Header Ads

  • Breaking News

    Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển

    Kỳ 4

    Tác giả: Nguyễn Vy Khanh

    13/8/2026

    GIAI ĐOẠN HOÀI NIỆM (1992-2000)

    Phạm Thị Hoài: Trong vòng hơn một năm (1995-1996), nhà văn Phạm Thị Hoài đã cho xuất bản hai tác phẩm và cả hai đều gây ít nhiều tiếng vang và phê bình ở trong cũng như ngoài nước. Ðó là tập truyện ngắn Man Nương và truyện vừa Marie Sến. Qua hai tác phẩm này, bà đã vẽ lại bức tranh xã hội Việt Nam hiện nay một cách sống động nhưng cũng châm biếm đến độ tàn nhẫn và vô tình hay cố ý, tác giả của chúng trở thành… đối nghịch với giới lãnh đạo văn nghệ và chính trị của bà. Đến năm 1999, thêm Chuyện Lão Tượng Phật Di Lặc Và Nàng Nậm Mây của Phạm Thị Hoài do nhà Văn Nghệ xuất bản tại Hoa Kỳ. Nậm Mây vừa là một truyện cổ tích cho trẻ con, mà lại mang ý nghĩa luận đề về thân phận con người. Nậm Mây biểu tượng của sự ngây thơ và trong trắng tâm hồn, là nậm rượu cổ, thuộc thời Mạc Mậu Hợp 1580, còn lão Di Lặc là tượng phật cười bằng gỗ xoan đực, cực quý, trong truyện có thể là “con” của thiên tài họ Trương, tác giả pho tượng Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay lừng danh của chùa Bút Tháp. Trôi nổi đến thời nay, Phật Di Lặc trở nên bất lực như con người – Phật cũng phải ký giấy xin được tự do tôn giáo. Di Lặc đầu thai trong một nước Việt tráo trở, bất lực không cứu nổi Nậm Mây và cũng không cứu nổi bản thân mình.

    Thái Quốc Mưu (1941, Kiến Hoà  -), chủ nhiệm báo Dân Việt vùng Atlanta GA, xuất bản tuyển tập thơ văn Gió Quyện Hương Đồng (Dân Việt, 1998), chuyện ở miền Nam lục tỉnh và những ký sự thời chiến tranh vừa qua.

    Nguyễn Thị Phong Dinh (còn ký Nguyễn Vĩnh Long, tên thật Nguyễn Ngọc Hoàng, 1953, Vĩnh Long – ), 1981 vượt biển và định cư ở Hoa-Kỳ. Trong tác phẩm đầu tay, Giữa Hai Mùa Gió (Văn Tuyển, 1999), đã sử dụng cảm quan hiện thực và phân tích tâm lý của Tây phương để diễn tả những tâm trạng của con người Đông phương và thiển nghĩ khá thành công, ít ra là đem lại nội dung và kỹ thuật mới cho văn chương hải ngoại. 10 truyện ngắn nhưng cùng chủ đề làm sườn cho một truyện dài nhân sinh với nhiều mảnh truyện cùng nhân vật xưng tên Dinh. Những mảnh đời sống ở xứ người, hội-nhập tích cực nhưng vẫn bị cuốn hút vào guồng máy tâm sinh lý không lối thoát, những kiếm tìm thỏa đáng cho những “cơn sốt sinh lý” không dễ đạt. Những cuộc tình tay ba tay tư, những tình đầu đời cuối đời, những khám phá đồng tính, buông xuôi, những dĩ lỡ, hối tiếc,…

    Những cơn lốc định mệnh đẩy đưa con người rời khỏi vùng đất nước Hậu giang sang đến xứ Mỹ mênh mông lòng người phức tạp, mà người đồng hương thì có khi tệ mạt dù lấy cớ phải hội-nhập hay phải này nọ. Dưới ngòi bút của NTPD, hội-nhập trở nên một phương tiện để con người sống lưu-vong khám phá bộ mặt thật của người thân, người tình và tình người. Nửa Màu Xanh Biển kể chuyện Dung theo gia đình đến Mỹ nhưng cha mẹ sớm ly dị vì cha “muốn tìm lấy cuộc sống thật của chính bản thân mình”. Mẹ Dung thuộc loại “khó tính” – có lý do, không thích đời sống và người bản xứ cũng như cộng đồng người đồng hương mà bà khép mọi cánh cửa cảm thông, và không muốn hai con gái lấy Mỹ. Dung cặp bồ với một chàng người Pakistan có bệnh “xuất tinh xón” hành hạ nhiều lần trong khi nàng chưa hề được “cảm thấy sướng ngất”, cô gái “nghi ngờ mọi giá trị tinh thần, sống chơi vơi giữa những dòng thác lũ của mộng mơ, sự nghiệp, tình yêu, hạnh phúc và tình dục đang lôi cuốn tuổi trẻ” (tr. 111). Dung gặp Ngôn, bà mẹ vui nhưng đến khi gặp, biết là con lai thì bà chủ trì ý không muốn con lấy Mỹ dù lai: “Dòng sông hạnh phúc đời bà đang lững lờ trôi ngược. Hạnh phúc đời tôi là dòng sông đang cuồn cuộn trôi xuôi” (tr. 113). Gặp mẹ nuôi của Ngôn, Dung mới biết anh chính là anh cùng mẹ khác cha với nàng – là con hoang của mẹ Dung ngày trước. Tất cả trở thành “cơn mộng dữ đang chôn kín những giác quan” của Dung.

    Giữa Hai Mùa Gió là chuyện thường thấy với những anh chàng “việt kiều” về Việt Nam “nổ” và đóng kịch đề tìm cách lấy vợ đưa sang Mỹ, bấy giờ trắng đen mới rạch ròi và thảm kịch xảy ra. Chuyện cô gái miền sông nước tên Thanh bị Tấn lừa, trở thành nô lệ tình dục cho hắn. Bỏ rơi Sơn, người yêu đầu đời, nay bơ vơ xứ người mới nghĩ đến anh sau khi vô tình nhận được thư, mảnh giấy “em sẽ để dành, như một báu vật, như một cẩm nang sẽ giúp em vượt qua mọi chông gai những ngày trước mặt. Như trong tôi giờ đây thiết tha hình ảnh của người đàn ông đang đứng cô đơn, lặng lẽ nhìn những vòng nước lan tròn trên mặt đầm sen, ở một nơi nào đó đợi chờ” (tr. 68).

    Sống hội nhập ở xứ người, và những kiếm tìm, buông thả sinh lý, … dưới ngòi bút NTPD lắm khi hài hước … đen. Cô gái tên Ngân “chiều” tên manager người Mỹ dùng đến cả chiêu “khẩu chiến” – “Không biết sục sạo bên dưới thế nào, hắn làm văng cả hàm răng giả dưới đùi tôi…” (Khung Mắt). Trong Nhánh Sông An Lành, Dinh được Tonya, cô gái Mễ làm chung, tâm sự mà cũng để biện minh việc dễ dãi tình dục: “Tình yêu và tình dục là hai mặt hoàn toàn khác nhau của cuộc sống. Sự sướng ngất của thể xác lúc làm tình, cuối cùng chỉ là phần nằm ở phía dưới, giữa háng. Chỉ có vậy, dứt khoát chỉ có vậy. Tình yêu thuộc về trái tim. Cái ‘sướng’ ở giữa háng bao giờ cũng thoáng chốc và luôn luôn nằm bên dưới của trái tim. Phân biệt được điều đó mày sẽ thấy cuộc sống thú vị và hạnh phúc lúc nào cũng trong lòng tay” (tr. 86). Nhưng Dinh không hề may mắn – khi làm vợ Thức bị anh ta “thô bạo” cứ tra hỏi “có sướng dữ hông. Tại sao không la lên”, cũng nhưkhi gặp Niệm, anh chàng người Huế sống với hai con mở tiệm ăn ở Mễ, tưởng đã tìm ra nhánh sông an lành nhưng vẫn không can đảm để lại phải “trở về nơi không có một dòng sông”.

    Sau Giữa Hai Mùa Gió, truyện và thơ ông ký Nguyễn Vĩnh Long, nhiều sáng tác vẫn nội dung những miền sông nước trong đó có quê nhà của ông, vẫn những phân tích tâm lý, quan sát hiện thực, tinh tế, vẫn cống hiến cho văn học những bức tranh truyền thần về một đất nước đa dạng, đầy hoa trái mà cũng nhiều tình huống đau thương, những phần số bất hạnh,… Nói chung, nếu Võ Kỳ Điền trội nổi ở miền Đông thì văn chương của Nguyễn Vĩnh Long / Nguyễn Thị Phong Dinh mang những đặc sắc miền Tây độc đáo của riêng ông.

    Nhà báo Hà Bỉnh Trung (1923 – 24-4-2012, Virginia), có các tập truyện ngắn Theo Nhịp Dòng Đời (1993), Rừng Thiêng (1994) và truyện dài Chỉ Hồng (1995).

