Kỳ 3
Tác giả: Nguyễn Đông A
August 5, 2026
Trái: Hotel de Ville vào những năm của thế kỷ 19. Ảnh tư liệu. Phải: Tòa Đô Chánh Sài Gòn trước năm 1975. Ảnh tư liệu.
Một buổi chiều, nắng còn vương trên những mái ngói cũ, tôi lại rảo bộ, viết về Sài Gòn. Khởi đầu từ đường Lê Thánh Tôn, phía sau lưng chợ Bến Thành, tôi không đi xuôi mà lại đi ngược, tà tà về hướng Quận 3. Đi ngược vậy mà hay, vì ký ức mình vốn cũng chẳng bao giờ chịu đi theo một chiều.
TÒA DINH XƯA CUỐI ĐƯỜNG NGUYỄN HUỆ
Trước hết, xin viết về một tòa nhà cổ, nay là trụ sở Ủy ban ở số 86 Lê Thánh Tôn, phường Sài Gòn, đứng sừng sững ngay đầu đường Nguyễn Huệ, mặt hướng ra sông. Công trình xây từ năm 1898, ròng rã mười năm mới xong, khánh thành năm 1909, do kiến trúc sư Fernand Gardès vẽ kiểu, lấy cảm hứng từ Tòa thị chính Paris, dáng dấp những lầu chuông miền Bắc nước Pháp. Thời Pháp gọi là Hôtel de ville, người dân quen miệng kêu Dinh xã Tây, sang thời Việt Nam Cộng hòa lại đổi thành Tòa đô chánh Sài Gòn, nơi các quan chức thủ đô ngồi bàn việc hành chánh.
Trụ sở Ủy Ban Nhân Dân TP.HCM bây giờ. Author: Diego Delso
Khuôn viên rộng chừng bảy ngàn rưỡi mét vuông, ba mặt tiền giáp ba con đường: Đồng Khởi, Lê Thánh Tôn, Pasteur. Lúc mới cất, tòa nhà chỉ có một khối sảnh chính giữa với tháp đồng hồ nhô cao, hai bên là hai dãy nhà một tầng thấp thoáng. Đến khoảng thập niên 1940, người ta mới xây thêm lầu cho hai dãy nhà ấy. Gần đỉnh tháp là chiếc đồng hồ tròn xoay đều đều qua năm tháng, chính giữa đắp phù điêu một nữ thần cùng hai thiên thần nhỏ đang chế ngự thú dữ. Hình tượng nữ thần Marianne, biểu trưng cho tự do, bình đẳng, bác ái mà người Pháp mang theo trong hành trang thuộc địa.
Mặt tiền công trình là một bức tranh pha trộn đủ trường phái: nét Baroque uy nghi, trang trí Rococo mềm mại, cửa sắt uốn theo kiểu Art Nouveau. Hàng cột tròn thức Corinth đỡ lấy tầng lầu, xen giữa là những khung cửa vòm cho gió lùa vào thông thoáng. Trục giữa tòa nhà rợp những tràng hoa, lá phong, phù điêu mặt người mặt sư tử, cứ như một khúc nhạc chạm khắc bằng đá. Cổng chính năm vòm cong nối liền nhau, sắt uốn hoa văn tinh xảo. riêng cổng phụ 86B giản dị hơn với vài tràng hoa cách điệu. Bước qua cổng vào sảnh lớn. Trần và tường nội thất thì chỗ nào cũng chạm trổ hoa lá kiểu Louis XV, xen lẫn kính màu lấp lánh.
