Kỳ 4
Tác giả: Nguyễn Vy Khanh
13/8/2026
GIAI ĐOẠN HOÀI NIỆM (1992-2000)
Phạm Thị Hoài: Trong vòng hơn một năm (1995-1996), nhà văn Phạm Thị Hoài đã cho xuất bản hai tác phẩm và cả hai đều gây ít nhiều tiếng vang và phê bình ở trong cũng như ngoài nước. Ðó là tập truyện ngắn Man Nương và truyện vừa Marie Sến. Qua hai tác phẩm này, bà đã vẽ lại bức tranh xã hội Việt Nam hiện nay một cách sống động nhưng cũng châm biếm đến độ tàn nhẫn và vô tình hay cố ý, tác giả của chúng trở thành… đối nghịch với giới lãnh đạo văn nghệ và chính trị của bà. Đến năm 1999, thêm Chuyện Lão Tượng Phật Di Lặc Và Nàng Nậm Mây của Phạm Thị Hoài do nhà Văn Nghệ xuất bản tại Hoa Kỳ. Nậm Mây vừa là một truyện cổ tích cho trẻ con, mà lại mang ý nghĩa luận đề về thân phận con người. Nậm Mây biểu tượng của sự ngây thơ và trong trắng tâm hồn, là nậm rượu cổ, thuộc thời Mạc Mậu Hợp 1580, còn lão Di Lặc là tượng phật cười bằng gỗ xoan đực, cực quý, trong truyện có thể là “con” của thiên tài họ Trương, tác giả pho tượng Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay lừng danh của chùa Bút Tháp. Trôi nổi đến thời nay, Phật Di Lặc trở nên bất lực như con người – Phật cũng phải ký giấy xin được tự do tôn giáo. Di Lặc đầu thai trong một nước Việt tráo trở, bất lực không cứu nổi Nậm Mây và cũng không cứu nổi bản thân mình.
Thái Quốc Mưu (1941, Kiến Hoà -), chủ nhiệm báo Dân Việt vùng Atlanta GA, xuất bản tuyển tập thơ văn Gió Quyện Hương Đồng (Dân Việt, 1998), chuyện ở miền Nam lục tỉnh và những ký sự thời chiến tranh vừa qua.
Nguyễn Thị Phong Dinh (còn ký Nguyễn Vĩnh Long, tên thật Nguyễn Ngọc Hoàng, 1953, Vĩnh Long – ), 1981 vượt biển và định cư ở Hoa-Kỳ. Trong tác phẩm đầu tay, Giữa Hai Mùa Gió (Văn Tuyển, 1999), đã sử dụng cảm quan hiện thực và phân tích tâm lý của Tây phương để diễn tả những tâm trạng của con người Đông phương và thiển nghĩ khá thành công, ít ra là đem lại nội dung và kỹ thuật mới cho văn chương hải ngoại. 10 truyện ngắn nhưng cùng chủ đề làm sườn cho một truyện dài nhân sinh với nhiều mảnh truyện cùng nhân vật xưng tên Dinh. Những mảnh đời sống ở xứ người, hội-nhập tích cực nhưng vẫn bị cuốn hút vào guồng máy tâm sinh lý không lối thoát, những kiếm tìm thỏa đáng cho những “cơn sốt sinh lý” không dễ đạt. Những cuộc tình tay ba tay tư, những tình đầu đời cuối đời, những khám phá đồng tính, buông xuôi, những dĩ lỡ, hối tiếc,…
Những cơn lốc định mệnh đẩy đưa con người rời khỏi vùng đất nước Hậu giang sang đến xứ Mỹ mênh mông lòng người phức tạp, mà người đồng hương thì có khi tệ mạt dù lấy cớ phải hội-nhập hay phải này nọ. Dưới ngòi bút của NTPD, hội-nhập trở nên một phương tiện để con người sống lưu-vong khám phá bộ mặt thật của người thân, người tình và tình người. Nửa Màu Xanh Biển kể chuyện Dung theo gia đình đến Mỹ nhưng cha mẹ sớm ly dị vì cha “muốn tìm lấy cuộc sống thật của chính bản thân mình”. Mẹ Dung thuộc loại “khó tính” – có lý do, không thích đời sống và người bản xứ cũng như cộng đồng người đồng hương mà bà khép mọi cánh cửa cảm thông, và không muốn hai con gái lấy Mỹ. Dung cặp bồ với một chàng người Pakistan có bệnh “xuất tinh xón” hành hạ nhiều lần trong khi nàng chưa hề được “cảm thấy sướng ngất”, cô gái “nghi ngờ mọi giá trị tinh thần, sống chơi vơi giữa những dòng thác lũ của mộng mơ, sự nghiệp, tình yêu, hạnh phúc và tình dục đang lôi cuốn tuổi trẻ” (tr. 111). Dung gặp Ngôn, bà mẹ vui nhưng đến khi gặp, biết là con lai thì bà chủ trì ý không muốn con lấy Mỹ dù lai: “Dòng sông hạnh phúc đời bà đang lững lờ trôi ngược. Hạnh phúc đời tôi là dòng sông đang cuồn cuộn trôi xuôi” (tr. 113). Gặp mẹ nuôi của Ngôn, Dung mới biết anh chính là anh cùng mẹ khác cha với nàng – là con hoang của mẹ Dung ngày trước. Tất cả trở thành “cơn mộng dữ đang chôn kín những giác quan” của Dung.
Giữa Hai Mùa Gió là chuyện thường thấy với những anh chàng “việt kiều” về Việt Nam “nổ” và đóng kịch đề tìm cách lấy vợ đưa sang Mỹ, bấy giờ trắng đen mới rạch ròi và thảm kịch xảy ra. Chuyện cô gái miền sông nước tên Thanh bị Tấn lừa, trở thành nô lệ tình dục cho hắn. Bỏ rơi Sơn, người yêu đầu đời, nay bơ vơ xứ người mới nghĩ đến anh sau khi vô tình nhận được thư, mảnh giấy “em sẽ để dành, như một báu vật, như một cẩm nang sẽ giúp em vượt qua mọi chông gai những ngày trước mặt. Như trong tôi giờ đây thiết tha hình ảnh của người đàn ông đang đứng cô đơn, lặng lẽ nhìn những vòng nước lan tròn trên mặt đầm sen, ở một nơi nào đó đợi chờ” (tr. 68).
Sống hội nhập ở xứ người, và những kiếm tìm, buông thả sinh lý, … dưới ngòi bút NTPD lắm khi hài hước … đen. Cô gái tên Ngân “chiều” tên manager người Mỹ dùng đến cả chiêu “khẩu chiến” – “Không biết sục sạo bên dưới thế nào, hắn làm văng cả hàm răng giả dưới đùi tôi…” (Khung Mắt). Trong Nhánh Sông An Lành, Dinh được Tonya, cô gái Mễ làm chung, tâm sự mà cũng để biện minh việc dễ dãi tình dục: “Tình yêu và tình dục là hai mặt hoàn toàn khác nhau của cuộc sống. Sự sướng ngất của thể xác lúc làm tình, cuối cùng chỉ là phần nằm ở phía dưới, giữa háng. Chỉ có vậy, dứt khoát chỉ có vậy. Tình yêu thuộc về trái tim. Cái ‘sướng’ ở giữa háng bao giờ cũng thoáng chốc và luôn luôn nằm bên dưới của trái tim. Phân biệt được điều đó mày sẽ thấy cuộc sống thú vị và hạnh phúc lúc nào cũng trong lòng tay” (tr. 86). Nhưng Dinh không hề may mắn – khi làm vợ Thức bị anh ta “thô bạo” cứ tra hỏi “có sướng dữ hông. Tại sao không la lên”, cũng nhưkhi gặp Niệm, anh chàng người Huế sống với hai con mở tiệm ăn ở Mễ, tưởng đã tìm ra nhánh sông an lành nhưng vẫn không can đảm để lại phải “trở về nơi không có một dòng sông”.
Sau Giữa Hai Mùa Gió, truyện và thơ ông ký Nguyễn Vĩnh Long, nhiều sáng tác vẫn nội dung những miền sông nước trong đó có quê nhà của ông, vẫn những phân tích tâm lý, quan sát hiện thực, tinh tế, vẫn cống hiến cho văn học những bức tranh truyền thần về một đất nước đa dạng, đầy hoa trái mà cũng nhiều tình huống đau thương, những phần số bất hạnh,… Nói chung, nếu Võ Kỳ Điền trội nổi ở miền Đông thì văn chương của Nguyễn Vĩnh Long / Nguyễn Thị Phong Dinh mang những đặc sắc miền Tây độc đáo của riêng ông.
Nhà báo Hà Bỉnh Trung (1923 – 24-4-2012, Virginia), có các tập truyện ngắn Theo Nhịp Dòng Đời (1993), Rừng Thiêng (1994) và truyện dài Chỉ Hồng (1995).