    Nguyễn Ngọc Ngạn có Chính Khách (Làng Văn, 1992) viết về một xã hội bị nhiễm độc bởi cuộc chiến vừa qua và cái độc ăn ra đến hải ngoại. Cả hai là những bức tranh hiện thực có thể khiến người đọc xem cho biết nhưng người chống cộng đồng Việt quốc-gia sẽ hả hê xem như NNN đã xác nhận giùm “tiền đề” của người cộng-sản hoặc thân Cộng (13). Xóm Đạo (Tokyo: Tân Văn, 1998) là tiểu-thuyết đặc sắc của ông trong giai đoạn này, nêu vấn đề tôn giáo ở xã-hội Việt-Nam, đã trình bày đời sống và các sinh hoạt của những người công giáo ở một xóm đạo di cư sau 1954 ở miền Nam, vai trò của các chủ chăn, những liên hệ giữa các giáo dân và với người bên “lương”, tình yêu và ngăn trở giữa những người trẻ không đồng đạo, v.v. Các tác phẩm khác: Quay Trong Cơn Lốc (Làng Văn, 1994), Nắng Qua Phố Cũ (Văn Khoa 1996 tái-bản), Chút Ân Tình Mong Manh (Làng Văn, tb 1993), Dấu Chân Xưa (Làng Văn, 1994), Dòng Đời Lặng Lẽ (TGXB, 1998) và Bóng Người Dưới Trăng (Tân Văn, 2000).

    Ông là nhà văn thực tế nhất của văn đàn hải-ngoại, từ chống Cộng đến thói sống của người Việt ở hải-ngoại, và còn theo khuynh-hướng Âu Tây thính-thị và đáp ứng thực tại lão hoá của độc-giả: ông phát hành trên dưới 100 băng đọc truyện (truyện dài, truyện ngắn, truyện ma), và soạn kịch cho đại nhạc hội và kỹ nghệ băng dĩa.

    Trương Anh Thụy qua tiểu-thuyết trường thiên bộ ba (trilogy: Trạm Nghỉ Chân; Ma Lộ, Chuyển Mùa) truyện hư cấu tình yêu và liên hệ với những người sinh viên do chế độ cộng sản gửi đi du học. Tình yêu giữa những thành phần trên nguyên tắc đối đầu trong chiến tranh. Tuổi trẻ liên hệ gián tiếp của cuộc chiến vừa qua có thể sống cái tuổi trẻ của họ: theo tác giả lưỡng cực Quốc-Cộng có thể vượt được, nhằm xây dựng một tương lai có tình người, ít ra bắt đầu bằng tình yêu… Truyện viết “về Tuổi Trẻ, Cho Tuổi Trẻ, Vì Tuổi Trẻ”!

    *

    THI CA thời này vẫn là bộ môn phong phú nhưng luôn khó khăn về xuất-bản và tiêu thụ. Trước hết là các nhà thơ nữ:

    Nhà thơ Cao Mỵ Nhân sau thời “học tập”, ra đến hải-ngoại tiếp tục làm thơ xuất-bản nhiều tuyển tập :  Thơ Mỵ 2 (1997, tiếp tập 1 xuất-bản năm 1960), Áo Màu Xanh (Cỏ Thơm VA : 1999), Lãng Ðãng Vào Thu (2001), Đưa Người Tình Đi Tu (Cội Nguồn, 2001), Sau Cuộc Chiến (Cội Nguồn, 2003) mà tác-giả gọi là “hồi ký bằng thơ” về thời chiến-tranh Việt-Nam mà bà là nhân chứng và tham chiến với tư cách thiếu tá,… Ngoài ra bà còn tập ký sự văn-học Chốn Bụi Hồng (1, 1994), …

    Trích Tất Cả Là Sương Khói – ghi “Nhớ về danh ni tu sĩ Trí Hải (1938 – 2003)”:

    “Từ buổi tôi về thăm tịnh thất 
    Lòng buồn nhung nhớ một phương trời
    Trưa rằm Phật Đản, mưa lất phất
    Những áng thơ trầm mặc, vút khơi

    Câu chuyện dòng sông còn ám ảnh
    Tôi như …Tất Đạt, mãi băn khoăn
    Đi tìm chân lý mà so sánh
    Thì chẳng bao giờ gặp …vĩ nhân

    Hạnh ngộ sư cô một buổi trưa
    Áo người tu sĩ mầu sông mưa
    Càng thêm đơn lẻ, khi tôi biết 
    Cô rất an nhiên, rất …đại thừa

    Tu nghĩa là tu, không lý do
    Tại sao tôi lại phải ưu tư
    Khi dòng sông cũ trôi thầm lặng
    Hãy lắng tai nghe sóng dội bờ

    Trí tuệ bao la như biển rộng
    Nụ cười dung dị, mắt đăm chiêu
    Có chi tất cả trong đời sống
    Biến diễn qua cô thật mỹ miều

    Một đoá hồng nhung, đoá huệ vàng
    Đoá sen trắng tuyết, đoá đài trang
    Nơi cô, tất cả là sương khói 
    Thanh thản bên trời, sóng vọng vang…”

    (Trích Đưa Người Tình Đi Tu)

    Nguyễn Thị Thanh Bình đặc sắc với tập thơ Trốn Vào Giấc Mơ Em (1997) tình yêu muôn vẻ qua nhiều thể thơ khác nhau.

    Khánh Hà (Nguyễn Thị Khánh Hà, 1943-), một nhà thơ nữ định cư tại Na Uy xuất bản Cõi Thơ (Làng Văn, 1997), thơ buồn pha hy vọng về tình người và quê hương, và Ở Đây (2000).

    Sương Mai (Bùi Phụng Mai; sinh quán Cần Thơ) trong nhóm thành lập thi văn Cội Nguồn và có thơ in chung trong nhiều tuyển tập và các tạp-chí cũng như đã xuất bản: Thoảng Chút Hương Xưa (1996); Thơ Tình Sương Mai (1998); Trăng Mộng (1999),…

    Với Sương Mai, qua tập Trăng Mộng, trăng là người tình, là chính tình yêu. Nay chính miệng nhà thơ, một người nữ, tình tự với trăng. Trong bài Trăng Mộng mở đầu tập, nhà thơ ngỏ lời mời gọi trăng đến/vào để trao đổi tâm tình, mà tâm hồn thì đã rộng mở:

    Tôi ngả lưng chờ đợi đã lâu rồi
    Chăn gối lạnh cho đầy vơi nước mắt…”,
    “Hãy âu yếm, ôm choàng tôi thật chặt
    Tôi sẽ cười thật tình tứ với trăng
    Sẽ lả lơi không quyến rũ nào bằng
    Nghiêng tóc xõa, khỏa thân trần mộng mị...”,
    rồi “Tôi âu yếm hôn vầng trăng dấu ái
    Môi này đây, trăng hãy đến kề môi
    Cho tình tôi bên gối mộng đầy vơi
    Cho ánh mắt thêm dại khờ, ngây ngất

    Thật tình tứ ngôn ngữ của tình yêu dù có hơi hướm nhục cảm. Tình như rất thật và có “xiết vòng tay đừng giây phút buông lơi” đấy, nhưng trăng vẫn chưa đến, dù người thơ đã sẵn sàng, đành cứ mãi chờ. Một mời gọi thật nữ tính, thật quyến rũ. Đến câu cuối mới biết là mộng!

    Sương Mai đến với trăng vì nhà thơ muốn có trăng trong cuộc sống, để nhà thơ ca tụng tình yêu. Tình yêu ở đây là một kiếm tìm không ngừng, không bao giờ thỏa mãn! Thật vậy, tình yêu trùm khắp cả tập thơ, tình yêu ở cả bốn mùa, hết mọi ngày tháng và hết mọi thời khắc của ngày lẫn đêm. Tình yêu đã như men, một thứ men tình, có sẵn nơi người đa cảm, vì trong thơ Sương Mai không có rượu, men ngoại nếu có là men cà phê trong nhiều hoàn cảnh, buổi sáng: “Ly cà phê đắng sáng nay / Hình như pha chút tỉnh ai ngọt ngào” (Ly Cà Phê Buổi Sáng), hay buổi chiều: “Ly cà phê thật đằm thắm hương yêu / Ngồi nhìn nhau trong êm ả buổi chiều...” (Nếu).

    Thiên nhiên cũng thay đổi theo cảm tính con người: “… Phượng tím bây giờ lại trổ bông / Ngày xưa phượng tím sắc pha hồng / Phượng nay ủ rủ màu xanh tím / Phượng nở sao tôi nát cõi lòng?” (Phượng Tím Năm Nay). Có thất tình thì cũng có những phản ứng ngược, hết yêu thì cũng có thể lạnh lùng khi cần: “… Thưa ông, tình có đâu nhiều? / Tôi đem hoang phí bấy nhiêu đủ rồi / Chào ông, tôi nhún vai. Cười / Chúc ông vui mãi với đời… bướm ong” (Chào Ông). Lạnh lùng một cách khô cứng khi người cũ gọi điện thoại, mới đó đã ra người xa lạ: “… Dạ thưa ông, hãy im đi đừng nói / Ông đã lầm, tôi không phải người xưa / Ông làm ơn đừng lên tiếng phân bua / Đừng nói nữa thưa ông, ông… lầm số!” (Lầm Số). Giận quá làm thơ lục bát bắt đầu bằng câu… tám và cố tình (!) sái luật bằng: “Bướm bay… kệ bướm, hoa nở… kệ hoa! / Bởi vì tôi giận người ta…” (tr. 209).