Năm 1966, phía sau tòa nhà cổ Đô Chánh Sài Gòn, người ta xây thêm ba dãy nhà bốn tầng làm nơi cho các phòng ban làm việc. Rồi hết trùng tu lại tôn tạo, năm 1990 xây thêm khu hai tầng bên trái, năm 1998 xây dọc theo đường Pasteur, đến 2005 mời cả chuyên gia ánh sáng từ Lyon qua thiết kế đèn chiếu cho tòa nhà đẹp lung linh về đêm. Năm 2016, 2017 lại đào thêm hầm để xe từ phía Đồng Khởi, bên trên là một công viên nhỏ cho người ta dạo mát. Năm 2020, công trình được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Đến 2023 lần đầu tiên mở cửa cho khách vào tham quan, chứ trước đó ai đi ngang cũng chỉ dám đứng ngoài song sắt ngắm, hoặc chụp vài tấm hình kỷ niệm.
Hơn trăm năm rồi, cái dáng vẻ bên ngoài của tòa nhà gần như vẫn nguyên vẹn, chỉ có bên trong là thay đổi chút ít theo thời cuộc. Tôi vẫn hay nghĩ, một công trình mà giữ được hình hài qua bao tao loạn như vậy, ấy cũng là một dạng phước phần của đất, chứ đâu phải chuyện thường.
TRANG SÁCH CŨ GIỮA LÒNG PHỐ
Rời tòa nhà cổ, đi thêm một quãng là tới Thư viện Khoa học Tổng hợp, số 69 Lý Tự Trọng, nằm giữa bốn con đường Lý Tự Trọng, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Trung Trực, Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Nó được xem là một trong những thư viện lâu đời nhất đất nước. Thời còn cắp sách, ai mà không ghé qua đây. Nhưng thú thiệt, tôi lại hay lui tới Thư viện Khoa học xã hội nhỏ hơn, gần đó, cái thư viện nghe đâu có liên hệ với Viện Bác cổ Đông Dương ngày trước. Sách khoa học xã hội ở đây phong phú, mượn cả chồng cùng lúc đem vào phòng đọc mà nghiền ngẫm, thỉnh thoảng lại chạm mặt vài người quen trong giới nghiên cứu, gật đầu chào nhau rồi ai lo việc nấy.
Chuyện thư viện này, phải kể từ năm 1868, khi Thống đốc Nam Kỳ Gustave Ohier lập ra Thư viện Tư liệu Chính phủ cho hai Hội đồng chiến tranh. Đến năm 1882 mới thành thư viện công cộng đầu tiên của Việt Nam, nhưng hoạt động èo uột vì thiếu kinh phí. Năm 1902 đổi tên Thư viện Nam Kỳ, còn gọi Thư viện Sài Gòn, đặt tại Dinh Thượng thơ trên đường De La Grandière. Đến năm 1909 đã có mười ngàn đầu sách về luật, sử, văn chương. Năm 1919 dời sang địa chỉ khác, dùng chung với Kho Văn khố, nhưng vẫn chật chội, không đủ sức chứa cho một thư viện hiện đại.
Rồi cuộc đời thư viện cứ thế trôi theo vận nước, năm 1946 giao cho chính quyền Nam Kỳ tự trị, năm 1949 đổi Thư viện Nam phần, có ông Đoàn Quang Tấn làm thủ thư đầu tiên. Năm 1955, mười bảy ngàn quyển sách quý cùng ba mươi lăm ngàn tài liệu lưu chiểu từ Tổng Thư viện Hà Nội được chuyển vào Nam, lập thành Tổng Thư viện thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Năm 1959, Thư viện Quốc gia ra đời, tách bạch với Tổng Thư viện, cơ sở vẫn chật hẹp nên chính quyền Ngô Đình Diệm phải mở tới bốn kỳ xổ số mới đủ tiền xây trụ sở mới, khởi công cuối năm 1968 tại số 69 Gia Long. Nơi đây chính là nền đất Khám Lớn Sài Gòn khi xưa, do hai kiến trúc sư Bùi Quang Hanh và Nguyễn Hữu Thiện vẽ kiểu.