Nguyễn Ngọc Ngạn có Chính Khách (Làng Văn, 1992) viết về một xã hội bị nhiễm độc bởi cuộc chiến vừa qua và cái độc ăn ra đến hải ngoại. Cả hai là những bức tranh hiện thực có thể khiến người đọc xem cho biết nhưng người chống cộng đồng Việt quốc-gia sẽ hả hê xem như NNN đã xác nhận giùm “tiền đề” của người cộng-sản hoặc thân Cộng (13). Xóm Đạo (Tokyo: Tân Văn, 1998) là tiểu-thuyết đặc sắc của ông trong giai đoạn này, nêu vấn đề tôn giáo ở xã-hội Việt-Nam, đã trình bày đời sống và các sinh hoạt của những người công giáo ở một xóm đạo di cư sau 1954 ở miền Nam, vai trò của các chủ chăn, những liên hệ giữa các giáo dân và với người bên “lương”, tình yêu và ngăn trở giữa những người trẻ không đồng đạo, v.v. Các tác phẩm khác: Quay Trong Cơn Lốc (Làng Văn, 1994), Nắng Qua Phố Cũ (Văn Khoa 1996 tái-bản), Chút Ân Tình Mong Manh (Làng Văn, tb 1993), Dấu Chân Xưa (Làng Văn, 1994), Dòng Đời Lặng Lẽ (TGXB, 1998) và Bóng Người Dưới Trăng (Tân Văn, 2000).
Ông là nhà văn thực tế nhất của văn đàn hải-ngoại, từ chống Cộng đến thói sống của người Việt ở hải-ngoại, và còn theo khuynh-hướng Âu Tây thính-thị và đáp ứng thực tại lão hoá của độc-giả: ông phát hành trên dưới 100 băng đọc truyện (truyện dài, truyện ngắn, truyện ma), và soạn kịch cho đại nhạc hội và kỹ nghệ băng dĩa.
Trương Anh Thụy qua tiểu-thuyết trường thiên bộ ba (trilogy: Trạm Nghỉ Chân; Ma Lộ, Chuyển Mùa) truyện hư cấu tình yêu và liên hệ với những người sinh viên do chế độ cộng sản gửi đi du học. Tình yêu giữa những thành phần trên nguyên tắc đối đầu trong chiến tranh. Tuổi trẻ liên hệ gián tiếp của cuộc chiến vừa qua có thể sống cái tuổi trẻ của họ: theo tác giả lưỡng cực Quốc-Cộng có thể vượt được, nhằm xây dựng một tương lai có tình người, ít ra bắt đầu bằng tình yêu… Truyện viết “về Tuổi Trẻ, Cho Tuổi Trẻ, Vì Tuổi Trẻ”!
*
THI CA thời này vẫn là bộ môn phong phú nhưng luôn khó khăn về xuất-bản và tiêu thụ. Trước hết là các nhà thơ nữ:
Nhà thơ Cao Mỵ Nhân sau thời “học tập”, ra đến hải-ngoại tiếp tục làm thơ xuất-bản nhiều tuyển tập : Thơ Mỵ 2 (1997, tiếp tập 1 xuất-bản năm 1960), Áo Màu Xanh (Cỏ Thơm VA : 1999), Lãng Ðãng Vào Thu (2001), Đưa Người Tình Đi Tu (Cội Nguồn, 2001), Sau Cuộc Chiến (Cội Nguồn, 2003) mà tác-giả gọi là “hồi ký bằng thơ” về thời chiến-tranh Việt-Nam mà bà là nhân chứng và tham chiến với tư cách thiếu tá,… Ngoài ra bà còn tập ký sự văn-học Chốn Bụi Hồng (1, 1994), …
Trích Tất Cả Là Sương Khói – ghi “Nhớ về danh ni tu sĩ Trí Hải (1938 – 2003)”:
“Từ buổi tôi về thăm tịnh thất
Lòng buồn nhung nhớ một phương trời
Trưa rằm Phật Đản, mưa lất phất
Những áng thơ trầm mặc, vút khơi
Câu chuyện dòng sông còn ám ảnh
Tôi như …Tất Đạt, mãi băn khoăn
Đi tìm chân lý mà so sánh
Thì chẳng bao giờ gặp …vĩ nhân
Hạnh ngộ sư cô một buổi trưa
Áo người tu sĩ mầu sông mưa
Càng thêm đơn lẻ, khi tôi biết
Cô rất an nhiên, rất …đại thừa
Tu nghĩa là tu, không lý do
Tại sao tôi lại phải ưu tư
Khi dòng sông cũ trôi thầm lặng
Hãy lắng tai nghe sóng dội bờ
Trí tuệ bao la như biển rộng
Nụ cười dung dị, mắt đăm chiêu
Có chi tất cả trong đời sống
Biến diễn qua cô thật mỹ miều
Một đoá hồng nhung, đoá huệ vàng
Đoá sen trắng tuyết, đoá đài trang
Nơi cô, tất cả là sương khói
Thanh thản bên trời, sóng vọng vang…”
(Trích Đưa Người Tình Đi Tu)
Nguyễn Thị Thanh Bình đặc sắc với tập thơ Trốn Vào Giấc Mơ Em (1997) tình yêu muôn vẻ qua nhiều thể thơ khác nhau.
Khánh Hà (Nguyễn Thị Khánh Hà, 1943-), một nhà thơ nữ định cư tại Na Uy xuất bản Cõi Thơ (Làng Văn, 1997), thơ buồn pha hy vọng về tình người và quê hương, và Ở Đây (2000).
Sương Mai (Bùi Phụng Mai; sinh quán Cần Thơ) trong nhóm thành lập thi văn Cội Nguồn và có thơ in chung trong nhiều tuyển tập và các tạp-chí cũng như đã xuất bản: Thoảng Chút Hương Xưa (1996); Thơ Tình Sương Mai (1998); Trăng Mộng (1999),…
Với Sương Mai, qua tập Trăng Mộng, trăng là người tình, là chính tình yêu. Nay chính miệng nhà thơ, một người nữ, tình tự với trăng. Trong bài Trăng Mộng mở đầu tập, nhà thơ ngỏ lời mời gọi trăng đến/vào để trao đổi tâm tình, mà tâm hồn thì đã rộng mở:
“Tôi ngả lưng chờ đợi đã lâu rồi
Chăn gối lạnh cho đầy vơi nước mắt…”,
“Hãy âu yếm, ôm choàng tôi thật chặt
Tôi sẽ cười thật tình tứ với trăng
Sẽ lả lơi không quyến rũ nào bằng
Nghiêng tóc xõa, khỏa thân trần mộng mị...”,
rồi “Tôi âu yếm hôn vầng trăng dấu ái
Môi này đây, trăng hãy đến kề môi
Cho tình tôi bên gối mộng đầy vơi
Cho ánh mắt thêm dại khờ, ngây ngất“
Thật tình tứ ngôn ngữ của tình yêu dù có hơi hướm nhục cảm. Tình như rất thật và có “xiết vòng tay đừng giây phút buông lơi” đấy, nhưng trăng vẫn chưa đến, dù người thơ đã sẵn sàng, đành cứ mãi chờ. Một mời gọi thật nữ tính, thật quyến rũ. Đến câu cuối mới biết là mộng!
Sương Mai đến với trăng vì nhà thơ muốn có trăng trong cuộc sống, để nhà thơ ca tụng tình yêu. Tình yêu ở đây là một kiếm tìm không ngừng, không bao giờ thỏa mãn! Thật vậy, tình yêu trùm khắp cả tập thơ, tình yêu ở cả bốn mùa, hết mọi ngày tháng và hết mọi thời khắc của ngày lẫn đêm. Tình yêu đã như men, một thứ men tình, có sẵn nơi người đa cảm, vì trong thơ Sương Mai không có rượu, men ngoại nếu có là men cà phê trong nhiều hoàn cảnh, buổi sáng: “Ly cà phê đắng sáng nay / Hình như pha chút tỉnh ai ngọt ngào” (Ly Cà Phê Buổi Sáng), hay buổi chiều: “Ly cà phê thật đằm thắm hương yêu / Ngồi nhìn nhau trong êm ả buổi chiều...” (Nếu).
Thiên nhiên cũng thay đổi theo cảm tính con người: “… Phượng tím bây giờ lại trổ bông / Ngày xưa phượng tím sắc pha hồng / Phượng nay ủ rủ màu xanh tím / Phượng nở sao tôi nát cõi lòng?” (Phượng Tím Năm Nay). Có thất tình thì cũng có những phản ứng ngược, hết yêu thì cũng có thể lạnh lùng khi cần: “… Thưa ông, tình có đâu nhiều? / Tôi đem hoang phí bấy nhiêu đủ rồi / Chào ông, tôi nhún vai. Cười / Chúc ông vui mãi với đời… bướm ong” (Chào Ông). Lạnh lùng một cách khô cứng khi người cũ gọi điện thoại, mới đó đã ra người xa lạ: “… Dạ thưa ông, hãy im đi đừng nói / Ông đã lầm, tôi không phải người xưa / Ông làm ơn đừng lên tiếng phân bua / Đừng nói nữa thưa ông, ông… lầm số!” (Lầm Số). Giận quá làm thơ lục bát bắt đầu bằng câu… tám và cố tình (!) sái luật bằng: “Bướm bay… kệ bướm, hoa nở… kệ hoa! / Bởi vì tôi giận người ta…” (tr. 209).