    Trăng Mộng còn là thơ về quê hương, Cần Thơ, với những cảnh cũ như cây phượng vĩ (tr. 68), những cố nhân (tr. 95, 158), những tình xưa (tr. 99); nhưng với người đi xa thì cảnh nhẹ hơn người và người cũng nhẹ hơn tình yêu kiếm tìm! Sương Mai mãi đắm mê với tình, với thơ, nhưng nếu các bài trong tập Trăng Mộng được sắp xếp theo thời gian sáng tác thì càng về cuối tập, cảm xúc và thi hứng đằm thắm hơn! Tình yêu ở đây không là những non dại bồng bột của Nguyễn Tất Nhiên, cũng không bi đát như T.T. Kh. Trong Trăng Mộng, tình chín hơn, đa dạng mà cũng đa lời, lắm ví von, giả thử,… nhưng có cái tận tâm như mọi cuộc tình!

    Sương Mai là một trong những người mới bước vào làng thơ hải ngoại nhưng đã liên tục và trung thành với thơ, một người có tình, có lòng với thơ.

    Thảo Chi Bùi Mỹ Hoa (3-6 Nhâm Thìn, Cần Thơ – ) đã xuất bản Nhẹ Bước Vào Thơ (1999), Hoa Ô Môi (2000), Xin Cảm Ơn Thành Phố Có Anh (2001), và in chung với Hoa Văn Hoa Nở Đường Về  (2022)  Đồi Lá (2023), 

    “Đời muôn ngả dòng thơ tình còn đó
    Lối đi về tim nhịp tiếng thơ yêu
    Nắng soi nghiêng in đậm bước chân chiều
    Thơ mãi mãi thương yêu từng con chữ
    (Bước Chân Sương)

    Cứ để chiều rơi, rơi vỡ vụn
    Và mình lủi trốn giữa chiêm bao (…)
    Anh ơi mình là bụi cát
    Cuồng quay trong ngọn trốt nào

    Ngoan đi nhé, nếu dặn hoài không được
    Muời ngón tay em cắn nát cho xem” (Hoa Ô Môi)

    Huệ Thu (Bùi Huệ Thu) có tập Lục Bát (1997), những bài thơ khởi từ ca dao và tình mẹ.

    Tình yêu và nỗi nhớ là thế-giới của nhiều nhà thơ nữ như Dư Thị Diễm Buồn (Nỗi Lòng Người Em Nhỏ 1991, Một Thoáng Hương Xưa 1996), Tường Vi (Khoảng Trời Riêng, 1999), Nguyễn Thị Bích Xuân (Bao Giờ Em Quên 1994; Chàng 1996; Bây Giờ Em Vui 1998 và các tập truyện Trước Khi Mùa Xuân Đến, Mùa Xuân Châu Ngọc 2003) – riêng NTBX đưa nét tính dục vào thơ:

    “… Lạ lùng vạn vật triền miên.
    Hồn u ám chướng tới miền thịt da
    Ngu ngơ tiếng réo gọi qua
    Ban đêm trở chứng như ma cà rồng.

    Nghiến từng lỗ hổng chân lông
    Núm sen tròn múi dấu hồng ma trơi
    Hậu cung vang những tiếng cười
    Ðêm ma rắc lại trên người phấn tinh

    (Ma Trơi. Bây Giờ Em Vui, tr. 24)

    *

    Về phía các nhà thơ trẻ thời này, như tiếng thơ Trần Thái Vân trẻ nhưng đã vững vàng với Chiếc Bóng (1997). Tiếng thơ anh đúng ra là tiếng lòng chuyển tiếp, từ trong ra ngoài nước, những hình ảnh cũ pha lẫn chân trời và con người mới. Anh “định nghĩa thơ” như sau:

    Thật hư một cõi vô thường
    Đời hư khó nhớ, đời thường dễ quên
    Đời thường chuyện giả để bên
    Đời hư chuyện thật trào lên thành bài” (tr. 88).

    Với một số người sáng tác trẻ, chiến tranh vẫn còn đó như một kỷ niệm về người thân, như trong Trần Thái Vân:

    “Anh đi từ độ đông năm ấy
    Túi nặng, thân gầy, áo bạc vai
    Cha đứng nhìn theo đưa tay vẫy
    Quan san tiễn biệt vạn dặm dài
    (…) Anh đã hai lần xa gia quyến
    Xuân thì chưa quá tuổi đôi mươi
    Mộ mẹ bên kia bờ vĩ tuyến
    Khói hương lạnh lẽo vắng chân đồi
    Cha khóc âm thầm tim tê tái
    Nửa đêm vọng mắt ngóng chờ con
    Bụi chuối bên nhà đau kết trái
    Cha đau trong chờ đợi mỏi mòn
    (…) Cha chờ cho đến ngày cỡi hạc
    Suối vàng, thác bạc rụng thời gian
    Một mảnh trăng xưa buồn đến nhạt
    Mắt lão còn đâu ngóng mây ngàn
    Anh chết vô danh không bia mộ
    Không anh hùng, đại nghĩa xa xôi
    Anh chết một người trai vô tội
    Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?” (Vô Danh)

    Đi tìm chân trời mới còn có nhà thơ trẻ Nguyễn Phước Nguyên dưới ba bút hiệu NPN, Nguyễn Hiện Nghiệp và Từ Đông Nghị trình giới thưởng ngoạn thi tập Thơ (TGXB, 1997), ba tiếng thơ như ba khía cạnh của một nỗi lòng tuổi trẻ Việt-Nam ở hải ngoại hôm nay: Nguyễn Hiện Nghịệp cảm xúc con người nhỏ bé trong cõi âm dương / sắc không. Tình yêu người và vui sống chiếm nhiều chỗ trong thơ Từ Đông Nghị.

    “Có phải bây giờ mùa hè
    Nên em nghe thoáng tiếng ve rầu rầu
    Trao nhau một tiếng thương đầu
    Ngờ đâu, em hỡi … qua cầu gió bay (…).
    Có phải thu đã về đây
    Nên em nhớ những hàng cây khô cằn
    Con tằm trong kén băn khoăn
    Dưới cành khô, ẩn. Trở trăn. Giấc buồn…
    (Lục Bát Bốn Mùa, tr. 65).

    Nguyễn Phước Nguyên với những cấu trúc và tình ý lạ, bất ngờ, như đau thương và tình yêu:

    Gió cuốn thu
    tạnh mây,
    ấm trăng.
    Trần truồng buổi sáng soi hồ gương. Đọng.
    Sương. / Mù.
    Mơ hồ em. / Mơ hồ tôi.
    Thánh thiện em trái cấm tình yêu nuốt vào tim
                        nuôi đời địa ngục.…”

    (Trăng. Tranh và Thơ, tr. 130).

    Đinh Trường Chinh họa sĩ và nhà thơ, đãin chungVực & Gió (VHNTLM, 1999). Trích bài Phố:

    “đêm vào phố / phủ trùng sương
    lấm lem trăng thoả
    một mùa thu sang
    đêm vào phố / chùng âm mưa
    bàn chân dạt / lá vàng xưa
    thổi về / bay cao / một chiều
    Trên kia phố xá đìu hiu
    Theo nhau bước xuống
    ngày xiêu dáng,
    sầu.” (Vực & Gió, tr. 170)

    Bài Bố Cục:

    Chúng ta đang nói chuyện
    trong bóng tối / đêm nay
              Có người nằm, / người ngồi
    & những hình người đi qua lại
              Chúng ta: những biểu hiện,
    dã thú / lịch sử gấp lại
    mỗi ý tưởng mọc trên đầu ngọn tóc
              Chúng ta chỉ còn nhìn thấy màu đen
    trên khuôn mặt nhau
    trong tư thế / bố cục khác
              Cho đến khi
    ánh sáng len vào
    tất cả khuôn mặt
    đều trang trở thành
    bóng tối  / của máu
              Những ý tưởng chảy xuống,
    Liên tục chảy xuống”
    (Tuyển Tập Tiền Vệ, 2007, tr. 35-36).

    Thường Quán (Nguyễn Tiên Hoàng, 1956, Đà Nẵng – ) từ Úc có Ngoài Giấc Ngũ (Văn Nghệ, 1990), Years, Elegy (Vagabond Press, 2012), Hải Đảo, Trở Lại (2017?).

    Những người khuất mặt
    Đến lặng lẽ chào tôi trong đêm
    Khoảng cách là những cuộc đời
    Nở hoa hiền từ
    Tím xanh tròng mắt dòng sông
    Đôi bờ quán lữ / Mưa giăng / Tay tìm nhau
    Chẳng thể sờ chạm
    Giọt mưa không giọt mưa không
    Rơi ngoài giấc ngủ
    Trôi vào hun hút mùa đông
    Những ao làng xám rủ
    Núi đồi bia mộ lách lau
    Gió bần bật bần bật / Trắng thổi về đâu
    Lạc mất câu chào / Trời mây thiên cổ
    Chẳng tìm ra nhau /  Chẳng tìm ra nhau
    Nến thắp trong đêm / Những lời than vọng”- 1-1989

     (Ngoài Giấc Ngủ, Ngoài Giấc Ngủ)

    Có phải là tôi đang đi trên một cánh đồng rạ
    hay một kẻ nào đang mơ thấy tôi bước đi
    (…) Đứa trẻ nhỏ chạy xuống những bậc thềm
    dưới thấp, nhà ga, những cụm xóm làng
    chiếc tàu lửa chạy than
    chở những người tự nguyện đầu hàng
    và những người mang vết thương tự chuốc… “

    (Bậc Thềm)