Năm 1971, tòa nhà mới khánh thành, cao mười sáu tầng, chia hai khối. Một dãy dài bảy mươi mốt mét với hầm, trệt, hai lầu, sân thượng, một khối tháp vuông vức mười bốn tầng cao bốn mươi ba mét chuyên chứa sách. Trong lễ khánh thành, ông Mai Thọ Truyền gọi nơi đây là “bộ não khổng lồ của quốc gia”. Một câu nói nghe kiêu hãnh làm sao, bởi giữa thời buổi chiến tranh mà người ta còn nghĩ tới chuyện gầy dựng tri thức cho hậu thế. Thư viện còn tổ chức xe lưu động chở sách xuống tận vùng xa, mười hai ngàn quyển cho người lớn, sáu ngàn quyển cho con nít.
Hình ảnh Thư viện Quốc gia trên tem bưu chính phát hành năm 1974. Author: Hiep Ng, Vo Hung Kiet
Năm 1976 đổi tên Thư viện Quốc gia II, năm 1978 hợp nhất với Thư viện Khoa học Kỹ thuật thành Thư viện Khoa học Tổng hợp như bây giờ. Ngày nay ở tầng một có thêm thư viện số S-Hub, máy tính, mạng tốc độ cao, chỗ hội thảo, câu lạc bộ. Cái cũ và mới cứ thế chồng lên nhau trong cùng một mái nhà. Tôi ngồi nghĩ, một thư viện mà đổi tên biết bao lần, dời chỗ biết bao bận, vẫn cứ ngoan cường tồn tại, ấy chẳng khác nào một con người đi qua giông bão mà vẫn giữ được cái chữ trong lòng.
Trái: Thư viện Quốc gia của Sài Gòn cũ. Ảnh tư liệu. Phải: Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM bây giờ. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên
CÂY DA GIỮA CHỐN THỊ THÀNH
Loanh quanh khu này, tôi hay tạt vào Công viên Bách Tùng Diệp ngồi nghỉ chân, uống miếng nước, nhai vội cái gì đó. Công viên còn có tên khác là Lý Tự Trọng, nằm giữa trung tâm Quận 1, là một trong những mảng xanh quý hiếm của đô thị. Đa phần công viên Sài Gòn đặt tên theo địa danh hay nhân vật lịch sử như 23 tháng 9, Gia Định, Lê Văn Tám. Riêng cái công viên góc Nam Kỳ Khởi Nghĩa với Lý Tự Trọng này lại mang tên một loài cây: Bách Tùng Diệp. Nhưng cây được nhắc ở đây kỳ thực lại là cây da, chớ chẳng phải tùng bách gì cả.
Cây đa 300 năm tuổi tại công viên Bách Tùng Diệp. Ảnh: Greg Sharpe. Photo: mia.vn
Mảnh đất này có lai lịch lòng vòng, đủ để viết thành một thiên tiểu thuyết ngắn. Năm 1866, đất thuộc về người Tây Ban Nha, họ định xây lãnh sự quán, đặt tên mỹ miều “Jardin d’Espagne”, Vườn Tây Ban Nha nhưng rồi việc xây cất chẳng thành. Năm 1919, đất sang tay Tổng lãnh sự Anh, nhưng nước Anh sau đó lại xin đổi chỗ khác. Dùng dằng qua lại vậy mà tới năm 1955 mới thành công viên Liên Hiệp, rồi đổi Lý Tự Trọng, còn cái tên Bách Tùng Diệp thì tới nay chẳng ai tra ra được gốc gác vì sao. Tất cả những xoay vần ấy, chỉ có cây da đứng đó là chứng kiến từ đầu tới cuối. Mảnh đất này, số phận đã định sẵn chỉ để làm công viên mà thôi.
