Header Ads

  • Breaking News

    Dự án Safari Ba Vì: Những điều người dân có quyền biết và tham gia

    Nguyễn Tuấn/Vương quốc Bỉ

    26-9-2026

    Ảnh minh họa: Dự án Quần thể Du lịch sinh thái Ba Vì – Hợp phần Safari. Nguồn: i Quy hoạch

    Lời Giới Thiệu từ Tiếng Dân: Bài phân tích sau đây của TS Nguyễn Tuấn, Đại học Hasselt, Vương quốc Bỉ, ngày 25/9/2026, tập trung vào dự án Quần thể Du lịch sinh thái Ba Vì – Hợp phần Safari do Sun Group đề xuất. 

    Phầnmềm quản lý dự án

    Theo thông  tin được công bố, dự án có diện tích khoảng 580,74 ha, trong đó có 42,64 ha mặt  nước, dự kiến triển khai thành hai giai đoạn và hướng tới công suất khoảng 10 triệu lượt khách mỗi năm. Tác giả cho rằng, quy mô, tiến độ và cách thức chuẩn bị dự án đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến môi trường, đa dạng sinh học, nguồn nước, sinh kế của cộng đồng địa phương và quyền tham gia của người dân.

    Ngày 17/9/2026, Công ty Cổ phần Tập đoàn Bất động sản Mặt Trời (Sun Group) đề nghị Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư và được lựa chọn làm nhà đầu tư theo “trường hợp đặc biệt” của Luật Thủ đô. Chỉ bốn ngày sau, Sở Tài chính Hà Nội công bố một số thông tin sơ bộ về diện tích, vốn, hình thức đầu tư và tiến độ. Tuy nhiên, theo bài viết, tại thời điểm đó chưa có thông tin chính thức về tác động của dự án đối với rừng, nguồn nước, động vật và đời sống người dân; cũng chưa có đánh giá tác động môi trường – xã hội hay tham vấn cộng đồng.

    Tác giả phân tích bốn con số và đặc điểm chính của dự án. Thứ nhất là mục tiêu 10 triệu lượt khách mỗi năm, trong đó giai đoạn đầu 2026–2028 dự kiến đạt 5 triệu lượt. Con số này được cho là rất lớn nếu so với tổng lượng khách của Hà Nội và những điểm du lịch nổi tiếng khác trên thế giới. Bài viết đặt câu hỏi về tính khả thi của dự báo này, đồng thời cảnh báo rằng nếu lượng khách không đạt kỳ vọng thì các lợi ích kinh tế được quảng bá có thể bị thổi phồng; ngược lại, nếu lượng khách thật sự tăng mạnh, áp lực lên hệ sinh thái và cộng đồng địa phương sẽ rất lớn.

    Thứ hai, dự án dự kiến có khoảng 72,8 ha đất  xây dựng, tương đương khoảng 100 sân bóng đá, với tổng diện tích sàn hơn một triệu mét vuông. Hồ sơ cho rằng, gần 77% diện tích là “cây xanh, mặt nước”, nhưng tác giả lưu ý rằng con số này có thể bao gồm cây xanh cảnh quan, công viên chuyên đề và các hồ nhân tạo, chứ không đồng nghĩa với việc giữ nguyên hệ sinh thái tự nhiên hiện hữu. Vì vậy, việc xây dựng có nguy cơ làm mất hoặc chia cắt rừng, đồng cỏ, ruộng, ao hồ, sông suối và các sinh cảnh tự nhiên.

    Thứ ba, dù mang tên “Safari”, diện tích được ghi rõ dành cho nghiên cứu, đào tạo, giáo dục và trải nghiệm động vật chỉ khoảng 8,34 ha, tương đương 1,44% tổng diện tích. Trong khi đó, đất giao thông chiếm 49,39 ha và đất thương mại, dịch vụ du lịch khoảng 74,79 ha. Từ đó, tác giả đặt vấn đề liệu đây thực sự là một dự án bảo tồn và giáo dục về động vật hay chủ yếu là một khu thương mại – nghỉ dưỡng quy mô lớn sử dụng hình ảnh “safari” và “sinh thái”. 