    Hiện ra một giếng sầu ký thác
    Một bờ sông chạy đầu lắc lư
    Bờm ngựa đỏ trăng hai búi cỏ
    Nến tàn phơ phất lửa phần thư
    Rồi hiện ra người đen nhánh tóc
    Đi tìm nhặt nhạnh giữa đêm mù
    Những trang cháy dở _hồn than khóc
    Về gọi thơ lên đàn giải oan.
    Hiện ra đàn trẻ thơ hồng ửng lồng đèn
    Ôm sừng trăng non về trả đường tre ấm lửa
    Bầy đom đóm bay vào ở giữa
    Hồ ao trắng ngát độ nở sen.
    Mở cửa thôn làng mở cửa
    Hiện ra kiềng bạc áo nâu non
    Oan khi gột sạch lòng son
    Hiện ra ô cửa mây lành hiện ra

    (Hiện Ra, Ngoài Giấc Ngủ)

    Trẻ còn có Song Vinh (Ngô Gia Thành) với tập Về Dưới Hiên Xưa (Văn Tuyển, 1999) và Hương Mơ (2004). Bài thơ sau thời điện toán với tựa dài “một trăm hăm bẩy / chấm mười ba /  chấm bẩy/ chấm năm mươi (127.13.7.50)”:

    “Em mang lòng điện toán
    Anh xấp ngửa nhị phân
              Những dấu chấm bây giờ
    (trong thời đại này, trong thế kỷ này, trong thời điểm này)
    không còn là kết thúc
    mà là tiếp từ không gian này dẫn qua không gian khác
    làm anh bơ phờ
    chạy mệt nhoài trên màng lưới em giăng

    Em mang lòng điện toán
    Anh kẹt nỗi vô vàn

    Từ trên xuống dưới từ dưới lên trên
    đường dài vạn dặm tắt mở cuộc vui
    quanh quỹ đạo tình lờ
    (khi server anh đã lỡ
    virus nở giữa kernel)

    Em mang lòng điện toán
    Anh mầm độc chờ ngày

    một trăm hăm bẩy
    chấm / mười ba
    chấm / bẩy
    chấm / năm mươi

    anh vẫn nghĩ một ngày
    em sẽ cho anh reboot
    không phải để làm lại từ đầu
    mà để thử xem có còn được như xưa”

    Đặng Hiền (1958, Quảng Nam – ) sau Thơ Đặng Hiền (1994), có tập thơ thứ hai, Bài Hai Mươi (Houston TX: Văn Hoá, 1997), với tâm tình người trẻ hôm nay, nhiều tình yêu và quê hương đất nước nhưng dứt khoát không dấu vết quá khứ và chiến tranh. Ông nối tiếng với Bài Hai Mươi:

    “Tôi ở đây có những ngày gió nóng
    Một khoảng trời xanh bỗng nhớ vô cùng
    Nhớ tóc mây bay nhớ chiều hanh nhẹ
    Nhớ em về phơi áo giữa vườn xưa

    Ðôi cánh tay em nắng vàng hôn khẽ
    Hồn say nghiêng theo khóe môi cười
    Nghe lá khô phai trên thềm mùa cũ
    Dòng sông đời rồi mấy đoạn chia xa

    Ở tuổi hai mươi yêu người vội vã
    Tình qua nhanh như buổi xa người
    Một nhánh sông trôi một lần ghé lại
    Nụ hôn đầu nghe gió nóng vành tai

    Tôi ở đây có những ngày buồn bã
    Ngồi yên bên ngọn gió hát lưng chiều
    Những chuyến xe lên dốc đời bỡ ngỡ
    Bài hai mươi tôi viết tặng cho người…” (BHM, tr. 44-45).

    Tình yêu và tuổi trẻ còn thể hiện trong nhiều thi bản, trong số có Mưa Ở Đà Nẵng:

    “Cơn mưa buổi chiều mưa hoài không tạnh
    Bước xuống đò về qua Hà Thân
    Ngang qua nhả em lòng buồn rưng rức
    Đầu dầm mưa, lòng cũng dầm mưa
      Những ngày cuối năm mưa phùn gió bấc
    Dòng sông Hàn nước đục, lục bình trôi
    Bên kia phố có mắt hiền mộng mị
    Nụ cười em tôi lặng lẽ đi tìm
      Ngày em đi, tôi ngủ vùi không dậy
    Nghe mưa bập bùng theo vết xe xa
    Như nước đổ thương con đỏ xuôi ngược
    Lòng tan hoang mưa lạnh rét đôi miền” (BHM, tr. 51).

    Nguyễn Đăng Tuấn (1954, Hà Nội -) thuộc nhóm Làng Văn, chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại 2009-2011, đã xuất bản thi tập Dường Như Tôi Ngại Thốt Lời Yêu Em (Làng Văn 1999) – tập đa phần thơ tình, như bài Có Chút Gì Anh Cũng Như Em:

              “có những đời xanh như cỏ rêu
    xuôi theo suối lượn mãi ban chiều
    tôi, con chim xoãi dòng thu muộn
    hỏi lá phong chừng dấu hoang liêu
              có những hồn xanh như bóng cây
    lỡ như thu xám, trơ thân gầy
    tôi, thân cổ thụ mùa lá rớt
    còn chút bọng còn trống bủa vây
    có những ngảy xanh như biển quanh
    em, con sóng vỡ cuốn tình anh
    cả ngàn bọt trắng nhoà xô cát
    còn dấu ân tình xóa tim nhanh
    có những buồn xanh như buồn tôi
    bao năm quạnh quẽ bóng quê tồi
    nhập ra thủy tận vùng thương nhớ
    trải khắp chốn cùng mênh mang trôi” (tr. 64-65)

    Nhà thơ Khế Iêm (1946-) của tạp chí Thơ, sau Lời Của Quá Khứ, in tiếp Dấu Quê (1997) gồm 3 phần Cấu trúc, Dấu quê và Ngục biếc: nhà thơ phải ra đi vì hình như còn có một chỗ để sẽ quay về.

    Cao Đông Khánh xuất bản tập thi tuyển Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn gồm 15 chương thơ sáng tác từ 1976 đến 1996 theo biến chuyển của các biến cố liên hệ đến Việt-Nam. Như một chuyện dài một người Việt ở những năm cuối một thế kỷ. Tập thơ nhiều thể loại, từ lục bát đến thơ văn xuôi, canh tân ở dụng thanh âm và ngôn từ sử-dụng của một Nam kỳ Lục tỉnh bình dân nhưng có khi phù thủy khiến mạnh mẽ như nước sông Cửu Long trước khi đổ ra biển : thơ viết để được đọc lên và được nghe. “Sàigòn, Khánh Hội gió trai lơ / khi ấy còn tơ gái núi về / đào kép cải lương say tứ chiến / Ngã Tư Quốc Tế đứng xàng xê / gánh nước nặng hơn vác thánh giá …” (tr. 56).

    Phạm Việt Cường (21-11-1952, Sài Gòn -) định cư tại California từ 1986. Cộng tác với nhiều tạp chí văn chương hải ngoại và trong nhóm chủ trương các tạp chí Thời NayHợp Lưu và Thơ cùng tổng thư ký tập san Triết (San Jose, CA). Ông tự do với Sớm Mai Biển:

    “thanh hương nồng mướt gối
    mê yêu
              rượn rạo lũ hoa bỏ quên
    thơm thanh    đêm ngoài
              túy lúy môi cố tìm môi   xưa biết
    thế giới là chiếc giường
    cốc rượu lưng
    mẩu thuốc tàn ngùi lạnh
              trái táo đã cắn
    cổ điên bầm dấu răng        bất chợt
              hôn dữ
              ngọn nến chao chớt một mình suốt đêm
    ngút nốt hửng sáng
    chiếc màn cửa rũ che
     một bình minh / kiệt sức
              buông ngã vào nhau           bất chợt
    nửa chừng / câu nói
    để dành vang lên trong những đêm khác
    xa / sau
              liều lĩnh thản nhiên
    chim biển tìm mồi
              bên chân du khách
    cơn say nối dài tê dại
    chưa ai muốn nhìn vào lòng mình
     lúc ấy
              cũng không còn nhớ mùa gì
    mà gió thốc buốt
    những đợt sóng sớm mai
    dào dạt / mãi”.

    Bài Trôi Đi Cùng Tháng Chạp trong thi tập cùng tên:

       “Ngỡ thấy trong mơ một màu nắng lạ,
    Hoa nở thanh xuân vang bóng những mùa.
    Trăng lạnh nửa đêm. Tàn đông. Biệt xứ.
    Bên kia đời, nắng ấm mái nhà xưa.
       Vẫn sống thở em ơi – dù dòng sông về đâu,
    Dù tháng năm theo nước cuốn chân cầu
    Dù mộng ước đã ngả mầu kỷ niệm,
    Từng trang thơ vàng úa giữa đời nhau.
    Vẫn sống thở em ơi – lênh đênh triều thất lạc,
    Mấy mùa hoa phai hết mộng bơ vơ.
    Chợt đứng đó. Một góc trời. Hiu hắt.
    Hồn mang mang gió thổi sang mùa.
      Ngỡ thấy trong mơ những niềm vui êm dịu,
    Mộng. Hoa. Thơ. Và tuổi trẻ xa xôi.
    Bởi hạnh phúc và cuộc đời lỗi điệu,
    Đêm dâng lên lấp mãi những chân trời.
                Vẫn sống thở em ơi – dù hân hoan dù sầu khổ,
    Nước mắt nào cũng riêng cõi tình ta.
    Đời chia biệt. Những biển rừng thương nhớ
    Mùa đông bềnh bồng tiếng hát ngùi xa.
                Vẫn sông núi cao sâu trong tình kiên khổ
    Mưa quê nhà lạnh ướt quãng đời không.
    Đã nát tan rồi bao nhiêu giấc mộng.
    Tháng chạp buồn. Nắng úa mênh mông…”

    (TĐCTC, Trình Bày, 1993)

    Họa sĩ Vũ Hối ra tuyển tập thơ lẫn với tranh họa Chiêm Bao Trở Giấc, lời nguyên thanh quá khứ của một tâm thành.