Giữa công viên, không phải đứng sừng sững mà là chan hòa. Một gốc cây da lớn bằng cả căn nhà, tuổi đời xấp xỉ tuổi Sài Gòn, năm thân rũ xuống từ trên cao, tạo thành hai cổng tự nhiên: cổng lớn cho người lớn, cổng nhỏ cho con nít chui qua chơi. Theo lời Đội quản lý cây xanh số 1, khi xưa cụ đa còn có một người anh em sống chung trên đất, nhưng vì người ta đào móng nhà đụng phải rễ, cụ kia cứ thế mà lụi dần, dù bác sĩ cây xanh đã hết lòng cứu chữa. Cụ già như chuối chín cây, rồi cũng phải đi. Giờ chỉ còn lại một mình cụ ông cô đơn giữa cõi đời ô trọc, chứng kiến bao lớp người, bao vòng thời gian trôi qua trước mặt. Mà mừng thay, cụ vẫn khỏe, tán lá vẫn xum xuê tỏa rộng bốn phương. Trưa trưa, biết bao người lao động rong ruổi ngoài đường tấp vào, trải chiếu nằm ngủ một giấc dưới vòm tay xanh mát của cụ. Bóng mát ấy, tôi nghĩ, còn quý hơn vàng đối với người nghèo giữa trưa nắng Sài Gòn.
Cây cao chừng hai mươi mét, thân to đến độ phải hàng chục người nối tay nhau mới ôm xuể, hàng ngàn rễ phụ đâm chằng chịt xuống đất tạo thành những cổng vòm tự nhiên kỳ dị, đủ khơi gợi trí tưởng tượng dân gian về đủ thứ chuyện tâm linh huyền hoặc. Công viên rộng chừng năm ngàn mét vuông, được ví như lá phổi xanh giữa lòng Quận 1, sáng sáng có người tập yoga, chạy bộ, ngồi thiền; cuối tuần thì gia đình, bạn bè trải chiếu ăn uống, đọc sách, chuyện trò.
Ngồi dưới bóng cây da, tôi hay nghĩ vẩn vơ, một tòa nhà, một công trình kiến trúc, dù nguy nga cỡ nào rồi cũng có ngày tàn phai theo năm tháng, gạch đá cũng mòn, sơn son cũng bạc. Nhưng một cụ cây tự nhiên thì khác. Cứ thêm cành thêm lá, xum xuê nảy nở, chẳng cần bao nhiêu công sức con người. Chỉ cần ta đừng táy máy, đừng tranh giành từng tấc đất, đừng lấn át gốc rễ của nó, thì cụ cứ nguyên vẹn màu xanh, lặng lẽ góp phần làm cho phố thị bớt ngột ngạt hơn mỗi ngày. Mọi thứ trên đời đều dễ mất, huống chi một cây già cỗi im lìm chẳng có sức chống trả. Vậy mà cụ vẫn còn đó tới hôm nay, kể cũng là một kỳ tích lạ thường. Mong cụ được giữ gìn, khỏe mạnh thêm dăm trăm năm nữa.
Ngồi đây, tôi lại chợt nhớ tới một cây da khác, ở một góc trời khác của Sài Gòn — Cây Da Sà, nơi ngã tư đường Bà Hom và An Dương Vương, giáp ranh phường Bình Trị Đông quận Bình Tân với phường 13 quận 6. Tên gọi bắt nguồn từ một cây đa cổ thụ cành lá sà xuống sát đất, riết rồi “đa sà” thành tên quen miệng của dân gian. Nhưng khác với cụ đa hiền hòa ở Bách Tùng Diệp, khu Cây Da Sà những năm 1950 đến 1975 lại nổi tiếng vì lý do chẳng mấy vẻ vang: là tụ điểm cờ bạc, tệ nạn, “thủ phủ” thuốc phiện một thời. Giới giang hồ xưa còn truyền câu: “Nhứt Da Sà, nhì Tôn Đản, thứ ba Mả Lạng” để chỉ ba vùng đất dữ dằn nhất Sài Gòn, và đây cũng được xem là một trong những nơi khởi phát nạn cờ bạc số đề của thành phố. Cùng mang tên một loài cây, mà một bên là bóng mát bình yên, một bên lại là vùng đất khét tiếng. Âu cũng là cái duyên cái nợ khác nhau của đất đai, chẳng phải tại cây.