Trăng Mộng còn là thơ về quê hương, Cần Thơ, với những cảnh cũ như cây phượng vĩ (tr. 68), những cố nhân (tr. 95, 158), những tình xưa (tr. 99); nhưng với người đi xa thì cảnh nhẹ hơn người và người cũng nhẹ hơn tình yêu kiếm tìm! Sương Mai mãi đắm mê với tình, với thơ, nhưng nếu các bài trong tập Trăng Mộng được sắp xếp theo thời gian sáng tác thì càng về cuối tập, cảm xúc và thi hứng đằm thắm hơn! Tình yêu ở đây không là những non dại bồng bột của Nguyễn Tất Nhiên, cũng không bi đát như T.T. Kh. Trong Trăng Mộng, tình chín hơn, đa dạng mà cũng đa lời, lắm ví von, giả thử,… nhưng có cái tận tâm như mọi cuộc tình!
Sương Mai là một trong những người mới bước vào làng thơ hải ngoại nhưng đã liên tục và trung thành với thơ, một người có tình, có lòng với thơ.
Thảo Chi Bùi Mỹ Hoa (3-6 Nhâm Thìn, Cần Thơ – ) đã xuất bản Nhẹ Bước Vào Thơ (1999), Hoa Ô Môi (2000), Xin Cảm Ơn Thành Phố Có Anh (2001), và in chung với Hoa Văn Hoa Nở Đường Về (2022) và Đồi Lá (2023), …
“Đời muôn ngả dòng thơ tình còn đó
Lối đi về tim nhịp tiếng thơ yêu
Nắng soi nghiêng in đậm bước chân chiều
Thơ mãi mãi thương yêu từng con chữ”
(Bước Chân Sương)
“Cứ để chiều rơi, rơi vỡ vụn
Và mình lủi trốn giữa chiêm bao (…)
Anh ơi mình là bụi cát
Cuồng quay trong ngọn trốt nào
Ngoan đi nhé, nếu dặn hoài không được
Muời ngón tay em cắn nát cho xem” (Hoa Ô Môi)
Huệ Thu (Bùi Huệ Thu) có tập Lục Bát (1997), những bài thơ khởi từ ca dao và tình mẹ.
Tình yêu và nỗi nhớ là thế-giới của nhiều nhà thơ nữ như Dư Thị Diễm Buồn (Nỗi Lòng Người Em Nhỏ 1991, Một Thoáng Hương Xưa 1996), Tường Vi (Khoảng Trời Riêng, 1999), Nguyễn Thị Bích Xuân (Bao Giờ Em Quên 1994; Chàng 1996; Bây Giờ Em Vui 1998 và các tập truyện Trước Khi Mùa Xuân Đến, Mùa Xuân Châu Ngọc 2003) – riêng NTBX đưa nét tính dục vào thơ:
“… Lạ lùng vạn vật triền miên.
Hồn u ám chướng tới miền thịt da
Ngu ngơ tiếng réo gọi qua
Ban đêm trở chứng như ma cà rồng.
Nghiến từng lỗ hổng chân lông
Núm sen tròn múi dấu hồng ma trơi
Hậu cung vang những tiếng cười
Ðêm ma rắc lại trên người phấn tinh”
(Ma Trơi. Bây Giờ Em Vui, tr. 24)
*
Về phía các nhà thơ trẻ thời này, như tiếng thơ Trần Thái Vân trẻ nhưng đã vững vàng với Chiếc Bóng (1997). Tiếng thơ anh đúng ra là tiếng lòng chuyển tiếp, từ trong ra ngoài nước, những hình ảnh cũ pha lẫn chân trời và con người mới. Anh “định nghĩa thơ” như sau:
“Thật hư một cõi vô thường
Đời hư khó nhớ, đời thường dễ quên
Đời thường chuyện giả để bên
Đời hư chuyện thật trào lên thành bài” (tr. 88).
Với một số người sáng tác trẻ, chiến tranh vẫn còn đó như một kỷ niệm về người thân, như trong Trần Thái Vân:
“Anh đi từ độ đông năm ấy
Túi nặng, thân gầy, áo bạc vai
Cha đứng nhìn theo đưa tay vẫy
Quan san tiễn biệt vạn dặm dài
(…) Anh đã hai lần xa gia quyến
Xuân thì chưa quá tuổi đôi mươi
Mộ mẹ bên kia bờ vĩ tuyến
Khói hương lạnh lẽo vắng chân đồi
Cha khóc âm thầm tim tê tái
Nửa đêm vọng mắt ngóng chờ con
Bụi chuối bên nhà đau kết trái
Cha đau trong chờ đợi mỏi mòn
(…) Cha chờ cho đến ngày cỡi hạc
Suối vàng, thác bạc rụng thời gian
Một mảnh trăng xưa buồn đến nhạt
Mắt lão còn đâu ngóng mây ngàn
Anh chết vô danh không bia mộ
Không anh hùng, đại nghĩa xa xôi
Anh chết một người trai vô tội
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?” (Vô Danh)
Đi tìm chân trời mới còn có nhà thơ trẻ Nguyễn Phước Nguyên dưới ba bút hiệu NPN, Nguyễn Hiện Nghiệp và Từ Đông Nghị trình giới thưởng ngoạn thi tập Thơ (TGXB, 1997), ba tiếng thơ như ba khía cạnh của một nỗi lòng tuổi trẻ Việt-Nam ở hải ngoại hôm nay: Nguyễn Hiện Nghịệp cảm xúc con người nhỏ bé trong cõi âm dương / sắc không. Tình yêu người và vui sống chiếm nhiều chỗ trong thơ Từ Đông Nghị.
“Có phải bây giờ mùa hè
Nên em nghe thoáng tiếng ve rầu rầu
Trao nhau một tiếng thương đầu
Ngờ đâu, em hỡi … qua cầu gió bay (…).
Có phải thu đã về đây
Nên em nhớ những hàng cây khô cằn
Con tằm trong kén băn khoăn
Dưới cành khô, ẩn. Trở trăn. Giấc buồn…“
(Lục Bát Bốn Mùa, tr. 65).
Nguyễn Phước Nguyên với những cấu trúc và tình ý lạ, bất ngờ, như đau thương và tình yêu:
“Gió cuốn thu
tạnh mây,
ấm trăng.
Trần truồng buổi sáng soi hồ gương. Đọng.
Sương. / Mù.
Mơ hồ em. / Mơ hồ tôi.
Thánh thiện em trái cấm tình yêu nuốt vào tim
nuôi đời địa ngục.…”
(Trăng. Tranh và Thơ, tr. 130).
Đinh Trường Chinh họa sĩ và nhà thơ, đãin chungVực & Gió (VHNTLM, 1999). Trích bài Phố:
“đêm vào phố / phủ trùng sương
lấm lem trăng thoả
một mùa thu sang
đêm vào phố / chùng âm mưa
bàn chân dạt / lá vàng xưa
thổi về / bay cao / một chiều
Trên kia phố xá đìu hiu
Theo nhau bước xuống
ngày xiêu dáng,
sầu.” (Vực & Gió, tr. 170)
Bài Bố Cục:
“Chúng ta đang nói chuyện
trong bóng tối / đêm nay
Có người nằm, / người ngồi
& những hình người đi qua lại
Chúng ta: những biểu hiện,
dã thú / lịch sử gấp lại
mỗi ý tưởng mọc trên đầu ngọn tóc
Chúng ta chỉ còn nhìn thấy màu đen
trên khuôn mặt nhau
trong tư thế / bố cục khác
Cho đến khi
ánh sáng len vào
tất cả khuôn mặt
đều trang trở thành
bóng tối / của máu
Những ý tưởng chảy xuống,
Liên tục chảy xuống”
(Tuyển Tập Tiền Vệ, 2007, tr. 35-36).
Thường Quán (Nguyễn Tiên Hoàng, 1956, Đà Nẵng – ) từ Úc có Ngoài Giấc Ngũ (Văn Nghệ, 1990), Years, Elegy (Vagabond Press, 2012), Hải Đảo, Trở Lại (2017?).
“Những người khuất mặt
Đến lặng lẽ chào tôi trong đêm
Khoảng cách là những cuộc đời
Nở hoa hiền từ
Tím xanh tròng mắt dòng sông
Đôi bờ quán lữ / Mưa giăng / Tay tìm nhau
Chẳng thể sờ chạm
Giọt mưa không giọt mưa không
Rơi ngoài giấc ngủ
Trôi vào hun hút mùa đông
Những ao làng xám rủ
Núi đồi bia mộ lách lau
Gió bần bật bần bật / Trắng thổi về đâu
Lạc mất câu chào / Trời mây thiên cổ
Chẳng tìm ra nhau / Chẳng tìm ra nhau
Nến thắp trong đêm / Những lời than vọng”- 1-1989
(Ngoài Giấc Ngủ, Ngoài Giấc Ngủ)
“Có phải là tôi đang đi trên một cánh đồng rạ
hay một kẻ nào đang mơ thấy tôi bước đi
(…) Đứa trẻ nhỏ chạy xuống những bậc thềm
dưới thấp, nhà ga, những cụm xóm làng
chiếc tàu lửa chạy than
chở những người tự nguyện đầu hàng
và những người mang vết thương tự chuốc… “
(Bậc Thềm)
“Hiện ra một giếng sầu ký thác
Một bờ sông chạy đầu lắc lư
Bờm ngựa đỏ trăng hai búi cỏ
Nến tàn phơ phất lửa phần thư
Rồi hiện ra người đen nhánh tóc
Đi tìm nhặt nhạnh giữa đêm mù
Những trang cháy dở _hồn than khóc
Về gọi thơ lên đàn giải oan.