    Dương Huệ Anh có Thơ tổng tập gồm 6 tập về cuộc đời, tuổi trẻ, tu trì và chiến tranh, đời lưu vong; một người làm thơ phong phú về số lượng.

    Nguyễn Xuân Thiệp bắt đầu làm thơ từ thời 1954 nhưng ra đến hải-ngoại mới xuất-bản tập thơ đầu Tôi Cùng Gió Mùa (Westminster CA: Văn Học, 1998), gồm thơ trước và sau 1975, dài có 2 bài Ánh Trăng và Thảo Nguyên. Ở ông, độc-giả nhận ra nhiều không gian, Đà-Lạt và vùng đồi núi mộng mơ, rồi không gian của hoa cỏ, và một không gian thi ca độc đáo của riêng nhà thơ với chữ dùng của thơ, với hình ảnh và ngôn-ngữ ẩn dụ, gợi tích, với thời-gian không dễ phân biệt tách bạch và đây đó thơ ông như tẩm hương của hoa cỏ và những bóng dáng thân yêu một đời.

    *

    Các nhà thơ nổi tiếng trước 1975 nay tham gia sinh hoạt thời hải ngoại:

    Song Hồ (Nguyễn Thanh Đàm, 8-8-1932 – 2002) xuất-bản tập thơ duy nhất ở hải-ngoại, Đá Và Hoa (1992), ngôn-ngữ thơ cô đọng, tinh tế và chưa chan tình nhất là đối với đất nước quê-hương, năm 2000 được dịch sang tiếng Anh Rock and Flower.

    Duy Năng (Nguyễn Văn Trí, 25-1-1935, Nha Trang – 10-3-2002, Hoa Kỳ) ra ngoài nước đã xuất bản thi tập Dặm Nghìn (TGXB, 1998). Trích bài Rộn Ràng Xuân Dẫu Nơi Đây:

    “Này xuân rộn rã làm gì
    Với thân luân lạc từ khi cõi ngoài
    Dặm nghìn cố quốc xa xôi
    Những thao thức, những bồi hồi năm canh
              Cánh chim từ buổi viễn hành
    Hạc vàng lầu cũ, thôi đành một phương
    Thôi đành một cõi mù sương
    Nghiêng nghiêng lối dốc, hoa vườn Bích Câu
    Mộng thơ từ một ý sầu
    Tưởng như ngàn trước ngàn sau cuộc này
    Nghe chim thủ thỉ vòm cây
    Nghe ta trong nỗi riêng đầy vơi xuân
    Dặm nghìn cố quận muôn trùng
    Vẫn đang trăm họ tơ chùng phím lơi
    Héo hon trên những nụ cười
    Có đâu mà lạ giữa trời quê hương
    Những lòng ly tán nhiễu nhương
    Những hiu hắt mộng, những vàng vọt mơ
    Những mong những ước những chờ
    Sẽ thơm quá khứ về bờ tương lai
    Bao nhiêu năm một chuỗi dài
    Sắc hương thôi cũng u-hoài cỏ cây 
    Rộn ràng xuân dẫu nơi đây
    Hồn ta vẫn tuyết sương ngày thu đông
    Từ thân luân lạc nghìn trùng
    “Đê đầu tư cố hương” lòng ngổn ngang”

    – San Francisco, 3-1995

    Cùng thế hệ có nhà thơ Triều Hoa Đại (Đỗ Xuân Nho, 194?, Nam Định -) với tập Dấu Huệ Hồng (1992) và Sông Tiễn Chân Đi (Nhân Ảnh, 2010).

    Huy Trâm (1937- ) nhà thơ thẩm phán, sau 1975 bị tù “cải tạo” 7 năm, sau đó quản thúc thêm 3 năm. Định cư tại Hoa Kỳ năm 1991, sinh hoạt văn học và đã xuất bản các tuyển thơ Dòng Lệ Thơ Ngây (Orange, CA, 1992), Đồng Xanh (Orange, CA, 1993), Đi Vào Lòng Cuộc Đời (Orange, CA: Thời Điểm, 1997) và tập truyện Ngõ Hẹp Quanh Co (16 truyện ngắn; Thời Điểm, 1994).

    Dòng Lệ Thơ Ngây là những kỷ niệm của một thời thơ ấu, nay trở về với nhiều tiếc nuối.  Tập Đồng Xanh vẫn những kỷ niệm xen kẽ những bài thời khổ nạn sau biến cố năm 1975, như bài Đồng Xanh:

    Thôi về sống với đồng xanh
    Một đời gió máu, mưa tanh đã nhiều
    Nhân gian lòng có bao nhiêu?
    Ban mai nhức nhối, buổi chiều khắt khe
    Về đây đồng nội im nghe!
    Gió qua mái lá thơ se giấc sầu
    Trăng khuya ngả bóng hàng cau
    Đồng quê hiền hậu trước sau một lòng (…)
    Trông lên nhàn hạ bè mây
    Thương đau, thì chính nơi này lắng êm” (ĐX, tr. 94, 95).

    Bài Đêm Mưa Nhớ Người:

    “Hai đêm mưa gió não nề
    Mình tôi đối bóng-tư bề vắng không
    Phố dài-mươi ngọn đèn chong
    Thức cùng tôi-lạnh niềm trong nỗi ngoài
    Thương thân bỗng xót xa người!
    Bao năm sóng gió nổi trôi-phong trần
    Đêm nay cũng lại một thân
    Nghe mưa vỗ giấc-vơi phần khổ đau
    Buồn mưa làm nhớ thương nhau”

    Nhà văn Võ Phiến xuất bản tập Thơ Thẩn (1997) gồm thơ làm từ nhiều thập niên, ca tụng cuộc sống và con người, như văn liệu hơn là giá trị văn-chương, được nhắc đến vì tên tác-giả hơn là văn bản.

    Thanh Thanh (Lê Xuân Nhuận) có tuyển thơ Cơn Ác Mộng (Thế Giới Mới, 1998).    

    Trần Hồng Châu cũng cảm nghiệm và sống cái hiện sinh lưu đày đó ngay giữa lòng phố của chính mình nay đổi chủ. Sau tạp bút Thành Phố Trong Hồi Tưởng (An Tiêm, 1991) là tập thơ Nửa Khuya Giấy Trắng (1992) trong có bài “Tháng Tư … Mưa Ngâu Dầm Dề” :

    “… Ngã Sáu Sàigòn có những bộ lạc về từ rừng sâu tiền sử
    Từ kinh tế mới âu sầu mất hướng
    Trại lưu đầy dựng bên bờ đại lộ quê hương
    Bên kim tự tháp rác rưởi trầm ngâm
    Lửa hờn căm đốt sôi lòng nồi nhỏ
    Sưởi ấm ruột gan rét cong giữa trưa hè
    Bằng mấy hạt cơm trừu tượng
    Bằng vài lời hứa … thiên đường trần gian
    Áo quần tả tơi
    Bướm say vào mắt bão
    Thịt xương lở lói
    Tranh lập thể mơ hồ (…)
    Tôi đứng giữa Sàigòn hay vẫn còn trong chùa Ngọc hoàng
    Ở đâu có những âm cung
    Rợn tóc gáy sởn da gà
    Đường xuống địa ngục khúc khuỷu
    Đường lên dương thế quanh co
    (…) Đêm Vu Lan đêm vô vọng
    Trong mưa ngâu dầm dề
    Mưa ngâu nhỏ lệ … tháng Tư
    Trời hụt hẫng mười hai đau xót (…) (tr. 143)

    Đến tập Nhớ Đất Thương Trời (1996), nhà thơ khoa trưởng tư duy chín mọng đi vào cái buồn triết lý, nhiều suy tư về hệ lụy làm người xa xứ.

    Trong dòng thơ hoài niệm, có thể nói đến giáo sư Trần Trọng San với những tứ thơ đặc biệt. Bài Hải Âu Bên Thác Niagara Fall GS làm không lâu trước khi mất, như di chúc – mong tro cốt sẽ được thả xuống dòng sông Niagara và đã được như nguyện mong (14)

    Nếu như còn có kiếp mai sau
    Tôi chỉ mong làm kiếp hải âu
    Sống nhởn nhơ trên dòng thác nước
    Nhìn thế gian chất ngất lo sầu
                        Làm sao cho bằng kiếp hải âu
    Chẳng phải lo, phải nghĩ, phải sầu.
                        Thế gian ơi!
    Vĩnh biệt mi trong kiếp mai sau.
    Hải âu ơi!
    Hẹn cùng mi ríu rít bên nhau”
    (Làm trong mơ đêm 19-3-1998)

    *

    Những nhà thơ khác viết về chiến tranh, tình đồng đội, nhớ về chiến trường xưa có Hoàng Phong Linh (Võ Đại Tôn) với Tiếng Chim Bên Dòng Thác Chamy (1992). Trích đoạn 1 của bài thơ được dùng làm tựa thi tập này – viết để tưởng niệm cố chiến sĩ Vũ Hoài:

    1. Em cứ nằm yên đấy / Bên dòng thác CHAMPY
    Con đường chúng ta đi / Đã vô cùng gian khổ.
    Dăm mảnh đá xanh rêu thành nấm mộ
    Anh đắp lên cùng với cả tình anh.
    Em đã đi qua bao thác bao ghềnh
    Đường về quê nay trở thành tử lộ.
    Dòng hoa trắng từ núi cao đang đổ
    Xuống lòng khe cho mát tấm thân em.
    Rồi từ đấy trong rừng vắng từng đêm
    Hay mỗi sáng sương mờ ôm đỉnh núi
    Trên cành gai vắt mình qua khe suối
    Con chim buồn đứng hót tiếng cô đơn.
    Tiếng chim nghe uất hờn
    Lời chim tràn ai oán.
    Dặm trường xa sao nửa đường đứt đoạn
    Em thành chim trong tiếng hót Hoang Vu . . .”

