéo với ai được” [4]
Và lí luận của thái hậu Từ Dũ về việc gởi sinh viên du học:
“Chưa đánh được thì hoà để chờ cơ hội. Chớ còn sự cho người sang Âu châu học tập là việc không nên. Người Nhật đông di (mọi phương đông) nên mới học được với tây di. Chúng ta con Rồng cháu Tiên, nghìn năm văn hiến, há lại học thói mọi rợ được ư!”[5]
Vì thế mà khi gặc tới, vua Tự Đức chỉ biết quấn quýt bên mẹ, khiến ngự sử Vũ Duy Tân thất vọng:
“Nhà cháy đến nơi, mà mẹ con chim én, chim sẻ ở đầu nhà vẫn còn mớm nhau, ra chiều vui vẻ tự cho là yên ổn lắm!” [6]
Tướng Hoàng Diệu cho biết rõ hơn: Võ quan thì „khiếp giặc mà bỏ đi” hoặc tìm quên trong chén rượu; quan văn thì “theo gió mà tan rã”, không làm nổi một bài thơ chống giặc:
Võ tướng tiêu sâu duy hữu tửu
Văn thần thoán lỗ cánh vô thi.
Thành ra, không lạ gì hầu hết vua quan Việt đã nhanh chóng chấp nhận cộng tác với chủ mới. Chính sự cộng tác này đã kéo theo sự sụp đổ của cả một hệ thống giá trị truyền thống nâng đỡ nền quân chủ: Trước mắt người dân vua không còn là Con Trời nữa, mà chỉ là công bộc của thực dân; quan lại hết là „cha mẹ” dân.
Tắt lại, việc phá sản nho giáo là căn nguyên chính cho sự băng hoại của nhà Nguyễn.
Kháng chiến Cần Vương
Trong khi triều đình không biết làm gì khi giặc tới, thì quân dân Việt đã tiến hành một cuộc kháng chiến tự phát rộng lớn.
Sáu tỉnh miền Nam mất, các quan lớn theo lệnh rút về Trung. Các quan nhỏ người rút về ẩn mình, người cùng với nho sĩ thôn quê mộ quân chống giặc. Kháng chiến nổ ra khắp nơi: “… bao nhiêu người dân An-nam là bấy nhiêu trung tâm kháng chiến” (Léopold Pallu de Barrière). Mạnh và hữu hiệu nhất là lực lượng kháng chiến của Trương Công Định (1820-64), kéo dài 15 năm.
Cuộc kháng chiến ở Nam được nung nấu, nuôi dưỡng bằng những bài Hịch thiết tha, nẩy lửa, những bài Văn Tế và Thơ ngút ngàn yêu nước. Đặc biệt của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu. Có thể nói ông là cái loa của kháng chiến miền Nam:
Bớ các tổng làng ơi,
Chớ thấy chín từng hoà nghị mà tấm lòng địch khái nỡ phôi pha,
Chớ rằng ba tỉnh trọn vong mà công cuộc báo cừu nỡ bỏ,
…
Bảo nhau gắng sức lòng bền,
Đừng nghe chúng ra mà đầu thú
Chớ thấy Gò Công thất thủ mà ra mặt hại nhau
Đừng rằng Bến Nghé an cư mà đành lòng theo mọi
…
Chớ để xóm làng cho bạch quỷ vãng lai
Chớ để phần mộ cho tây dương phá hoại …
(Hịch kêu gọi đánh Tây cua Nguyễn Đình Chiểu)
Vua Hàm Nghi. Ảnh tư liệu, via Báo Tuổi Trẻ
Ở Trung và Bắc, sau khi hiệp ước 1883/4 ra đời và đặc biệt sau khi vua Hàm Nghi bỏ cung xướng Hịch Cần Vương, kháng chiến nổ ra đều khắp. Trong 31 trung tâm kháng chiến có bốn lực lượng tiêu biểu nhất: Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế.
Ba Đình (Thanh Hoá) với hơn 300 nghĩa quân đã cầm cự chống lại 4000 tay súng xâm lăng suốt 32 ngày đêm.