Hiện ra đàn trẻ thơ hồng ửng lồng đèn
Ôm sừng trăng non về trả đường tre ấm lửa
Bầy đom đóm bay vào ở giữa
Hồ ao trắng ngát độ nở sen.
Mở cửa thôn làng mở cửa
Hiện ra kiềng bạc áo nâu non
Oan khi gột sạch lòng son
Hiện ra ô cửa mây lành hiện ra”
(Hiện Ra, Ngoài Giấc Ngủ)
Trẻ còn có Song Vinh (Ngô Gia Thành) với tập Về Dưới Hiên Xưa (Văn Tuyển, 1999) và Hương Mơ (2004). Bài thơ sau thời điện toán với tựa dài “một trăm hăm bẩy / chấm mười ba / chấm bẩy/ chấm năm mươi (127.13.7.50)”:
“Em mang lòng điện toán
Anh xấp ngửa nhị phân
Những dấu chấm bây giờ
(trong thời đại này, trong thế kỷ này, trong thời điểm này)
không còn là kết thúc
mà là tiếp từ không gian này dẫn qua không gian khác
làm anh bơ phờ
chạy mệt nhoài trên màng lưới em giăng
Em mang lòng điện toán
Anh kẹt nỗi vô vàn
Từ trên xuống dưới từ dưới lên trên
đường dài vạn dặm tắt mở cuộc vui
quanh quỹ đạo tình lờ
(khi server anh đã lỡ
virus nở giữa kernel)
Em mang lòng điện toán
Anh mầm độc chờ ngày
một trăm hăm bẩy
chấm / mười ba
chấm / bẩy
chấm / năm mươi
anh vẫn nghĩ một ngày
em sẽ cho anh reboot
không phải để làm lại từ đầu
mà để thử xem có còn được như xưa”
Đặng Hiền (1958, Quảng Nam – ) sau Thơ Đặng Hiền (1994), có tập thơ thứ hai, Bài Hai Mươi (Houston TX: Văn Hoá, 1997), với tâm tình người trẻ hôm nay, nhiều tình yêu và quê hương đất nước nhưng dứt khoát không dấu vết quá khứ và chiến tranh. Ông nối tiếng với Bài Hai Mươi:
“Tôi ở đây có những ngày gió nóng
Một khoảng trời xanh bỗng nhớ vô cùng
Nhớ tóc mây bay nhớ chiều hanh nhẹ
Nhớ em về phơi áo giữa vườn xưa
Ðôi cánh tay em nắng vàng hôn khẽ
Hồn say nghiêng theo khóe môi cười
Nghe lá khô phai trên thềm mùa cũ
Dòng sông đời rồi mấy đoạn chia xa
Ở tuổi hai mươi yêu người vội vã
Tình qua nhanh như buổi xa người
Một nhánh sông trôi một lần ghé lại
Nụ hôn đầu nghe gió nóng vành tai
Tôi ở đây có những ngày buồn bã
Ngồi yên bên ngọn gió hát lưng chiều
Những chuyến xe lên dốc đời bỡ ngỡ
Bài hai mươi tôi viết tặng cho người…” (BHM, tr. 44-45).
Tình yêu và tuổi trẻ còn thể hiện trong nhiều thi bản, trong số có Mưa Ở Đà Nẵng:
“Cơn mưa buổi chiều mưa hoài không tạnh
Bước xuống đò về qua Hà Thân
Ngang qua nhả em lòng buồn rưng rức
Đầu dầm mưa, lòng cũng dầm mưa
Những ngày cuối năm mưa phùn gió bấc
Dòng sông Hàn nước đục, lục bình trôi
Bên kia phố có mắt hiền mộng mị
Nụ cười em tôi lặng lẽ đi tìm
Ngày em đi, tôi ngủ vùi không dậy
Nghe mưa bập bùng theo vết xe xa
Như nước đổ thương con đỏ xuôi ngược
Lòng tan hoang mưa lạnh rét đôi miền” (BHM, tr. 51).
Nguyễn Đăng Tuấn (1954, Hà Nội -) thuộc nhóm Làng Văn, chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại 2009-2011, đã xuất bản thi tập Dường Như Tôi Ngại Thốt Lời Yêu Em (Làng Văn 1999) – tập đa phần thơ tình, như bài Có Chút Gì Anh Cũng Như Em:
“có những đời xanh như cỏ rêu
xuôi theo suối lượn mãi ban chiều
tôi, con chim xoãi dòng thu muộn
hỏi lá phong chừng dấu hoang liêu
có những hồn xanh như bóng cây
lỡ như thu xám, trơ thân gầy
tôi, thân cổ thụ mùa lá rớt
còn chút bọng còn trống bủa vây
có những ngảy xanh như biển quanh
em, con sóng vỡ cuốn tình anh
cả ngàn bọt trắng nhoà xô cát
còn dấu ân tình xóa tim nhanh
có những buồn xanh như buồn tôi
bao năm quạnh quẽ bóng quê tồi
nhập ra thủy tận vùng thương nhớ
trải khắp chốn cùng mênh mang trôi” (tr. 64-65)
Nhà thơ Khế Iêm (1946-) của tạp chí Thơ, sau Lời Của Quá Khứ, in tiếp Dấu Quê (1997) gồm 3 phần Cấu trúc, Dấu quê và Ngục biếc: nhà thơ phải ra đi vì hình như còn có một chỗ để sẽ quay về.
Cao Đông Khánh xuất bản tập thi tuyển Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn gồm 15 chương thơ sáng tác từ 1976 đến 1996 theo biến chuyển của các biến cố liên hệ đến Việt-Nam. Như một chuyện dài một người Việt ở những năm cuối một thế kỷ. Tập thơ nhiều thể loại, từ lục bát đến thơ văn xuôi, canh tân ở dụng thanh âm và ngôn từ sử-dụng của một Nam kỳ Lục tỉnh bình dân nhưng có khi phù thủy khiến mạnh mẽ như nước sông Cửu Long trước khi đổ ra biển : thơ viết để được đọc lên và được nghe. “Sàigòn, Khánh Hội gió trai lơ / khi ấy còn tơ gái núi về / đào kép cải lương say tứ chiến / Ngã Tư Quốc Tế đứng xàng xê / gánh nước nặng hơn vác thánh giá …” (tr. 56).
Phạm Việt Cường (21-11-1952, Sài Gòn -) định cư tại California từ 1986. Cộng tác với nhiều tạp chí văn chương hải ngoại và trong nhóm chủ trương các tạp chí Thời Nay, Hợp Lưu và Thơ cùng tổng thư ký tập san Triết (San Jose, CA). Ông tự do với Sớm Mai Biển:
“thanh hương nồng mướt gối
mê yêu
rượn rạo lũ hoa bỏ quên
thơm thanh đêm ngoài
túy lúy môi cố tìm môi xưa biết
thế giới là chiếc giường
cốc rượu lưng
mẩu thuốc tàn ngùi lạnh
trái táo đã cắn
cổ điên bầm dấu răng bất chợt
hôn dữ
ngọn nến chao chớt một mình suốt đêm
ngút nốt hửng sáng
chiếc màn cửa rũ che
một bình minh / kiệt sức
buông ngã vào nhau bất chợt
nửa chừng / câu nói
để dành vang lên trong những đêm khác
xa / sau
liều lĩnh thản nhiên
chim biển tìm mồi
bên chân du khách
cơn say nối dài tê dại
chưa ai muốn nhìn vào lòng mình
lúc ấy
cũng không còn nhớ mùa gì
mà gió thốc buốt
những đợt sóng sớm mai
dào dạt / mãi”.
Bài Trôi Đi Cùng Tháng Chạp trong thi tập cùng tên:
“Ngỡ thấy trong mơ một màu nắng lạ,
Hoa nở thanh xuân vang bóng những mùa.
Trăng lạnh nửa đêm. Tàn đông. Biệt xứ.
Bên kia đời, nắng ấm mái nhà xưa.
Vẫn sống thở em ơi – dù dòng sông về đâu,
Dù tháng năm theo nước cuốn chân cầu
Dù mộng ước đã ngả mầu kỷ niệm,
Từng trang thơ vàng úa giữa đời nhau.
Vẫn sống thở em ơi – lênh đênh triều thất lạc,
Mấy mùa hoa phai hết mộng bơ vơ.
Chợt đứng đó. Một góc trời. Hiu hắt.
Hồn mang mang gió thổi sang mùa.
Ngỡ thấy trong mơ những niềm vui êm dịu,
Mộng. Hoa. Thơ. Và tuổi trẻ xa xôi.
Bởi hạnh phúc và cuộc đời lỗi điệu,
Đêm dâng lên lấp mãi những chân trời.