    Đỗ Bình sinh hoạt văn học nghệ thuật tại Pháp và đã xuất bản các thi tập Buồn Viễn Xứ (1992), Bóng Quê (1998). Ông nhiều năm cùng Câu Lạc Bộ Văn Hoá Việt Nam Paris ra công biên soạn các tổng tập Những Khuôn Mặt Văn Hoá Việt Nam Paris (2017. 610 tr.), Những Khuôn Mặt Văn Hoá Việt Nam Hải Ngoại (2022. 1110 tr.) với hơn 300 nhà văn hoá và văn nghệ sỹ hải ngoại. Trích bài Bọt Sóng:

    “Như pho tượng / Đượm nét buồn thế kỷ!
    Đời chìm sâu / Những giai điệu tình si.
    Tít mù khơi / loài chim nhỏ thiên di,
    Vút tiếng hát / Từ xa xăm mộng mị,
    Về biển xanh / Mang theo chút phù sa.
    Sóng dìu em /Vào tận cõi thiên hà.
      Em chấc lạnh / Nơi hành tinh băng giá?
    Chiếc tàn y / Sao đủ ấm làn da!
    Trời hoàng hôn / Sóng nhấp nhô trắng xóa,
    Mắt em buồn / Màu cỏ úa xót xa!
    Ôi giai nhân / Trong đáy nước dạt dòa,
    Em trôi mất / Mảnh thuyền xưa mục rã!

    Hoặc Lưu Nguyễn (Nguyễn Thế Nghiệp) với Tri Âm (1990) rồi Ngày Qua Rất Vội (1993):

    “… Ta với nó vẫn trên cùng đất nước
    mà mấy năm không gặp gỡ một lần
    từng cánh thư đi, từng cánh thư về, bao lần hẹn ước
    khói lửa chiến trường cuốn hút nỗi chờ mong
    Rồi đất nước trong nỗi sầu tang tóc
    tháng tư nhục nhằn, một chín bảy lăm
    nó nhìn ta đôi mắt buồn muốn khóc
    trước mũi súng thù hai đứa vẫn lặng câm…”

    (Tri Âm, Gửi Bạn Bè Còn Ở Lại)

    Nghiêu Minh có Trăng Mật (Rockville MD: Phù Viên, 1992), Dấu Xưa (Sông Thu, 1996). Trích bài Mắt Đá:

    “Tôi con mắt nhắm vô thường
    nợ nần, lương giáo, cũng tương đương người
    một mai làm cỏ sân chơi
    cát bụi con trốt quấn đời phù sinh

    Tôi trơ con mắt lặng thinh
    ông qua bà lại lấy tình mà trêu
    ví dầu chẵn, lẻ ít nhiều
    trăm năm cũng lạc hồn phiêu diêu ngoài

    Thẫn thờ con mắt cả hai
    trông em tiêu cực nhớ hoài ngàn năm
    em qua, chẳng dám nhìn gần
    sợ rớt con mắt xuống gầm cầu sen

    Tôi trừng đôi mắt ngày đêm
    Dòng thơ nhìn thẳng nhìn nghiêng chưa nhòa
    Chợt tâm dao động quỉ ma
    Trong đôi mắt đá cẩn hoa đợi chờ”.

    Phạm Ngọc (Phạm Ngọc Nghĩa, 1954, Thái Bình – ), còn ký Phạm An Nhiên, Vọng Âm, Nguyễn Khởi Nguyên. Định cư tại Hoa-Kỳ năm 1975. Cùng bằng hữu sáng lập và chủ biên tạp chí Văn Tuyển (1998 – 2000), chủ biên Nhà Magazine song ngữ phát hành tại California (2003 – 9/2007), có thơ đăng trên nhiều báo chí tại hải ngọai cũng như trên liên mạng. Đã xuất bản các tuyển thơ: Nỗi Đam Mê Muộn Màng (1998 ); Tình Cờ (Văn Tuyển, 2000); Tình Yêu Em Chưa Đủ Tuổi Nên Buồn (Văn Tuyển, 2003); Mùa Khát Vọng (Đà Nẵng, 2004); Cho Những Ngày Mưa Xa (2009),… cũng như chung với Nam Giao (Vùng Ký Ức, 1997). Trích thơ, bài Giai Điệu Buồn, ghi dấu cuộc tình và nơi chốn địa danh Paris vang vọng – ngoài bài này còn có những Chào Paris Mùa Trăng Còn Rất Trẻ, Nỗi Niềm, …:

    “Mùa thu về giữa Paris
    con đường thênh thang những lá
    cơn mưa bỏ quên mùa hạ
    tháng mười khoác áo vàng hoa

    Paris vừa mới hôm qua
    bây giờ đã thành nỗi nhớ
    bước chân gọi thầm góc phố
    chiều thơm hương phấn hẹn hò

    Vẫn dài những chuyến metro
    tiếng cười xôn xao ký ức
    mắt em một trời mơ ước
    mai rồi đời có tìm nhau

    Tháng mười nhoà nhạt mưa mau
    nỗi buồn càng thêm giai điệu
    hát vang thành phiên khúc nhớ
    Paris vừa mới hôm qua….”

    Dụ Ngôn Mùa Thu, tiếp nối dòng thơ tình:

    “Này mùa thu và những chiếc lá
    chiếc lá  vàng của ngày hôm qua
    hôm qua buổi chiều có nắng hôn mềm lên tóc
    tóc em bay năm tháng chẳng nuông chiều
    nuông chiều là bàn tay của mẹ
    mẹ của tuổi thơ ngồi hát một mình
    một mình em bây giờ hát cho anh
    anh cũng xa mà mẹ cũng chẳng gần
    gần gủi lắm là niềm đau thế kỷ
    thế kỷ của em còn lại gì? Hạnh phúc? Yêu thương?
    yêu thương của em là hai bàn tay trắng
    trắng như mây, mây thì quá mong manh
    mong manh em có bao giờ giữ được
    được riêng em nguyên cả nỗi buồn
    buồn hơn khúc dạo đàn trong đêm lạnh vắng
    vắng bóng người giữa phố lặng im
    lặng im, lặng im lời dụ ngôn xưa cũ
    cũ như chuyện tình mình, cũ như tình yêu em
    em cứ lần đi theo từng kỷ niệm
    kỷ niệm dẫu già nua nhưng vẫn nhiệm màu
    nhiệm màu như tình yêu anh
    anh của một thời bất diệt
    bất diệt như giọt sương
    giọt sương mang cho em bình minh buổi sáng
    buổi sáng của những ngày còn nhau
    còn nhau giữa dịu mềm thương nhớ
    nhớ không anh hay đã bay vào cơn gió
    cơn gió của mùa Thu và những chiếc lá muôn màu
    màu sắc của cô đơn
    cô đơn như loài chim bay giữa hoàng hôn tím biếc
    tím biếc những giấc mơ
    giấc mơ về anh và bài dụ ngôn mùa Thu
    mùa Thu / riêng em….”

    Cuối cùng, bài Dư Âm, với những hồi tưởng qua bốn mùa:

    “Những chiếc lá không còn xanh biếc nữa
    gió vươn mình trăn trở gọi mùa thu
    hạ xa rồi ai tiếc thuở xa xưa
    em vẫn đợi phiá bên này nỗi nhớ

    Một chuyện tình bao nhiêu lần tan vỡ
    một chuyến tàu hụt hẫng mấy sân ga
    kỷ niệm buồn năm tháng vẫn trôi xa
    tình yêu đó cũng đau lòng câu hát

    Nơi em đi, những bến bờ xa lắc
    những trạm ngừng, từng góc phố không tên
    những con đường, em chẳng biết lạ / quen
    chỉ nhìn thấy bốn mùa cơn mưa lũ

    Những cơn mưa hát hoài giai điệu cũ
    em mệt nhoài cùng năm tháng không anh
    biết làm sao gạ gẫm trái tim mình
    để quên hết những ngọt ngào / cay đắng

    Những nỗi buồn vẫn theo em thầm lặng
    mà niềm vui thì lại quá xa xôi
    những cơn đau thì cứ mãi gọi mời
    chở em qua những tháng ngày cô quạnh

    Chẳng ai biết niềm khát khao tẻ lạnh
    bao năm rồi thành dấu hỏi trong em
    cơn mưa về làm tỉnh giấc nửa đêm
    mưa hồn nhiên hát hoài giai điệu cũ

    Rót vào đêm đến muôn ngàn mảnh vỡ
    rơi vào hồn vọng mãi những dư âm…”

    Trấn Vấn Lệ (Trần Trung Tá, 1940-), còn ký Trần Trung Thuần, nhà thơ thuộc loại xuất hiện nhiều, xuất bản nhiều và bài thường dài câu. Đã xuất-bản: Bay Về Đâu Đó Ở Quê Hương (San Jose CA: Khánh Hà, 1992), Hồn Tan Trong Thơ (Khánh Hà, 1993), Nắng Rớt Vườn Xuân (1995), Gửi Em Một Đóa Hoa Hồng (1998), Gửi Bạn Mừng Xuân Người (1999), Hỏi Sao Không Buồn Cho Được (CA: Người Tàu, 2000),…

    Nhà thơ Luân Hoán sáng-tác đều đặn, và xuất-bản liên tục giai đoạn này: Mời Em Lên Ngựa (Sông Thu, 1994); Nuôi Thơm Chùm Kỷ Niệm Xanh (1995) và Cỏ Hoa Gối Đầu (1997), tập thơ thứ 17.