Bãi Sậy (Hưng Yên) kéo dài 7 năm. Sở dĩ kéo dài được như thế, là nhờ Nguyễn Thiện Thuật áp dụng nhuần nhuyễn lối đánh du kích: phân tán nhỏ, phục kích, chận đường tiếp tế, tập kích đồn lẻ…
Hà Tĩnh nổi tiếng với Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo kéo dài 11 năm trời. Họ Phan đã gây điêu đứng cho Pháp. Thực dân không những sợ sức mạnh vũ lực của quân dân Việt, mà nhất là nể sợ uy tín của ông. Tất cả các lãnh tụ kháng chiến đều bị Pháp và Nam triều gọi là “thổ phỉ” (Pirate), riêng đối với Phan Đình Phùng thì không. Nhà cầm quyền sai quan Hoàng Cao Khải tới tìm mọi cách khuyến dụ ông, kể cả kêu gọi tới chữ hiếu đối với cha mẹ tổ tiên, nhưng ông đã khảng khái trả lời:
“Tôi chỉ có một ngôi mộ rất to phải giữ, đó là nước Việt Nam, người bà con rất to phải cứu, đó là mấy mươi triệu đồng bào. Về sửa sang phần mộ của mình, ai sẽ lo ngôi mộ cả nước? Về để cứu bà con, ai sẽ lo cho bao nhiêu triệu anh em khác?” [7]
Chân dung Phan Đình Phùng, in trong cuốn Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ, tác giả Ngô Tất Tố.
Khi Hương Khê vỡ, Pháp đã hân hoan: “Lòng yêu nước của người Việt Nam (tới đây là) chấm dứt”!
Cuộc kháng chiến bền bỉ nhất ở Yên Thế với sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám, kéo dài 27 năm (1885-1913).
Đề Thám..Author: Pierre Dieulefils (1862–1937)
Với việc tan vỡ Yên Thế, có thể nói, cuộc kháng chiến mang tính tự phát, rời rạc, bảo hoàng do tầng lớp nho sĩ truyền thống lãnh đạo chấm dứt.
Nguyên nhân thất bại
Cho mãi tới khi quyết định đánh chiếm Bắc Kì chính quyền Pháp đã không có chính sách thực dân rõ ràng tại Việt Nam. Vì thế cuộc xâm lăng đã kéo dài trên ¼ thế kỉ. 25 năm đó đủ để Nhật thực hiện cải cách và trở nên cường thịnh. Việt Nam cũng có 25 năm để cải biến số mệnh, nhưng vua quan Việt đã không làm gì.
Nho giáo phá sản lôi theo sự băng hoại của nhà Nguyễn. Băng hoại này thể hiện một mặt nơi sự vong bản văn hoá [8], mặt khác nơi óc kì thị địa phương của triều Nguyễn. Pháp mất 10 năm để chiếm Nam Kì, nhưng hai lần họ ra Bắc đều hầu như không gặp chống cự. Quan quân Việt không đánh. Thái độ này một phần được cắt nghĩa bởi sự vô chính sách ở Huế, một phần bởi nỗi chán chường của sĩ phu bắc hà. Nhà Nguyễn vẫn coi Bắc Hà như là một miền xa lạ, nguy hiểm, thường để mặc dân tình ngoài đó vật lộn với giặc giã và nạn quan liêu. Các sĩ phu bị bạc đãi. Cả miền Bắc mênh mông chỉ có hai trường thi, sau gom lại làm một. Quan chức gốc Bắc ít thành công trên đường hoạn lộ, thường bị đuổi hoặc phải cởi áo nửa chừng. Bạc đãi nuôi lòng căm phẫn. Có lúc bộc phát như ở Cao Bá Quát, có lúc âm ỉ như ở Vũ Duy Tân, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Hữu Độ… Thời Minh Mạng uy quyền nhà Nguyễn lên cao nhất, nhưng lại là thời loạn lạc nhất, hầu hết phát xuất từ Bắc (200 cuộc loạn trong vòng 20 năm).
Băng hoại nho giáo còn biểu lộ qua quan niệm chật hẹp của vua, quan và sĩ phu về tôn giáo. Khẩu hiệu kháng chiến „Bình Tây” ở trong Nam khi ra Bắc trở thành „Bình Tây Sát Tả” (đuổi Tây giết tín đồ ki-tô giáo). Khẩu hiệu nghiệt ngã đã khiến cuộc tham gia kháng chiến ở Trung và Bắc rời rạc, xã hội phân hoá (lương / giáo).