Vẫn sống thở em ơi – dù hân hoan dù sầu khổ,
Nước mắt nào cũng riêng cõi tình ta.
Đời chia biệt. Những biển rừng thương nhớ
Mùa đông bềnh bồng tiếng hát ngùi xa.
Vẫn sông núi cao sâu trong tình kiên khổ
Mưa quê nhà lạnh ướt quãng đời không.
Đã nát tan rồi bao nhiêu giấc mộng.
Tháng chạp buồn. Nắng úa mênh mông…”
(TĐCTC, Trình Bày, 1993)
Họa sĩ Vũ Hối ra tuyển tập thơ lẫn với tranh họa Chiêm Bao Trở Giấc, lời nguyên thanh quá khứ của một tâm thành.
Dương Huệ Anh có Thơ tổng tập gồm 6 tập về cuộc đời, tuổi trẻ, tu trì và chiến tranh, đời lưu vong; một người làm thơ phong phú về số lượng.
Nguyễn Xuân Thiệp bắt đầu làm thơ từ thời 1954 nhưng ra đến hải-ngoại mới xuất-bản tập thơ đầu Tôi Cùng Gió Mùa (Westminster CA: Văn Học, 1998), gồm thơ trước và sau 1975, dài có 2 bài Ánh Trăng và Thảo Nguyên. Ở ông, độc-giả nhận ra nhiều không gian, Đà-Lạt và vùng đồi núi mộng mơ, rồi không gian của hoa cỏ, và một không gian thi ca độc đáo của riêng nhà thơ với chữ dùng của thơ, với hình ảnh và ngôn-ngữ ẩn dụ, gợi tích, với thời-gian không dễ phân biệt tách bạch và đây đó thơ ông như tẩm hương của hoa cỏ và những bóng dáng thân yêu một đời.
*
Các nhà thơ nổi tiếng trước 1975 nay tham gia sinh hoạt thời hải ngoại:
Song Hồ (Nguyễn Thanh Đàm, 8-8-1932 – 2002) xuất-bản tập thơ duy nhất ở hải-ngoại, Đá Và Hoa (1992), ngôn-ngữ thơ cô đọng, tinh tế và chưa chan tình nhất là đối với đất nước quê-hương, năm 2000 được dịch sang tiếng Anh Rock and Flower.
Duy Năng (Nguyễn Văn Trí, 25-1-1935, Nha Trang – 10-3-2002, Hoa Kỳ) ra ngoài nước đã xuất bản thi tập Dặm Nghìn (TGXB, 1998). Trích bài Rộn Ràng Xuân Dẫu Nơi Đây:
“Này xuân rộn rã làm gì
Với thân luân lạc từ khi cõi ngoài
Dặm nghìn cố quốc xa xôi
Những thao thức, những bồi hồi năm canh
Cánh chim từ buổi viễn hành
Hạc vàng lầu cũ, thôi đành một phương
Thôi đành một cõi mù sương
Nghiêng nghiêng lối dốc, hoa vườn Bích Câu
Mộng thơ từ một ý sầu
Tưởng như ngàn trước ngàn sau cuộc này
Nghe chim thủ thỉ vòm cây
Nghe ta trong nỗi riêng đầy vơi xuân
Dặm nghìn cố quận muôn trùng
Vẫn đang trăm họ tơ chùng phím lơi
Héo hon trên những nụ cười
Có đâu mà lạ giữa trời quê hương
Những lòng ly tán nhiễu nhương
Những hiu hắt mộng, những vàng vọt mơ
Những mong những ước những chờ
Sẽ thơm quá khứ về bờ tương lai
Bao nhiêu năm một chuỗi dài
Sắc hương thôi cũng u-hoài cỏ cây
Rộn ràng xuân dẫu nơi đây
Hồn ta vẫn tuyết sương ngày thu đông
Từ thân luân lạc nghìn trùng
“Đê đầu tư cố hương” lòng ngổn ngang”
– San Francisco, 3-1995
Cùng thế hệ có nhà thơ Triều Hoa Đại (Đỗ Xuân Nho, 194?, Nam Định -) với tập Dấu Huệ Hồng (1992) và Sông Tiễn Chân Đi (Nhân Ảnh, 2010).
Huy Trâm (1937- ) nhà thơ thẩm phán, sau 1975 bị tù “cải tạo” 7 năm, sau đó quản thúc thêm 3 năm. Định cư tại Hoa Kỳ năm 1991, sinh hoạt văn học và đã xuất bản các tuyển thơ Dòng Lệ Thơ Ngây (Orange, CA, 1992), Đồng Xanh (Orange, CA, 1993), Đi Vào Lòng Cuộc Đời (Orange, CA: Thời Điểm, 1997) và tập truyện Ngõ Hẹp Quanh Co (16 truyện ngắn; Thời Điểm, 1994).
Dòng Lệ Thơ Ngây là những kỷ niệm của một thời thơ ấu, nay trở về với nhiều tiếc nuối. Tập Đồng Xanh vẫn những kỷ niệm xen kẽ những bài thời khổ nạn sau biến cố năm 1975, như bài Đồng Xanh:
“Thôi về sống với đồng xanh
Một đời gió máu, mưa tanh đã nhiều
Nhân gian lòng có bao nhiêu?
Ban mai nhức nhối, buổi chiều khắt khe
Về đây đồng nội im nghe!
Gió qua mái lá thơ se giấc sầu
Trăng khuya ngả bóng hàng cau
Đồng quê hiền hậu trước sau một lòng (…)
Trông lên nhàn hạ bè mây
Thương đau, thì chính nơi này lắng êm” (ĐX, tr. 94, 95).
Bài Đêm Mưa Nhớ Người:
“Hai đêm mưa gió não nề
Mình tôi đối bóng-tư bề vắng không
Phố dài-mươi ngọn đèn chong
Thức cùng tôi-lạnh niềm trong nỗi ngoài
Thương thân bỗng xót xa người!
Bao năm sóng gió nổi trôi-phong trần
Đêm nay cũng lại một thân
Nghe mưa vỗ giấc-vơi phần khổ đau
Buồn mưa làm nhớ thương nhau”
Nhà văn Võ Phiến xuất bản tập Thơ Thẩn (1997) gồm thơ làm từ nhiều thập niên, ca tụng cuộc sống và con người, như văn liệu hơn là giá trị văn-chương, được nhắc đến vì tên tác-giả hơn là văn bản.
Thanh Thanh (Lê Xuân Nhuận) có tuyển thơ Cơn Ác Mộng (Thế Giới Mới, 1998).
Trần Hồng Châu cũng cảm nghiệm và sống cái hiện sinh lưu đày đó ngay giữa lòng phố của chính mình nay đổi chủ. Sau tạp bút Thành Phố Trong Hồi Tưởng (An Tiêm, 1991) là tập thơ Nửa Khuya Giấy Trắng (1992) trong có bài “Tháng Tư … Mưa Ngâu Dầm Dề” :
“… Ngã Sáu Sàigòn có những bộ lạc về từ rừng sâu tiền sử
Từ kinh tế mới âu sầu mất hướng
Trại lưu đầy dựng bên bờ đại lộ quê hương
Bên kim tự tháp rác rưởi trầm ngâm
Lửa hờn căm đốt sôi lòng nồi nhỏ
Sưởi ấm ruột gan rét cong giữa trưa hè
Bằng mấy hạt cơm trừu tượng
Bằng vài lời hứa … thiên đường trần gian
Áo quần tả tơi
Bướm say vào mắt bão
Thịt xương lở lói
Tranh lập thể mơ hồ (…)
Tôi đứng giữa Sàigòn hay vẫn còn trong chùa Ngọc hoàng
Ở đâu có những âm cung
Rợn tóc gáy sởn da gà
Đường xuống địa ngục khúc khuỷu
Đường lên dương thế quanh co
(…) Đêm Vu Lan đêm vô vọng
Trong mưa ngâu dầm dề
Mưa ngâu nhỏ lệ … tháng Tư
Trời hụt hẫng mười hai đau xót (…) (tr. 143)
Đến tập Nhớ Đất Thương Trời (1996), nhà thơ khoa trưởng tư duy chín mọng đi vào cái buồn triết lý, nhiều suy tư về hệ lụy làm người xa xứ.
Trong dòng thơ hoài niệm, có thể nói đến giáo sư Trần Trọng San với những tứ thơ đặc biệt. Bài Hải Âu Bên Thác Niagara Fall GS làm không lâu trước khi mất, như di chúc – mong tro cốt sẽ được thả xuống dòng sông Niagara và đã được như nguyện mong (14)
“Nếu như còn có kiếp mai sau
Tôi chỉ mong làm kiếp hải âu
Sống nhởn nhơ trên dòng thác nước
Nhìn thế gian chất ngất lo sầu
Làm sao cho bằng kiếp hải âu
Chẳng phải lo, phải nghĩ, phải sầu.
Thế gian ơi!
Vĩnh biệt mi trong kiếp mai sau.
Hải âu ơi!