    Du Tử Lê cũng là một trong những nhà làm thơ liên tục suốt thời hải-ngoại, năm 1997 xuất bản tập thơ song ngữ Chỉ Như Mặt Khác Tấm Gương Soi / Reflexion in the Looking Glass.

    Trần Huy Sao (1947, Đà Lạt – ) định cư tại San Diego CA năm 1994 và đã xuất bản các thi phẩm Hồn Á Đông (1994), Nhánh Rong Phiêu (1999), Chỉ Còn Thơ Ở Lại  (2002) và tuyển thơ văn Xóm Đình Đa Cát (2000). Thơ Trần Huy Sao nhiều hình ảnh và hương vị quê hương, người xưa và những thâm tình:

    “em về bông Cải bông Cau
    vườn xưa năm tháng dãi dầu nắng mưa
    anh từ khăn gói gió đưa
    phương trời cô quạnh cũng vừa nhớ thương
    tấc lòng để lại cố hương
    còn bông Bưởi còn vương hương Nhài
    vốn tình con nước chia hai
    ngọt câu ví dặm qua-cầu-gió-bay
    một đời phiêu bạt phong trần
    nước non ngàn dặm nỗi sầu đa mang
    đắng cay chi mấy không màng
    chỉ thương đám Cải hoa vàng gió lay….” – 1995

    (Nhánh Rong Phiêu, Vườn Xưa Hoa Cải)

    Hương vị quê nhà đã có Trà La Ba:

    “Ở rể nhà em tính đã nhiều năm
    Uống trà La Ba nên chi ngọt giọng
    Lời nói vụng về nhờ hương trà đậm
    Nên Ba, Mạ em cũng tạm hài lòng

    Anh biết em cũng đẹp dạ vui lòng
    Khi thấy anh đã lệ-làng-phép-nước
    Cánh chim bằng chịu bỏ trời lồng lộng
    Con ngựa thảo nguyên chùn vó qui hồi

    Phải đâu em! Vì thương Mạ, thương Ba
    Thương tình em dành cho anh sâu đậm
    Thương Mạ một mình bôn ba tần tảo
    Thương Ba tuổi già nay ốm mai đau!

    Mạ buôn chuyến, trà La Ba – Đàlạt
    Mờ sớm đã đi tối mịt mới về
    Nhà đơn chiếc chỉ mình em là gái
    Anh phải đỡ đần cho Mạ thay em

    Trà La Ba ! Anh nhớ trà La Ba
    Có nước mắt mồ hôi Mạ dồn vô đó
    Có chén cơm lưng chia năm xẻ bảy
    Có tháng ngày chung chịu những vui buồn!

    Để sáng nay uống tách trà La Ba
    Sao nhớ quá, dáng Mẹ già vất vả
    Chiếc áo len sờn khuỷu tay, nâu bạc
    Điếu thuốc sâu kèn…đôi dép sứt quai…” (15).

    Thái Thụy Vy (Đỗ Khoa Luật, 29-10-1940, Biên Hoà – 9-2-2014) xuất-bản nhiều tập thơ: Nụ Hôn Loài Lan Tím Dại (Sông Phố, 1992), Vũ Điệu Loài Lan Tím Hoang (1994), Hoa Tím Niềm Riêng (1995) và Mặt Trời, Lá Và Em (1996), Âm Sắc Thời Gian (1999) – chủ yếu là thơ tình; chữ dùng có khi của thường ngày, bình dân. [Ông còn có tập tạp bút Đêm Nghe Lục Bình Trôi (2012) và biên-khảo Cho Cuộc Đời Thường (2000), Biên Hùng Liệt Sử (Tempe AZ: Sông Phố, 2001, 2004) viết về lịch sử và danh nhân Biên Hoà].  

    Trần Văn Nam có tập Một Đêm Cho Thơ (“tình và âm nhạc”, NXB Đời, 1992) thơ kèm nhạc phổ. [Sau khi ông mất, năm 2019 gia đình và bạn hữu ông cho xuất bản tập Bốn Mươi Bốn Bài Thơ Tuyển gồm các thi-phẩm đã đăng trong các tạp chí trước 1975 ở Sài Gòn (Văn, Nghệ Thuật) và sau 1975 – hầu hết các báo ở Nam California: Khởi Hành, Việt Báo, Người Việt, Thế Kỷ 21, Tân Văn, cùng Thư Quán Bản Thảo, Quán Văn,… Phần đầu gồm 39 bài thơ tùy-hứng; phần sau gồm 5 bài thơ với chủ đề Vật-lý Thiên-văn Vũ-trụ].

    Quan Dương với Ngậm Ngùi (1996) những hoài niệm thời chiến trận, những đau khổ thời cải tạo và ở trại tị nạn:

    “Chiều loang lở bên dòng suối đục
    Rửa bộ xương nặng nợ tiền khiên
    Có con bướm bay ngang bắt gặp
    Bốn mắt nhìn thờ thẫn không tên”

    Yên Sơn (Trương Nguyên Thuận, 6-3-1950-) có Cho Quê-Hương, Tôi và Tình-Yêu (San Jose CA, 1998), Một Đời Thương Tiếc (2002),… Nhà thơ “tự thán” với bài Thao Thức:

    “Tôi có ba đứa con đều chào đời ở Mỹ quốc,
    mang ba cái tên đầy hoài vọng, quyết tâm.
    giữa chốn thị phi tôi vẫn kiên nhẫn, âm thầm
    đem nhiệt huyết

    và tấm lòng thành những mong phục vụ.
    trong thao thức tôi biết rằng vẫn chưa tròn, chưa đủ
    nên mãi tự hỏi lòng
    biết có làm được gì cho thế hệ mai sau?
    hay cho đến cuối đời cũng chỉ có niềm đau
    của kẻ thua cuộc phải sống xa lìa quê hương gấm vóc.

    hai mươi năm rồi với bao mối âu lo trằn trọc
    một thời chiến đấu ngang trời
    để chỉ còn là những kỷ niệm như mơ
    để chỉ còn nặn óc viết thành thơ
    và những hoài bão dở dang
    hay những xót xa thân phận?!

    hơn hai mươi năm sống trên xứ sở người
    tôi vẫn không thể nào ghi nhận
    đất nước này thay thế được quê hương.
    có lẽ tôi không tìm được
    mái nhà tranh, khóm trúc, ngôi trường
    cầu tre nhỏ dẫn vào thôn xóm nhỏ.
    không tìm được con đường mòn

    mà thuở còn thơ tôi thường đi bộ
    theo mẹ đến trường mỗi sáng mù sương.
    Cũng không tìm được những mái tranh nghèo,
    những vườn khế ngọt thân thương;
    và những ruộng cải ngập bướm vàng phấp phới.
    không ngửi được hương thơm mùa lúa mới.
    không nghe tiếng hát câu hò giả gạo dưới trăng.
    ngần ấy thứ vẫn làm tôi thao thức, băn khoăn
    nên trên xứ lạ hai mươi năm vẫn xót xa, hoài vọng” – 3-96 (Cho Quê Hương Tôi Và Tình Yêu, tr. 124-125 )

    Hà Nguyên Du trong hai năm đã cho ra đời hai tập thơ, Lối Khác (Garden Grove CA: Tân Thư, 1998) và tập (anh biết, em yêu dấu) (Westminster CA: Tự Lực, 2001). Ông có vẻ làm khó người thưởng thức thơ với chữ dùng hiếm, bất ngờ, những cung nhạc đứt đoạn, những tình ý bỏ ngang,… nhưng cũng chính đó là nét đặc biệt của ông. Ông như cút bắt với thơ, thơ xuôi mà không xuôi, thơ mà như nói thường hay ca 6 câu, như phẫn nộ, đối thoại, giao tiếp,…. Những vần thơ nhịp nhàng hay trắc trở, tỏ tình hay oán trách. Ở hình thức, xuống hàng, vần bằng trắc, thanh bình thượng, cách ngắt câu, chơi chữ như tự điển xếp nhầm bộ, thanh. Tiềm thức ca dao nơi những dòng thơ thời Rap:

    qua sông nhớ những nhịp cầu
                   qua truông còn thấm nỗi đau nghiệt đời
    qua đêm càng quí mặt trời, qua nhân gian thấy
    tình người nổi bênh, qua đâu mà chẳng qua em?
    qua muôn thách đố qua phiền lụy vây, qua ai qua
    chùm vạ lây, qua non nước khốn qua đày khắc
    lao, qua sông nhớ những nhịp cầu, qua thơ qua
    với tầm dâu ngặt nghèo...” (Ca Dao Tôi)

    Rõ thơ là chốn giải tỏa cuồng độ và lượng số của cuộc sống. Trong tình yêu nhục cảm tận cùng mọi ngõ ngách bản năng:

    cứ hôn anh /  hỡi đôi môi thần hoả /  chạy theo đôi tay thủy triều /  cứ mặc tình mặc tình / tưởng như con hổ / xé gọn nai tơ /  lúc đang đói / thân em như trái chín / tuyệt mộng / anh lữ khách đường trưa / hổn hển trống bụng / chắc hẳn không sợ phạm giới luật như thầy tu! / không nhịn trong cơn đói ngất!