    Phầnmềm quản lý dự án

    Thứ tư là tiến độ. Dự án dự kiến khởi công ngay trong quý IV/2026, tức chỉ khoảng ba tháng sau khi hồ sơ được đề xuất. Theo tác giả, khoảng thời gian này quá ngắn để thực hiện đầy đủ đánh giá tác động môi trường, khảo sát đa dạng sinh học qua các mùa, tham vấn cộng đồng và giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai. Việc lựa chọn nhà đầu tư được rút gọn càng khiến yêu cầu về minh bạch và đánh giá độc lập phải cao hơn.

    Ở góc độ  khoa học, bài viết đặt câu hỏi về khái niệm “safari”. Theo tác giả, safari đúng nghĩa thường dựa trên việc bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và cho phép du khách quan sát động vật trong môi trường sống của chúng. Trong khi đó, mô hình safari phổ biến ở Việt Nam chủ yếu nuôi các loài ngoại nhập trong khu vực có rào chắn, phục vụ khách tham quan. Tác giả cho rằng, mô hình này có giá trị bảo tồn hạn chế và tiềm ẩn các nguy cơ như động vật ngoại lai thoát ra ngoài, dịch bệnh hoặc tạo thêm nhu cầu đối với động vật hoang dã.

    Bài viết đặc biệt nhấn mạnh giá trị của Vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm. Vườn quốc gia được mô tả là nơi có khoảng 1.209 loài thực vật bậc cao, 342 loài động vật có xương sống, 552 loài côn trùng và 66 loài động vật có xương sống quý hiếm. Một số loài đặc hữu, trong đó có thằn lằn tai Ba Vì. Ngoài giá trị đa dạng sinh học, rừng Ba Vì còn giữ  nước, chống xói mòn, điều hòa khí hậu, hấp thụ carbon và cung cấp nhiều dịch vụ hệ sinh thái khác cho Hà Nội và khu vực xung quanh.

    Tác giả cũng nhấn mạnh giá trị của nguồn gen và tri thức truyền thống. Ba Vì có hơn 500 loài cây thuốc, gắn với tri thức y học truyền thống của người Dao và người Mường. Những nguồn tài nguyên này có thể mang lại những giá trị kinh tế trong tương lai mà hiện nay con người chưa thể biết hết. Bài viết dẫn ví dụ về artemisinin – một hợp chất có nguồn gốc từ cây thanh hao hoa vàng – cho thấy một loài thực vật tưởng như bình thường có thể trở thành nguồn tài nguyên y học quan trọng. Vì vậy, một khi rừng và các loài đặc hữu bị mất, những giá trị tiềm tàng đó cũng có thể mất vĩnh viễn.

    Bài viết tiếp tục đối chiếu dự án với các cam kết về đa dạng sinh học và phát triển bền vững của Việt Nam. Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh – Montreal yêu cầu đưa đa dạng sinh học vào các quyết định phát triển, doanh nghiệp đánh giá và công khai tác động đến thiên nhiên, đồng thời bảo đảm sự tham gia của cộng đồng. Luật Bảo vệ môi trường 2020 cũng quy định việc đánh giá tác động môi trường và tham vấn cộng đồng đối với những dự án có nguy cơ tác động lớn. Tác giả cho rằng, việc một dự án gần 600 ha được đề xuất mà chưa có tham vấn cộng đồng đặt ra vấn đề về quyền được biết, được góp ý và được hưởng lợi của người dân địa phương. 

    Bài viết đặt câu hỏi “Ai hưởng lợi, ai trả giá?”. Dự án có thể tạo việc làm, doanh thu và thuế, nhưng những lợi ích này phụ thuộc đáng kể vào lượng khách thực tế. Trong khi đó, chi phí môi trường và xã hội có thể rất lớn: Mất rừng, ảnh hưởng nguồn nước, đa dạng sinh học, sinh kế nông nghiệp, văn hóa và tri thức truyền thống. Tác giả cho rằng lợi ích kinh tế chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp, trong khi chi phí có thể phân bổ cho người dân địa phương, cư dân Hà Nội và các thế hệ tương lai.