Hẹn cùng mi ríu rít bên nhau”
(Làm trong mơ đêm 19-3-1998)
*
Những nhà thơ khác viết về chiến tranh, tình đồng đội, nhớ về chiến trường xưa có Hoàng Phong Linh (Võ Đại Tôn) với Tiếng Chim Bên Dòng Thác Chamy (1992). Trích đoạn 1 của bài thơ được dùng làm tựa thi tập này – viết để tưởng niệm cố chiến sĩ Vũ Hoài:
1. Em cứ nằm yên đấy / Bên dòng thác CHAMPY
Con đường chúng ta đi / Đã vô cùng gian khổ.
Dăm mảnh đá xanh rêu thành nấm mộ
Anh đắp lên cùng với cả tình anh.
Em đã đi qua bao thác bao ghềnh
Đường về quê nay trở thành tử lộ.
Dòng hoa trắng từ núi cao đang đổ
Xuống lòng khe cho mát tấm thân em.
Rồi từ đấy trong rừng vắng từng đêm
Hay mỗi sáng sương mờ ôm đỉnh núi
Trên cành gai vắt mình qua khe suối
Con chim buồn đứng hót tiếng cô đơn.
Tiếng chim nghe uất hờn
Lời chim tràn ai oán.
Dặm trường xa sao nửa đường đứt đoạn
Em thành chim trong tiếng hót Hoang Vu . . .”
Đỗ Bình sinh hoạt văn học nghệ thuật tại Pháp và đã xuất bản các thi tập Buồn Viễn Xứ (1992), Bóng Quê (1998). Ông nhiều năm cùng Câu Lạc Bộ Văn Hoá Việt Nam Paris ra công biên soạn các tổng tập Những Khuôn Mặt Văn Hoá Việt Nam Paris (2017. 610 tr.), Những Khuôn Mặt Văn Hoá Việt Nam Hải Ngoại (2022. 1110 tr.) với hơn 300 nhà văn hoá và văn nghệ sỹ hải ngoại. Trích bài Bọt Sóng:
“Như pho tượng / Đượm nét buồn thế kỷ!
Đời chìm sâu / Những giai điệu tình si.
Tít mù khơi / loài chim nhỏ thiên di,
Vút tiếng hát / Từ xa xăm mộng mị,
Về biển xanh / Mang theo chút phù sa.
Sóng dìu em /Vào tận cõi thiên hà.
Em chấc lạnh / Nơi hành tinh băng giá?
Chiếc tàn y / Sao đủ ấm làn da!
Trời hoàng hôn / Sóng nhấp nhô trắng xóa,
Mắt em buồn / Màu cỏ úa xót xa!
Ôi giai nhân / Trong đáy nước dạt dòa,
Em trôi mất / Mảnh thuyền xưa mục rã!
Hoặc Lưu Nguyễn (Nguyễn Thế Nghiệp) với Tri Âm (1990) rồi Ngày Qua Rất Vội (1993):
“… Ta với nó vẫn trên cùng đất nước
mà mấy năm không gặp gỡ một lần
từng cánh thư đi, từng cánh thư về, bao lần hẹn ước
khói lửa chiến trường cuốn hút nỗi chờ mong
Rồi đất nước trong nỗi sầu tang tóc
tháng tư nhục nhằn, một chín bảy lăm
nó nhìn ta đôi mắt buồn muốn khóc
trước mũi súng thù hai đứa vẫn lặng câm…”
(Tri Âm, Gửi Bạn Bè Còn Ở Lại)
Nghiêu Minh có Trăng Mật (Rockville MD: Phù Viên, 1992), Dấu Xưa (Sông Thu, 1996). Trích bài Mắt Đá:
“Tôi con mắt nhắm vô thường
nợ nần, lương giáo, cũng tương đương người
một mai làm cỏ sân chơi
cát bụi con trốt quấn đời phù sinh
Tôi trơ con mắt lặng thinh
ông qua bà lại lấy tình mà trêu
ví dầu chẵn, lẻ ít nhiều
trăm năm cũng lạc hồn phiêu diêu ngoài
Thẫn thờ con mắt cả hai
trông em tiêu cực nhớ hoài ngàn năm
em qua, chẳng dám nhìn gần
sợ rớt con mắt xuống gầm cầu sen
Tôi trừng đôi mắt ngày đêm
Dòng thơ nhìn thẳng nhìn nghiêng chưa nhòa
Chợt tâm dao động quỉ ma
Trong đôi mắt đá cẩn hoa đợi chờ”.
Phạm Ngọc (Phạm Ngọc Nghĩa, 1954, Thái Bình – ), còn ký Phạm An Nhiên, Vọng Âm, Nguyễn Khởi Nguyên. Định cư tại Hoa-Kỳ năm 1975. Cùng bằng hữu sáng lập và chủ biên tạp chí Văn Tuyển (1998 – 2000), chủ biên Nhà Magazine song ngữ phát hành tại California (2003 – 9/2007), có thơ đăng trên nhiều báo chí tại hải ngọai cũng như trên liên mạng. Đã xuất bản các tuyển thơ: Nỗi Đam Mê Muộn Màng (1998 ); Tình Cờ (Văn Tuyển, 2000); Tình Yêu Em Chưa Đủ Tuổi Nên Buồn (Văn Tuyển, 2003); Mùa Khát Vọng (Đà Nẵng, 2004); Cho Những Ngày Mưa Xa (2009),… cũng như chung với Nam Giao (Vùng Ký Ức, 1997). Trích thơ, bài Giai Điệu Buồn, ghi dấu cuộc tình và nơi chốn địa danh Paris vang vọng – ngoài bài này còn có những Chào Paris Mùa Trăng Còn Rất Trẻ, Nỗi Niềm, …:
“Mùa thu về giữa Paris
con đường thênh thang những lá
cơn mưa bỏ quên mùa hạ
tháng mười khoác áo vàng hoa
Paris vừa mới hôm qua
bây giờ đã thành nỗi nhớ
bước chân gọi thầm góc phố
chiều thơm hương phấn hẹn hò
Vẫn dài những chuyến metro
tiếng cười xôn xao ký ức
mắt em một trời mơ ước
mai rồi đời có tìm nhau
Tháng mười nhoà nhạt mưa mau
nỗi buồn càng thêm giai điệu
hát vang thành phiên khúc nhớ
Paris vừa mới hôm qua….”
Dụ Ngôn Mùa Thu, tiếp nối dòng thơ tình:
“Này mùa thu và những chiếc lá
chiếc lá vàng của ngày hôm qua
hôm qua buổi chiều có nắng hôn mềm lên tóc
tóc em bay năm tháng chẳng nuông chiều
nuông chiều là bàn tay của mẹ
mẹ của tuổi thơ ngồi hát một mình
một mình em bây giờ hát cho anh
anh cũng xa mà mẹ cũng chẳng gần
gần gủi lắm là niềm đau thế kỷ
thế kỷ của em còn lại gì? Hạnh phúc? Yêu thương?
yêu thương của em là hai bàn tay trắng
trắng như mây, mây thì quá mong manh
mong manh em có bao giờ giữ được
được riêng em nguyên cả nỗi buồn
buồn hơn khúc dạo đàn trong đêm lạnh vắng
vắng bóng người giữa phố lặng im
lặng im, lặng im lời dụ ngôn xưa cũ
cũ như chuyện tình mình, cũ như tình yêu em
em cứ lần đi theo từng kỷ niệm
kỷ niệm dẫu già nua nhưng vẫn nhiệm màu
nhiệm màu như tình yêu anh
anh của một thời bất diệt
bất diệt như giọt sương
giọt sương mang cho em bình minh buổi sáng
buổi sáng của những ngày còn nhau
còn nhau giữa dịu mềm thương nhớ
nhớ không anh hay đã bay vào cơn gió
cơn gió của mùa Thu và những chiếc lá muôn màu
màu sắc của cô đơn
cô đơn như loài chim bay giữa hoàng hôn tím biếc
tím biếc những giấc mơ
giấc mơ về anh và bài dụ ngôn mùa Thu
mùa Thu / riêng em….”
Cuối cùng, bài Dư Âm, với những hồi tưởng qua bốn mùa:
“Những chiếc lá không còn xanh biếc nữa
gió vươn mình trăn trở gọi mùa thu
hạ xa rồi ai tiếc thuở xa xưa
em vẫn đợi phiá bên này nỗi nhớ
Một chuyện tình bao nhiêu lần tan vỡ
một chuyến tàu hụt hẫng mấy sân ga
kỷ niệm buồn năm tháng vẫn trôi xa
tình yêu đó cũng đau lòng câu hát
Nơi em đi, những bến bờ xa lắc
những trạm ngừng, từng góc phố không tên
những con đường, em chẳng biết lạ / quen
chỉ nhìn thấy bốn mùa cơn mưa lũ
Những cơn mưa hát hoài giai điệu cũ
em mệt nhoài cùng năm tháng không anh
biết làm sao gạ gẫm trái tim mình
để quên hết những ngọt ngào / cay đắng
Những nỗi buồn vẫn theo em thầm lặng
mà niềm vui thì lại quá xa xôi
những cơn đau thì cứ mãi gọi mời
chở em qua những tháng ngày cô quạnh
Chẳng ai biết niềm khát khao tẻ lạnh
bao năm rồi thành dấu hỏi trong em
cơn mưa về làm tỉnh giấc nửa đêm
mưa hồn nhiên hát hoài giai điệu cũ
Rót vào đêm đến muôn ngàn mảnh vỡ
rơi vào hồn vọng mãi những dư âm…”
Trấn Vấn Lệ (Trần Trung Tá, 1940-), còn ký Trần Trung Thuần, nhà thơ thuộc loại xuất hiện nhiều, xuất bản nhiều và bài thường dài câu. Đã xuất-bản: Bay Về Đâu Đó Ở Quê Hương (San Jose CA: Khánh Hà, 1992), Hồn Tan Trong Thơ (Khánh Hà, 1993), Nắng Rớt Vườn Xuân (1995), Gửi Em Một Đóa Hoa Hồng (1998), Gửi Bạn Mừng Xuân Người (1999), Hỏi Sao Không Buồn Cho Được (CA: Người Tàu, 2000),…
Nhà thơ Luân Hoán sáng-tác đều đặn, và xuất-bản liên tục giai đoạn này: Mời Em Lên Ngựa (Sông Thu, 1994); Nuôi Thơm Chùm Kỷ Niệm Xanh (1995) và Cỏ Hoa Gối Đầu (1997), tập thơ thứ 17.