    Cứ quấn anh đi / quấn như trăn / bằng những đường cong giết người / mùi trái cấm như xạ hương ngộp
    lạc cả hồn phách / đã mở cửa sinh… / cũng chính là cửa tử!…” (Hành Trình Điên, Mê)

    Thơ sáng tạo từ con chữ, với ngôn ngữ, với một khả năng giao đối, với những tiềm ẩn, vô ngôn. Tại sao không đùa nghịch với con chữ?

     “ký ức ký niệm / trí nhớ trí tri
    lửa lòng lửa bỏng / tử sinh tử quỉ…” (Ký Ức)

    “… quấn ta vòng lắm nuộc
    ? trặc trẹo ơi chi là…
    trệch đường xe lửa chạy
    trĩu trĩu cánh thê noa!” (Thê Noa)

    nghe tình sao trục trặc không trơn tru tí nào!

    “dụng tâm/ trác những thỏi nhám
    ngón đảm ngón lược
    rực tia tình yêu trên vách tối ngục
    át tiếng trêu ngươi
    nở hoa trên nhánh cành nhân ngãi
    tích phật lũy chúa / ngã không ngã” (Ngã Không Ngã)

    Vinh Hồ (Hồ Văn Thinh; 1948, Khánh Hoà – ). Định cư tại Hoa-Kỳ năm 1995 sau hơn 5 năm tù “cải tạo”. Nhập làng thơ với Thơ Vinh Hồ (Hội VAALA/Florida, 1999), ý tình hiện đại trong khuôn khổ cổ điển của thơ luật bên cạnh một số bài thơ tự-do.

    Diễm Châu định cư ở Strasbourg (Lộ Trấn), Pháp, tháng 7-1983. Thơ Diễm Châu đã xuất bản sau 1975: Thơ Diễm Châu, Mười Bài ở Paris & Những Mảnh Rời (1999, tb 2000, 2001 và 2002), Việt Nam, Tổ Quốc và Em (thơ, 1969-1993) – tất cả do nhà Trình Bầy hải ngoại xuất bản, ngoài phần dịch thuật thi ca của ngoại quốc.

    Tạ Tỵ với thi tập Mây Bay (1996) trong đó định hình lại hình ảnh kẻ thua cuộc :

    “Ngọn đèn canh le lói
    Con mắt lòa đêm sâu
    Hồi kẻng khua rộn rã
    Một đêm lại cúi đầu…”

    (Nửa Đêm Thức Giấc)

    Hay nói về mình trong Ta Để Lại:

    “Ta để lại những gì cao đẹp nhất
    Đã kết tinh bằng huyết lệ hồn ta
    Nét vẽ siêu thần không bao giờ mất
    Với sắc màu diễm tuyệt chẳng phai nhòa
    Ta để lại bao dòng thơ diễm ảo
    Như nước nguồn réo rắt tự triền cao
    Nếu mai mốt gió về gây giông bão
    Tiếng thơ buồn bay vút tới Trăng, Sao
    Ta để lại từng lời văn óng chuốt
    Dù chuyện đời muôn thuở vẫn bi thương
    Trái tim héo và bàn tay giá buốt
    Bút mực chênh vênh, tâm sự chán chường!
              Ta để lại những ngày tù gian khổ
    Những đêm dài đối diện với hư không
    Mỗi miếng cơm là một dòng lệ đổ
    Mỗi sát-na là một khắc hãi hùng
              Ta để lại một cuộc tình dang dở
    Bao năm rồi nước mắt vẫn chưa khô
    Hình ảnh cũ đi về trong giấc mộng
    Nơi xa kia, ai đợi với a chờ ?…
              Ta để lại bạn bè nguyên vẹn đó
    Chuyện vui buồn theo ngày tháng qua đi
    Còn kể chi màu xanh hay sắc đỏ
    Có nhớ thương nhau cũng chẳng ích gì!
              Ta để lại một vùng trời rực rỡ
    Một vườn đời rộn rã tiếng chim ca
    Một bông lúa và cành hoa dang dở
    Một kiếp người, cùng Họ, tên ta …” (Chiné, 1980)

    Song Nhị xuất bản Tiếng Hờn Chiến Mã (Cội Nguồn, 1996, tb 2002) thơ về thời cải tạo và cuộc đời ngang trái.

    Nguyễn Lý Tưởng ngoài các tập truyện Đàn Bướm Lạ Trong Vườn (1998); Thu Còn Vương Nắng (2000); Hai Thế Hệ (in chung với Phan Vỹ và Trần Quán Niệm), Ngày Trở Về (2009), còn xuất bản các tuyển thơ Theo Dấu Chân Chim (Việt và chữ Hán, 1996; thơ trước và sau 1975 và trong tù), Tình Khúc Mùa Xuân (2000), Vùng Hoang Tưởng (2009).

    *

    Một khuynh hướng thơ văn đấu tranh cho quyền làm người, đòi phá đổ bạo tàn, bàng bạc trong đa số các tác phẩm nhưng rõ nét hơn với Lê Bi (Hoàng Chính Nghĩa; 1949, Thái Bình – ) với Địa Chỉ Của Một Người (Tân Thư, 1996), Trần Trung Đạo với các tập Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười (1993) và Thao Thức (1996), v.v.

    Lê Bi Chống Cưỡng Bức Hồi Hương Ở Hồng Kông:

    Bắn vào trại cấm này 40 trái đạn cay
    Hàng trăm cảnh sát Hồng Kông lôi ra những người liều mình ở lại
    Kẻ có quê hương, sao thà sống trong trại tù khóa trái
    Những giọt lệ cay chắc gì vì khói đạn cay

    (Địa Chỉ Của Một Người, tr. 121)

    Trần Trung Đạo chứng nhân buồn trước cái chết bi ai của một người lính già :

    Người lính già Việt-Nam
    Vừa mới chết đêm qua
    Trên đường phố San Jose bụi bặm
    Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm
    Đến nơi đây chỉ để chết âm thầm
    Không một phát súng chào
    Không cả một người thân
    Không ai nói với anh một lời tiễn biệt…”

    (Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua)

    Thơ đấu tranh ở Canada, có thể ghi nhận thêm Hải Triều (Lê Khắc Hai, còn ký Lê Khắc Anh Hào) với những tập thơ Đường Tổ Quốc 1988; Sỏi Đá Còn Hờn Cơn Quốc Biến 1990; Tự thuở vầng trăng vỡ cuối nguồn 1997; Đoạn Đường Lưu Vong 2004; Đêm Đợi Bình Minh 2012; Lục Bát Đen Thời đại Hồ Chí Minh 2013; Chinh Phụ Ngâm Khúc Việt Nam Cộng Hoà – thời binh lửa (Việt Nam, 2013), …

    Ý Nga (Nguyễn Thị Nga, 1958-) với Góp Lửa (1997), Lục Bát Đấu Tranh (Anh Em, 2000), Trái Đắng Quê Nhà (2000), v.v.

    Ở giai đoạn này không thể không ghi lại những tiếng nói của trí thức, của những người còn thao thức và tranh đấu cho người và nước Việt. Vài tựa sách:

    – Tiếng Nói Dân Chủ Cho Việt Nam (Irvine CA: Saigon Press, 1992), của 15 nhân vật trong nước và 8 ở ngoài nước.

    – Việt Nam Qua Lăng Kính 24 Nhân Vật Thời Đại (Culver City CA: Thời Luận, 1996) “được thực hiện bằng các bài phỏng vấn của Nguyễn Vạn Hùng” (tác giả hồi ký Vùng Đất Ngục Tù) trong số có các nhà văn nhà báo Võ Văn Ái, Ỷ Lan, Nhật Tiến, Lm. Nguyễn Hữu Lễ, … và các chính trị gia Trần Trung Dung, Phạm Duy Tuệ, David Kilgour, Stephen Young, James Webbs,…

    Nguyễn Vy Khanh

    ………………….

    Chú-thích:

    13- NNN X. Người Việt Montréal, 6&7-1989.

    14- X. Viên Linh. Khởi Hành số ra ngày 3-9-1998.

    15- Trích từ Một Phần Tư Thế Kỷ Thi Ca Việt-Nam Hải-Ngoại 1975-2000, tập 6, 2006, tr. 260-261.

    [Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 77-134]

    * Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: giai đoạn phôi thai, 1975–1980

    *Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: giai đoạn hình thành, 1980–1986

    Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển (Kỳ 1)

    * Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển (Kỳ 2)

    *Nguyễn Vy Khanh: Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển (Kỳ 3)



    Không có nhận xét nào