DẤU XƯA KHÔNG CÒN CHỖ ĐỨNG
Tôi lại nhớ ra chuyện Viện Bác Cổ Đông Dương, tên Pháp là École française d’Extrême-Orient, viết tắt EFEO tiền thân lập tại Sài Gòn cuối năm 1898, ban đầu mang tên Phái đoàn Khảo cổ Đông Dương, đến tháng Giêng năm 1900 mới được Toàn quyền Paul Doumer ký nghị định đổi thành Học viện Viễn Đông Bác Cổ. Trụ sở đầu tiên đặt tại số 140 đường Pellerin, nay là Pasteur. Dù chỉ trụ ở Sài Gòn vỏn vẹn bốn năm rồi dời trung tâm ra Hà Nội năm 1902, Viện đã kịp đặt nền móng cho cả một ngành Đông phương học, với những phát hiện lừng lẫy về các nền văn hóa Óc Eo, Đông Sơn, Sa Huỳnh.
Bây giờ, khu đất ấy nằm ngay lõi trung tâm, sát bên khách sạn Rex, mặt bằng 138-140 Pasteur được dùng làm nhà hàng ẩm thực cao cấp. Một nơi từng ấp ủ những cổ vật ngàn năm, giờ thành chỗ người ta nhâm nhi bít tết. Nghĩ cũng lạ, mà đời vốn vẫn hay đổi thay như vậy, chẳng có gì đứng yên mãi.
Dấu tích của Viện Bác Cổ giờ gắn liền với Bảo tàng Lịch sử ở Quận 1. Năm 1904, các hiện vật cổ được thuê chỗ lưu giữ tạm tại 140 Pellerin, thành tiền thân của bảo tàng ngày nay. Nhưng phải chờ tới năm 1929 bảo tàng mới có trụ sở chính thức trong Vườn Bách thảo, thời Pháp gọi là Bảo tàng Blanchard de la Brosse, theo tên vị thống đốc Nam Kỳ đã cho khởi công. Ý tưởng lập bảo tàng manh nha từ năm 1882, khi Hội đồng quản hạt chấp thuận đề nghị của Giáo sư Milne-Edwards, nhưng ròng rã gần nửa thế kỷ, bảo tàng phải dời chỗ hết nơi này sang nơi khác. Mướn nhà ở Pellerin, rồi Lý Tự Trọng, rồi Lê Duẩn mới yên vị được trong vườn bách thảo.
Câu chuyện xây bảo tàng gắn với một con người đáng nhớ, đó là bác sĩ Victor-Thomas Holbé, người mê sưu tầm cổ vật, nhà ở quảng trường Hồ Con Rùa bây giờ, quy tụ biết bao trí thức Pháp Việt tới đàm đạo. Khi ông mất năm 1927, sợ bộ sưu tập bị phân tán bán đấu giá, Hội Nghiên cứu Đông Dương đã đứng ra kêu gọi quyên góp được bốn mươi lăm ngàn đồng, mua lại toàn bộ hiến tặng chính phủ, thúc đẩy việc xây dựng viện bảo tàng để lưu giữ cho đời sau. Nhờ vậy mà thống đốc Blanchard de la Brosse mới ký nghị định thành lập Bảo tàng Sài Gòn cuối năm ấy. Qua bao đổi thay chính thể, Bảo tàng quốc gia Việt Nam thời Cộng hòa, rồi Bảo tàng Lịch sử Thành phố sau 1975. Tòa nhà do kiến trúc sư Auguste Delaval thiết kế vẫn đứng đó, một trong hai công trình tiêu biểu cho lối kiến trúc Đông Dương pha trộn Đông Tây của Sài Gòn xưa.