    Do đó, bài viết đề xuất phải có một phân tích chi phí – lợi ích xã hội độc lập, trong đó tính cả giá trị của rừng, nguồn nước, đất nông nghiệp và văn hóa;  xây dựng các kịch bản với lượng khách thấp hơn nhiều so với 10 triệu; xác định rõ ai được lợi, ai chịu thiệt và cơ chế phân chia lợi ích; đồng thời so sánh dự án với những phương án khác, bao gồm cả phương án không thực hiện dự án và phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Với những nguy cơ tổn thất không thể đảo ngược, tác giả đề nghị áp dụng nguyên tắc phòng ngừa.

    Cuối cùng, bài viết đưa ra một số kinh nghiệm quốc tế. Nhật Bản với mô hình satoyama coi cảnh quan nông thôn, làng mạc, ruộng đồng, rừng và ao hồ là tài sản cần bảo tồn, đồng thời phát triển du lịch dựa trên chính đời sống cộng đồng. Shirakawa-go được dẫn làm ví dụ: Khi lượng khách quá đông, chính quyền lựa chọn giới hạn khách thay vì mở rộng vô hạn. Ở Việt Nam, mô hình HEPA tại Hà Tĩnh cho thấy, việc phục hồi rừng bản địa và canh tác sinh thái cùng người dân có thể cải thiện hệ sinh thái và sinh kế. Tác giả cũng giới thiệu mô hình agriturismo của Ý, trong đó các gia đình nông dân trực tiếp tham gia kinh doanh du lịch nông trại.

    Thông điệp xuyên suốt của bài viết là phát triển du lịch không nhất thiết phải đồng nghĩa với bê tông hóa và xây dựng một dự án quy mô lớn. Với Ba Vì, trước khi quyết định đầu tư, cần minh bạch thông  tin, đánh giá đầy đủ tác động môi trường – xã hội, tham vấn thực chất cộng đồng địa phương và chứng minh rằng lợi ích chung thực sự lớn hơn những tổn thất mà xã hội có thể phải gánh chịu. Theo lập luận của tác giả, một khu thương mại có thể xây ở nhiều nơi, nhưng rừng tự nhiên, nguồn gen, hệ sinh thái và những giá trị văn hóa đã mất thì không dễ, thậm chí không thể, phục hồi. 

    Sau đây là toàn bộ nội dung bài viết của TS Nguyễn Tuấn.

    TÓM TẮT

    • Dự án rộng gần 600 ha, đặt mục tiêu 10 triệu lượt khách/năm, nhưng chỉ 1,44% diện tích dành cho động vật. 

    Phầnmềm quản lý dự án

    • Chưa có đánh giá tác động môi trường – xã hội, chưa có tham vấn người dân địa phương. Có thể dẫn tới rủi ro lớn và khó đảo ngược cho rừng, nguồn  nước, đa dạng sinh học và sinh kế quanh Vườn quốc gia Ba Vì.

    • Chủ đầu tư cần chứng minh lợi ích cho xã hội lớn hơn cái giá xã hội phải trả, trước khi dự án được chấp thuận.

    Ngày 17/9/2026, Công ty Cổ phần Tập đoàn Bất động sản Mặt Trời (Sun Group) gửi văn bản đề nghị thành phố Hà Nội chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Quần thể Du lịch sinh thái Ba Vì – Hợp phần Safari. Công ty xin được chọn làm nhà đầu tư theo “trường hợp đặc biệt” của Luật Thủ đô, một cơ chế rút gọn dành cho những dự án được coi là “cần triển khai ngay”.