Du Tử Lê cũng là một trong những nhà làm thơ liên tục suốt thời hải-ngoại, năm 1997 xuất bản tập thơ song ngữ Chỉ Như Mặt Khác Tấm Gương Soi / Reflexion in the Looking Glass.
Trần Huy Sao (1947, Đà Lạt – ) định cư tại San Diego CA năm 1994 và đã xuất bản các thi phẩm Hồn Á Đông (1994), Nhánh Rong Phiêu (1999), Chỉ Còn Thơ Ở Lại (2002) và tuyển thơ văn Xóm Đình Đa Cát (2000). Thơ Trần Huy Sao nhiều hình ảnh và hương vị quê hương, người xưa và những thâm tình:
“em về bông Cải bông Cau
vườn xưa năm tháng dãi dầu nắng mưa
anh từ khăn gói gió đưa
phương trời cô quạnh cũng vừa nhớ thương
tấc lòng để lại cố hương
còn bông Bưởi còn vương hương Nhài
vốn tình con nước chia hai
ngọt câu ví dặm qua-cầu-gió-bay
một đời phiêu bạt phong trần
nước non ngàn dặm nỗi sầu đa mang
đắng cay chi mấy không màng
chỉ thương đám Cải hoa vàng gió lay….” – 1995
(Nhánh Rong Phiêu, Vườn Xưa Hoa Cải)
Hương vị quê nhà đã có Trà La Ba:
“Ở rể nhà em tính đã nhiều năm
Uống trà La Ba nên chi ngọt giọng
Lời nói vụng về nhờ hương trà đậm
Nên Ba, Mạ em cũng tạm hài lòng
Anh biết em cũng đẹp dạ vui lòng
Khi thấy anh đã lệ-làng-phép-nước
Cánh chim bằng chịu bỏ trời lồng lộng
Con ngựa thảo nguyên chùn vó qui hồi
Phải đâu em! Vì thương Mạ, thương Ba
Thương tình em dành cho anh sâu đậm
Thương Mạ một mình bôn ba tần tảo
Thương Ba tuổi già nay ốm mai đau!
Mạ buôn chuyến, trà La Ba – Đàlạt
Mờ sớm đã đi tối mịt mới về
Nhà đơn chiếc chỉ mình em là gái
Anh phải đỡ đần cho Mạ thay em
Trà La Ba ! Anh nhớ trà La Ba
Có nước mắt mồ hôi Mạ dồn vô đó
Có chén cơm lưng chia năm xẻ bảy
Có tháng ngày chung chịu những vui buồn!
Để sáng nay uống tách trà La Ba
Sao nhớ quá, dáng Mẹ già vất vả
Chiếc áo len sờn khuỷu tay, nâu bạc
Điếu thuốc sâu kèn…đôi dép sứt quai…” (15).
Thái Thụy Vy (Đỗ Khoa Luật, 29-10-1940, Biên Hoà – 9-2-2014) xuất-bản nhiều tập thơ: Nụ Hôn Loài Lan Tím Dại (Sông Phố, 1992), Vũ Điệu Loài Lan Tím Hoang (1994), Hoa Tím Niềm Riêng (1995) và Mặt Trời, Lá Và Em (1996), Âm Sắc Thời Gian (1999) – chủ yếu là thơ tình; chữ dùng có khi của thường ngày, bình dân. [Ông còn có tập tạp bút Đêm Nghe Lục Bình Trôi (2012) và biên-khảo Cho Cuộc Đời Thường (2000), Biên Hùng Liệt Sử (Tempe AZ: Sông Phố, 2001, 2004) viết về lịch sử và danh nhân Biên Hoà].
Trần Văn Nam có tập Một Đêm Cho Thơ (“tình và âm nhạc”, NXB Đời, 1992) thơ kèm nhạc phổ. [Sau khi ông mất, năm 2019 gia đình và bạn hữu ông cho xuất bản tập Bốn Mươi Bốn Bài Thơ Tuyển gồm các thi-phẩm đã đăng trong các tạp chí trước 1975 ở Sài Gòn (Văn, Nghệ Thuật) và sau 1975 – hầu hết các báo ở Nam California: Khởi Hành, Việt Báo, Người Việt, Thế Kỷ 21, Tân Văn, cùng Thư Quán Bản Thảo, Quán Văn,… Phần đầu gồm 39 bài thơ tùy-hứng; phần sau gồm 5 bài thơ với chủ đề Vật-lý Thiên-văn Vũ-trụ].
Quan Dương với Ngậm Ngùi (1996) những hoài niệm thời chiến trận, những đau khổ thời cải tạo và ở trại tị nạn:
“Chiều loang lở bên dòng suối đục
Rửa bộ xương nặng nợ tiền khiên
Có con bướm bay ngang bắt gặp
Bốn mắt nhìn thờ thẫn không tên”
Yên Sơn (Trương Nguyên Thuận, 6-3-1950-) có Cho Quê-Hương, Tôi và Tình-Yêu (San Jose CA, 1998), Một Đời Thương Tiếc (2002),… Nhà thơ “tự thán” với bài Thao Thức:
“Tôi có ba đứa con đều chào đời ở Mỹ quốc,
mang ba cái tên đầy hoài vọng, quyết tâm.
giữa chốn thị phi tôi vẫn kiên nhẫn, âm thầm
đem nhiệt huyết
và tấm lòng thành những mong phục vụ.
trong thao thức tôi biết rằng vẫn chưa tròn, chưa đủ
nên mãi tự hỏi lòng
biết có làm được gì cho thế hệ mai sau?
hay cho đến cuối đời cũng chỉ có niềm đau
của kẻ thua cuộc phải sống xa lìa quê hương gấm vóc.
hai mươi năm rồi với bao mối âu lo trằn trọc
một thời chiến đấu ngang trời
để chỉ còn là những kỷ niệm như mơ
để chỉ còn nặn óc viết thành thơ
và những hoài bão dở dang
hay những xót xa thân phận?!
hơn hai mươi năm sống trên xứ sở người
tôi vẫn không thể nào ghi nhận
đất nước này thay thế được quê hương.
có lẽ tôi không tìm được
mái nhà tranh, khóm trúc, ngôi trường
cầu tre nhỏ dẫn vào thôn xóm nhỏ.
không tìm được con đường mòn
mà thuở còn thơ tôi thường đi bộ
theo mẹ đến trường mỗi sáng mù sương.
Cũng không tìm được những mái tranh nghèo,
những vườn khế ngọt thân thương;
và những ruộng cải ngập bướm vàng phấp phới.
không ngửi được hương thơm mùa lúa mới.
không nghe tiếng hát câu hò giả gạo dưới trăng.
ngần ấy thứ vẫn làm tôi thao thức, băn khoăn
nên trên xứ lạ hai mươi năm vẫn xót xa, hoài vọng” – 3-96 (Cho Quê Hương Tôi Và Tình Yêu, tr. 124-125 )
Hà Nguyên Du trong hai năm đã cho ra đời hai tập thơ, Lối Khác (Garden Grove CA: Tân Thư, 1998) và tập (anh biết, em yêu dấu) (Westminster CA: Tự Lực, 2001). Ông có vẻ làm khó người thưởng thức thơ với chữ dùng hiếm, bất ngờ, những cung nhạc đứt đoạn, những tình ý bỏ ngang,… nhưng cũng chính đó là nét đặc biệt của ông. Ông như cút bắt với thơ, thơ xuôi mà không xuôi, thơ mà như nói thường hay ca 6 câu, như phẫn nộ, đối thoại, giao tiếp,…. Những vần thơ nhịp nhàng hay trắc trở, tỏ tình hay oán trách. Ở hình thức, xuống hàng, vần bằng trắc, thanh bình thượng, cách ngắt câu, chơi chữ như tự điển xếp nhầm bộ, thanh. Tiềm thức ca dao nơi những dòng thơ thời Rap:
“qua sông nhớ những nhịp cầu
qua truông còn thấm nỗi đau nghiệt đời
qua đêm càng quí mặt trời, qua nhân gian thấy
tình người nổi bênh, qua đâu mà chẳng qua em?
qua muôn thách đố qua phiền lụy vây, qua ai qua
chùm vạ lây, qua non nước khốn qua đày khắc
lao, qua sông nhớ những nhịp cầu, qua thơ qua
với tầm dâu ngặt nghèo...” (Ca Dao Tôi)
Rõ thơ là chốn giải tỏa cuồng độ và lượng số của cuộc sống. Trong tình yêu nhục cảm tận cùng mọi ngõ ngách bản năng:
“cứ hôn anh / hỡi đôi môi thần hoả / chạy theo đôi tay thủy triều / cứ mặc tình mặc tình / tưởng như con hổ / xé gọn nai tơ / lúc đang đói / thân em như trái chín / tuyệt mộng / anh lữ khách đường trưa / hổn hển trống bụng / chắc hẳn không sợ phạm giới luật như thầy tu! / không nhịn trong cơn đói ngất!