Và các nỗ lực kháng chiến truyền thống thất bại còn do phương thức đấu tranh không phù hợp và mục tiêu thiếu linh động.
Giáo mác và lòng yêu nước của dân quân Việt không không thể cự lại được với vũ khí tối tân của đối phương. Các trung tâm kháng chiến đều mang tính tự phát, rời rạc, chỉ biết thuần tuý bạo động. Đã không có một nỗ lực liên kết đấu tranh nào và các lãnh tụ đã không đề ra được một chiến lược quốc gia bao quát và cụ thể, để vận động mọi tầng lớp nhân dân nuôi lòng đấu tranh và yểm trợ kháng chiến. Họ không nghĩ, muốn thành công, cuộc đấu tranh phải có tổ chức, phải có sự hậu thuẫn đều khắp và hình thái đấu tranh phải muôn mặt.
Thiếu viễn kiến chính trị và kế hoạch vận động quần chúng, nên chi phong trào Văn Thân Cần Vương ngụt tắt nhanh, khi vua hết còn uy tín đối với người dân. Sau khi Hàm Nghi bỏ cung, Pháp dựng Đồng Khánh lên, thì dân không còn tin vào thiên mạng của vương quyền nữa. Đặc biệt kể từ 1894, khi Pháp dẹp bỏ ngân sách riêng của chính phủ Nam triều và trả lương cho từ vua chí quan, thì tất cả biến thành công chức của thực dân. Vua chẳng là con Trời nữa, mà là công bộc cho ngoại bang.
Giữa thế kỉ 19., tuy chống lại triều đình, Cao Bá Quát vẫn chưa dám đá động gì tới vương quyền. Cuối thế kỉ, qua ngòi bút của Nguyễn Khuyến, vua chỉ còn là một bù nhìn. Bước sang thế kỉ 20., Phan Chu Trinh đã dám mắng nặng lời vua Khải Định, Phan Bội Châu coi vua quan là “đồ chó chết”!
(còn nữa)
Phạm Hồng Lam
………………….
Chú thích:
[1] Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ. Con Người Và Di Thảo, 1988.
[2] Ở Việt Nam thứ Nho sau khi bị biến thể này, không hiểu sao, trở thành một tôn giáo, gọi là Khổng Giáo; người ta tôn Khổng-tử lên thành thần thánh, thành giáo tổ. Còn ở Trung Hoa thì Khổng-tử vẫn mãi chỉ là một vị thấy gương mẫu (vạn thế sư biểu) mà thôi; Ở Trung Hoa không có „đạo“ Khổng.
[3] Tố Am Nguyễn Toại, Những Phát Hiện Mới Về Triều Nguyễn. Văn Nghệ, 2002, tr. 101t.
[4] Văn Hoá Nguyệt San. Số 63: 893/35
[5] Như trên, 894/36.
[6] Lãng Nhân. Giai Thoại Làng Nho. Toàn tập, in lần hai. Zieleks 1984: 577.
[7] Anh Hùng Nước Tôi. MTQGGPVN xuất bản. 1986: 188.
[8] „Vì chỉ học văn hóa hán tộc, mượn nền quốc học của Tàu… làm quốc học của mình, giới sĩ phu nươc ta sùng mộ văn hóa tàu quá mức, coi Hán tộc là đàn anh, có khi coi là đồng chủng, nhận liều tổ tiên mình là con cháu Vua Tàu, nên mất dần tinh thần dân tộc.” (Hoàng Văn Chí, Duy Văn Sử Quan. 1990. Tr. 141). “Quái gỡ nhất là trong các chiếu chỉ triều đình Minh Mạng gởi các tù trưởng người Thượng (ở Hội An, Quy Nhơn) thường kèm theo lời răn: Không được xuống miền xuôi quấy nhiễu Hán-dân. Hai chữ Hán-dân… (ám) chỉ tất cả người Việt miền xuôi.” (Như trên, trang 143t.)
* Phạm Hồng Lam: Bài 1: Trong Hỗn Mang Tiền Sử: Dân Tộc Việt Đến Từ Đâu?,
Bài 2: Văn hóa Việt dưới ảnh hưởng của Bắc phương (-111 đến 939)
* Phạm Hồng Lam: Bài 3: Văn Hoá Đại Việt Trong Thời Tự Chủ (thế kỷ X – XIX)
Không có nhận xét nào