    Bốn ngày sau, Sở Tài chính Hà Nội đăng thông tin sơ bộ về dự án, gồm diện tích, vốn, hình thức đầu tư và tiến độ. Đến nay, chưa có bất kỳ thông tin chính thức nào được đăng tải về tác động của dự án tới rừng, nguồn nước, động vật hay đời sống của người dân nơi dự án sẽ được xây dựng. Chủ đầu tư cũng chưa tổ chức bất kỳ buổi tham vấn nào với cộng đồng địa phương, và chưa công bố bất kỳ bản đánh giá tác động xã hội và môi trường nào cho dự án. (Nguồn: Sở Tài chính Hà Nội, 21/9/2026) 

    Phầnmềm quản lý dự án

    Bài viết này nhằm phân tích một cách rõ ràng, khách quan, giúp những ai quan tâm hiểu về dự án dựa trên thông tin chính thức đã được công bố, đối chiếu các con số đó với bằng chứng  khoa học, với các cam kết của Việt Nam, và với bài học kinh nghiệm của các nước phát triển. Tôi cũng xin chỉ ra một số điểm chưa rõ mà chính quyền có thể yêu cầu chủ đầu tư chứng minh trước khi cho phép dự án tiến hành.

    ***

    1. PHÂN TÍCH NHỮNG CON SỐ TRONG DỰ ÁN

    Có 4 điểm đáng lo ngại đằng sau những con số của dự án (trích từ thông tin do Sở Tài chính Hà Nội đăng tải), cần được chủ đầu tư đánh giá một cách minh bạch, nghiêm túc và khoa học.

    ĐIỂM 1 – LƯỢNG KHÁCH KHÔNG THỰC TẾ

    Dự án có tổng diện tích khoảng 580,74 ha, trong đó có 42,64 ha mặt nước, chia làm hai giai đoạn. Khi hoàn thành, dự án dự kiến đón khoảng 10 triệu lượt khách mỗi năm, với mục tiêu giai đoạn 1 (2026–2028) là 5 triệu lượt.

    Con số này cần được đặt vào bối cảnh. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, năm 2025 cả nước có khoảng 157 triệu lượt khách (135,5 triệu nội địa, 21,2 triệu quốc tế). Toàn thành phố Hà Nội, với hàng trăm điểm đến, đón khoảng 33,7 triệu lượt.

    Như vậy, một khu du lịch duy nhất ở Ba Vì đặt mục tiêu đón gần một phần ba tổng lượng khách của cả Thủ đô, chỉ sau 3 năm kể từ ngày khởi công. Nói cách khác, nếu mỗi người Việt Nam đi du lịch một lần mỗi năm, thì cứ 10 người sẽ có 1 người chọn Safari Ba Vì thay vì mọi điểm đến khác trên cả nước.

    Để so sánh, làng cổ Shirakawa-go (Nhật Bản), một di sản thế giới nổi tiếng toàn cầu, vào năm đông khách nhất (2019) cũng chỉ đón khoảng 2,15 triệu lượt, và đã phải áp dụng biện pháp hạn chế khách vì quá tải. Lượng khách ấy chỉ là một phần rất nhỏ trong gần 600 triệu lượt khách du lịch của Nhật Bản hằng năm (550 triệu nội địa, 28 triệu quốc tế).

    Mục tiêu 5 triệu lượt đã là chưa thực tế, chưa nói tới 10 triệu. Điều này dẫn tới hai khả năng: 

    Hoạchđịnh và nguồn lực xây dựng sự nghiệp

    (1) con số tạo ra ảo tưởng rằng dự án sẽ đem lại lợi ích kinh tế cao hơn tiềm năng thực tế;

    (2) nếu du lịch tăng trưởng đột biến, áp lực sẽ cực kỳ lớn lên hệ sinh thái và phúc lợi của cộng đồng địa phương.

    ĐIỂM 2 – “CÂY XANH, MẶT NƯỚC” CÓ THỂ PHẦN LỚN LÀ NHÂN TẠO

    Tổng diện tích  xây dựng dự kiến khoảng 72,8 ha, tức phần đất bị bê tông hóa rộng bằng khoảng 100 sân bóng đá, với tổng diện tích sàn hơn một triệu mét vuông.