Cứ quấn anh đi / quấn như trăn / bằng những đường cong giết người / mùi trái cấm như xạ hương ngộp
lạc cả hồn phách / đã mở cửa sinh… / cũng chính là cửa tử!…” (Hành Trình Điên, Mê)
Thơ sáng tạo từ con chữ, với ngôn ngữ, với một khả năng giao đối, với những tiềm ẩn, vô ngôn. Tại sao không đùa nghịch với con chữ?
“ký ức ký niệm / trí nhớ trí tri
lửa lòng lửa bỏng / tử sinh tử quỉ…” (Ký Ức)
“… quấn ta vòng lắm nuộc
? trặc trẹo ơi chi là…
trệch đường xe lửa chạy
trĩu trĩu cánh thê noa!” (Thê Noa)
nghe tình sao trục trặc không trơn tru tí nào!
“dụng tâm/ trác những thỏi nhám
ngón đảm ngón lược
rực tia tình yêu trên vách tối ngục
át tiếng trêu ngươi
nở hoa trên nhánh cành nhân ngãi
tích phật lũy chúa / ngã không ngã” (Ngã Không Ngã)
Vinh Hồ (Hồ Văn Thinh; 1948, Khánh Hoà – ). Định cư tại Hoa-Kỳ năm 1995 sau hơn 5 năm tù “cải tạo”. Nhập làng thơ với Thơ Vinh Hồ (Hội VAALA/Florida, 1999), ý tình hiện đại trong khuôn khổ cổ điển của thơ luật bên cạnh một số bài thơ tự-do.
Diễm Châu định cư ở Strasbourg (Lộ Trấn), Pháp, tháng 7-1983. Thơ Diễm Châu đã xuất bản sau 1975: Thơ Diễm Châu, Mười Bài ở Paris & Những Mảnh Rời (1999, tb 2000, 2001 và 2002), Việt Nam, Tổ Quốc và Em (thơ, 1969-1993) – tất cả do nhà Trình Bầy hải ngoại xuất bản, ngoài phần dịch thuật thi ca của ngoại quốc.
Tạ Tỵ với thi tập Mây Bay (1996) trong đó định hình lại hình ảnh kẻ thua cuộc :
“Ngọn đèn canh le lói
Con mắt lòa đêm sâu
Hồi kẻng khua rộn rã
Một đêm lại cúi đầu…”
(Nửa Đêm Thức Giấc)
Hay nói về mình trong Ta Để Lại:
“Ta để lại những gì cao đẹp nhất
Đã kết tinh bằng huyết lệ hồn ta
Nét vẽ siêu thần không bao giờ mất
Với sắc màu diễm tuyệt chẳng phai nhòa
Ta để lại bao dòng thơ diễm ảo
Như nước nguồn réo rắt tự triền cao
Nếu mai mốt gió về gây giông bão
Tiếng thơ buồn bay vút tới Trăng, Sao
Ta để lại từng lời văn óng chuốt
Dù chuyện đời muôn thuở vẫn bi thương
Trái tim héo và bàn tay giá buốt
Bút mực chênh vênh, tâm sự chán chường!
Ta để lại những ngày tù gian khổ
Những đêm dài đối diện với hư không
Mỗi miếng cơm là một dòng lệ đổ
Mỗi sát-na là một khắc hãi hùng
Ta để lại một cuộc tình dang dở
Bao năm rồi nước mắt vẫn chưa khô
Hình ảnh cũ đi về trong giấc mộng
Nơi xa kia, ai đợi với a chờ ?…
Ta để lại bạn bè nguyên vẹn đó
Chuyện vui buồn theo ngày tháng qua đi
Còn kể chi màu xanh hay sắc đỏ
Có nhớ thương nhau cũng chẳng ích gì!
Ta để lại một vùng trời rực rỡ
Một vườn đời rộn rã tiếng chim ca
Một bông lúa và cành hoa dang dở
Một kiếp người, cùng Họ, tên ta …” (Chiné, 1980)
Song Nhị xuất bản Tiếng Hờn Chiến Mã (Cội Nguồn, 1996, tb 2002) thơ về thời cải tạo và cuộc đời ngang trái.
Nguyễn Lý Tưởng ngoài các tập truyện Đàn Bướm Lạ Trong Vườn (1998); Thu Còn Vương Nắng (2000); Hai Thế Hệ (in chung với Phan Vỹ và Trần Quán Niệm), Ngày Trở Về (2009), còn xuất bản các tuyển thơ Theo Dấu Chân Chim (Việt và chữ Hán, 1996; thơ trước và sau 1975 và trong tù), Tình Khúc Mùa Xuân (2000), Vùng Hoang Tưởng (2009).
*
Một khuynh hướng thơ văn đấu tranh cho quyền làm người, đòi phá đổ bạo tàn, bàng bạc trong đa số các tác phẩm nhưng rõ nét hơn với Lê Bi (Hoàng Chính Nghĩa; 1949, Thái Bình – ) với Địa Chỉ Của Một Người (Tân Thư, 1996), Trần Trung Đạo với các tập Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười (1993) và Thao Thức (1996), v.v.
Lê Bi Chống Cưỡng Bức Hồi Hương Ở Hồng Kông:
“Bắn vào trại cấm này 40 trái đạn cay
Hàng trăm cảnh sát Hồng Kông lôi ra những người liều mình ở lại
Kẻ có quê hương, sao thà sống trong trại tù khóa trái
Những giọt lệ cay chắc gì vì khói đạn cay”
(Địa Chỉ Của Một Người, tr. 121)
Trần Trung Đạo chứng nhân buồn trước cái chết bi ai của một người lính già :
“Người lính già Việt-Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San Jose bụi bặm
Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm
Đến nơi đây chỉ để chết âm thầm
Không một phát súng chào
Không cả một người thân
Không ai nói với anh một lời tiễn biệt…”
(Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua)
Thơ đấu tranh ở Canada, có thể ghi nhận thêm Hải Triều (Lê Khắc Hai, còn ký Lê Khắc Anh Hào) với những tập thơ Đường Tổ Quốc 1988; Sỏi Đá Còn Hờn Cơn Quốc Biến 1990; Tự thuở vầng trăng vỡ cuối nguồn 1997; Đoạn Đường Lưu Vong 2004; Đêm Đợi Bình Minh 2012; Lục Bát Đen Thời đại Hồ Chí Minh 2013; Chinh Phụ Ngâm Khúc Việt Nam Cộng Hoà – thời binh lửa (Việt Nam, 2013), …
Ý Nga (Nguyễn Thị Nga, 1958-) với Góp Lửa (1997), Lục Bát Đấu Tranh (Anh Em, 2000), Trái Đắng Quê Nhà (2000), v.v.
Ở giai đoạn này không thể không ghi lại những tiếng nói của trí thức, của những người còn thao thức và tranh đấu cho người và nước Việt. Vài tựa sách:
– Tiếng Nói Dân Chủ Cho Việt Nam (Irvine CA: Saigon Press, 1992), của 15 nhân vật trong nước và 8 ở ngoài nước.
– Việt Nam Qua Lăng Kính 24 Nhân Vật Thời Đại (Culver City CA: Thời Luận, 1996) “được thực hiện bằng các bài phỏng vấn của Nguyễn Vạn Hùng” (tác giả hồi ký Vùng Đất Ngục Tù) trong số có các nhà văn nhà báo Võ Văn Ái, Ỷ Lan, Nhật Tiến, Lm. Nguyễn Hữu Lễ, … và các chính trị gia Trần Trung Dung, Phạm Duy Tuệ, David Kilgour, Stephen Young, James Webbs,…
Nguyễn Vy Khanh
………………….
Chú-thích:
13- NNN X. Người Việt Montréal, 6&7-1989.
14- X. Viên Linh. Khởi Hành số ra ngày 3-9-1998.
15- Trích từ Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca Việt-Nam Hải-Ngoại 1975-2000, tập 6, 2006, tr. 260-261.
[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 77-134]
* Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: giai đoạn phôi thai, 1975–1980
*Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: giai đoạn hình thành, 1980–1986
* Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển (Kỳ 1)
* Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển (Kỳ 2)
*Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển (Kỳ 3)
Không có nhận xét nào