Rồi tôi lại nghĩ tới Ga xe lửa Sài Gòn, nay là Công viên 23 tháng 9. Một câu chuyện buồn nhiều hơn vui. Trước năm 1915, ga chính nằm ở bến Bạch Đằng, đầu đường Hàm Nghi; đến tháng 9 năm 1915 mới dời về vị trí công viên hôm nay. Đây chính là điểm khởi đầu tuyến xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho, được khánh thành năm 1885, chuyến tàu đầu tiên chạy ngày 20 tháng 7 năm ấy, chở theo mấy vị công dân Pháp hớn hở. Từ miền Tây lên Sài Gòn thời đó, thanh niên đi học hay thương gia buôn bán thường đi ghe tới Mỹ Tho, ngủ lại một đêm, sáng hôm sau lên tàu về ga trước chợ Bến Thành. Từ thôn quê ra thành thị, vậy mà đã kể là tiện lợi, nhanh chóng lắm rồi.
Năm 1928, trên chuyến tàu từ Mỹ Tho về, ở trạm Bến Lức, hai nhà cách mạng Nguyễn An Ninh và Phan Văn Hùm từng chạm trán với cai lính nhà ga sau khi đi cổ động lòng yêu nước khắp các tỉnh. Phan Văn Hùm bị bắt, Nguyễn An Ninh thoát được. Một chi tiết nhỏ vậy thôi, mà đủ thấy sân ga ngày xưa không chỉ là chỗ người ta lên xuống tàu, mà còn là nơi chứng kiến bao khúc quanh của lịch sử.
Năm 1914, cùng lúc xây chợ Bến Thành, người Pháp dựng luôn trụ sở công ty Hỏa Xa đối diện nhà ga, tòa nhà ấy nay vẫn còn ở số 136 Hàm Nghi, vẫn phục vụ ngành đường sắt tới bây giờ. Kể cũng lạ, một tòa nhà sống dai hơn cả cái nhà ga nó từng đứng đối diện. Ngoài ga còn có bến xe thổ mộ đưa đón khách, cảnh nhộn nhịp ấy góp phần sinh ra câu “ngựa xe như nước” quen thuộc, mượn từ câu Kiều mà tả cảnh phồn hoa khu trung tâm.
Năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tiếp quản đường sắt từ tay người Pháp, tuyến đường mở xa tới tận miền Trung, hình ảnh ấy còn đọng lại trong câu hát “Quên Nhau Trên Đường Về”, một bài hát về những cuộc chia ly trên sân ga. Nhưng chiến sự mỗi lúc một lan rộng, đường sắt miền Trung bị tàn phá, cuối cùng chỉ còn chạy được tới Biên Hòa, Long Khánh. Sau biến cố 1975, ga tạm ngừng hoạt động ít lâu, rồi năm 1978 dời về ga Bình Triệu, nhà ga cũ gần chợ Bến Thành bị dỡ bỏ, ga Hòa Hưng, vốn chỉ là ga hàng hóa được nâng cấp thành ga Sài Gòn mới, hoàn tất năm 1983. Từ đó, cái tên “ga Sài Gòn” trong tâm trí người ta dần gắn với Hòa Hưng, còn nhà ga cũ đối diện chợ Bến Thành cứ nhạt nhòa dần theo năm tháng.
Khu đất ấy sau đó quy hoạch thành Công viên 23 tháng 9, nhưng rồi lại giao cho một tập đoàn Đài Loan xây khu phức hợp cao ốc, dự án hoành tráng nhất Việt Nam thời bấy giờ, trị giá bảy, tám trăm triệu đô. Ai dè khủng hoảng kinh tế ập tới, tập đoàn gặp khó khăn tài chính, dự án đình chỉ nửa chừng, công viên bỏ hoang, thành nơi trú ngụ của tội phạm suốt một thời gian dài. Mãi tới giữa thập niên 2000 mới được tu sửa chỉnh trang lại, trở thành mảng xanh hiếm hoi giữa trung tâm thành phố như bây giờ. Ngẫm lại, một khoảnh đất mà trải qua bao lớp phận. Từ nhà ga tấp nập, tới công trường bỏ hoang, rồi thành công viên, đâu khác gì đời người, lúc huy hoàng, lúc chìm lắng, rồi cũng tìm được về với sự bình yên của chính nó.