    Hồ sơ cho biết gần 77% diện tích (446,89 ha) là “cây xanh, mặt nước”. Tuy nhiên, phần này bao gồm cả công viên chuyên đề và cây xanh cảnh quan, tức rất có thể là cây trồng công trình và hồ đào nhân tạo như các dự án đô thị hiện nay.

    Điều đó có thể đồng nghĩa với việc rừng, đồng cỏ, đồng ruộng, lũy tre, ao hồ, sông suối, các tiểu hệ sinh thái và các loài động thực vật bản địa sẽ bị phá bỏ hoặc dồn sang một bên, tạo áp lực lớn lên đa dạng sinh học và các dịch vụ thiên nhiên trong khu vực Vườn quốc gia Ba Vì.

    ĐIỂM 3 – “SAFARI” NHƯNG CHỈ 1,44% ĐẤT DÀNH CHO ĐỘNG VẬT

    Dự án mang tên “Safari”, nhưng phần đất được ghi rõ dành cho nghiên cứu, đào tạo, giáo dục và trải nghiệm động vật chỉ là 8,34 ha, tức 1,44% tổng diện tích.

    Trong khi đó, đất giao thông chiếm 49,39 ha, gấp khoảng 6 lần. Đất thương mại và dịch vụ du lịch cộng lại là 74,79 ha, gấp khoảng 9 lần.

    Câu hỏi đặt ra: đây chủ yếu là một khu bảo tồn và giáo dục về động vật, hay là một khu nghỉ dưỡng, thương mại quy mô lớn lấy tên “Safari” để “xanh hóa” dự án?

    ĐIỂM 4 – TIẾN ĐỘ KHÔNG KHẢ THI

    Dự án dự kiến khởi công ngay trong quý IV/2026, tức chỉ khoảng ba tháng sau khi nộp hồ sơ. Ba tháng là quá ngắn để làm đúng và đủ những việc bắt buộc: đánh giá tác động môi trường, khảo sát đa dạng sinh học (cần theo dõi qua đủ các mùa), tham vấn người dân và bồi thường đất đai. Thời gian quá ngắn dẫn tới rủi ro đánh giá không đầy đủ, không nghiêm túc, hoặc có sai sót. 

    Phầnmềm quản lý dự án

    Khi quy trình lựa chọn nhà đầu tư đã được rút gọn, yêu cầu về minh bạch càng phải cao hơn, chứ không thể thấp đi.

    ***

    2. GÓC NHÌN  KHOA HỌC VÀ NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM

    2.1. SAFARI ĐÍCH THỰC HAY CHỈ LÀ SỞ THÚ KHÔNG GIAN MỞ?

    Từ “safari” gắn liền với châu Phi, nơi du khách đi xem thú hoang sống tự do trên chính quê hương của chúng. Ở đó, hệ sinh thái tự nhiên được giữ nguyên, các loài bản địa sống trong đúng quần thể và môi trường của chúng, còn con người chỉ là khách đến thăm.

    Dự án ở Ba Vì thì khác hẳn. Nếu theo mô hình các “safari” hiện có ở Việt Nam như Vinpearl Safari Phú Quốc, phần lớn động vật sẽ là loài ngoại nhập như sư tử, hươu cao cổ hay ngựa vằn, vốn không hề có trong tự nhiên ở Ba Vì. Chúng được mua hoặc nhập về, nuôi trong khu có rào chắn, và khách ngồi xe đi xem. Chúng không có những hoạt động cần thiết để tồn tại trong tự nhiên như săn mồi, di cư hay tương tác giữa các quần thể.

    Về cơ bản, đó chỉ là sở thú có không gian rộng hơn cho con người trải nghiệm, không có nhiều giá trị bảo tồn. Nếu chữ “safari” chỉ mượn hình ảnh thiên nhiên hoang dã, và chữ “sinh thái” chỉ là cách gọi khác của công viên cây xanh và hồ  chứa nước, thì dự án sẽ không giúp bảo tồn thiên nhiên hay cải thiện chất lượng sống cho con người.