TIẾNG ĐÀN CŨ TRÊN ĐƯỜNG NGUYỄN DU
Viết về Quận 1, ký ức trong tôi cứ ùa về không muốn dừng. Nhưng thôi, bài này xin khép lại bằng một điểm cuối, Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn, trước năm 1975. Tôi có thằng bạn học ở đó, có lần còn dẫn tôi tới giới thiệu với ông thầy để học ké vài lớp guitar cổ điển. Không rõ nó học khoa gì, chỉ nhớ lúc người ta còn ngủ say thì nó đã lục đục leo lên sân thượng luyện thanh nhạc, nghe đâu phải học ròng rã sáu, bảy năm, chớ không phải bốn năm như trường khác. Xạo hay thiệt, tới giờ tôi cũng chẳng dám chắc.
Trường thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa, tọa lạc tại số 112 đường Nguyễn Du, Quận 1. Trong số người sáng lập có nhạc sĩ Hùng Lân, giám đốc đầu tiên là ông Nguyễn Phụng. Ngày khai giảng có một trăm năm mươi sinh viên ghi danh, trường có hai ngành: Quốc Nhạc dạy nhạc cụ truyền thống, ca xướng ba miền, nhạc sử Việt Nam; và Nhạc Cổ Điển Tây Phương dạy nhạc khí, nhạc lý, hòa âm đối âm kiểu phương Tây. Đến năm 1960 mới đổi tên thành Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ, sau khi mở thêm phân khoa kịch nghệ với cải lương, hát bội, thoại kịch.
Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn tại đường Nguyễn Du thập niên 1960 (Nguồn: Manhhaiflickr)
Ban giảng huấn toàn những tên tuổi lẫy lừng: nhạc trưởng Nghiêm Phú Phi, Nguyễn Hữu Ba, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Lê Thương, Phùng Há, Bích Thuận, Vũ Khắc Khoan, Thanh Tâm Tuyền… Học trò ra trường cũng lắm người thành danh: Đỗ Đình Phương thủ khoa Tây Ban cầm năm 1960, Phạm Thúy Hoan thủ khoa đàn tranh năm 1962, rồi Trần Quang Hải, Ngô Thụy Miên. Sau năm 1975, trường bị giải thể, cơ sở nhường chỗ cho Nhạc viện Thành phố, còn phần đào tạo diễn xuất thì chuyển về Đại học Sân khấu – Điện ảnh.
Nhạc viện bây giờ đã lớn mạnh hơn xưa nhiều, đào tạo bảy ngành đại học với ba mươi sáu chuyên ngành, từ trung cấp lên tới tiến sĩ, là một trong ba cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp lớn nhất nước. Từ năm 2001 tới nay đã thực hiện được năm mươi lăm công trình nghiên cứu khoa học. Ngồi nghĩ lại, cái sân thượng nơi thằng bạn tôi từng lén luyện thanh nhạc giữa đêm khuya, chắc giờ cũng chẳng còn, nhưng tiếng đàn, tiếng hát của bao thế hệ học trò trường ấy, tôi tin vẫn còn văng vẳng đâu đó trong không khí phố phường, chỉ là tai người thường không còn nghe thấy được nữa mà thôi.
Thôi, chiều cũng đã muộn rồi, hôm nay tôi chỉ dẫn các bạn đi loanh quanh Quận 1 chừng ấy thôi. Mai mốt rảnh, tôi lại kể tiếp.
(còn nữa)
Nguyễn Đông A
*Nguyễn Đông A: Sài Gòn, quận I– Cái tên còn ở lại (Kỳ 1)
*Nguyễn Đông A: Dưới chân Sài Gòn là một vùng ký ức (Kỳ 2)
Không có nhận xét nào