    Về mặt bảo tồn, các safari hiện nay ở Việt Nam hầu như không đóng góp gì cho đa dạng sinh học của đất  nước, thậm chí lợi bất cập hại. Lý do rất đơn giản: bảo tồn là gìn giữ các loài bản địa ngay trong nơi sống tự nhiên của chúng, còn vườn thú mở làm điều ngược lại, đưa loài từ nơi khác đến và cải tạo nơi sống sẵn có để phục vụ khách tham quan. Đi kèm là nguy cơ thú ngoại lai sổng chuồng, mầm bệnh lạ, và nhu cầu thường xuyên về động vật có thể vô tình tiếp tay cho thị trường buôn bán động vật hoang dã, nơi Việt Nam vốn đã là một điểm nóng trên thế giới. 

    Vấnđề về môi trường & sống xanh

    Ngay ở những nơi có safari thật và nổi tiếng nhất thế giới, các nhà khoa học đã ghi nhận tác hại của du lịch đông người. Theo tổng hợp của National Geographic (7/2026), sự hiện diện dày đặc của con người, xe cộ và công trình làm động vật căng thẳng, giảm khả năng sinh sản và thay đổi tập tính.

    Vì vậy, giới chuyên gia khuyên một safari chất lượng cao chỉ nên đón ít khách: khoảng 30 giường trở xuống, mỗi khách có khoảng 160 ha không gian. So với chuẩn này, dự án Ba Vì với khoảng 27.000 khách mỗi ngày trên 581 ha chỉ dành cho mỗi người khoảng 200 m². Mức chênh lệch hàng nghìn lần cho thấy đây về bản chất là du lịch đại trà, không phải du lịch sinh thái theo đúng nghĩa khoa học.

    Nếu chủ đầu tư thực sự hướng tới du lịch nghỉ dưỡng sinh thái đích thực, cần tối đa hóa không gian thiên nhiên và tối thiểu hóa số lượng du khách cũng như mật độ xây dựng, dựa trên tính toán khoa học. Khi đó, dự án sẽ đóng góp cho du lịch địa phương bền vững, thay vì đô thị hóa rầm rộ thành một khu thương mại đại trà.

    2.2. VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ VÀ VÙNG ĐỆM: NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG THỂ THAY THẾ

    Vườn quốc gia Ba Vì, thành lập năm 1991, hiện rộng khoảng 9.700 ha trên địa phận Hà Nội và Phú Thọ, được bao quanh bởi vùng đệm rộng khoảng 35.000 ha. Núi Ba Vì là một trong số ít quần thể rừng tự nhiên còn sót lại, là lá phổi xanh và nguồn cung cấp nước sạch quan trọng cho Thủ đô.

    Theo Trang thông  tin quốc gia về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, nơi đây ghi nhận:

    • 1.209 loài thực vật bậc cao, trong đó 503 loài cây thuốc;

    • 342 loài động vật có xương sống (65 loài thú, 169 loài chim, 30 loài bò sát, 27 loài lưỡng cư);

    • 552 loài côn trùng;

    • 66 loài động vật có xương sống quý hiếm cần được bảo vệ.

    Một số loài là đặc hữu, như thằn lằn tai Ba Vì, mang chính tên ngọn núi và không sống ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Chỉ cách trung tâm Hà Nội khoảng 60 km, thiên nhiên đã tích lũy qua hàng nghìn năm một kho báu sinh học mà không số tiền nào có thể mua lại.

    Đồng hành với thiên nhiên là cộng đồng địa phương, với văn hóa, tín ngưỡng và tri thức về cách sử dụng thiên nhiên một cách bền vững. Những cộng đồng này đã sống qua nhiều thế hệ ở vùng đệm, dựa vào đồi thấp, rừng trồng, con suối, đồng ruộng và làng bản ở chân núi. Chính họ giúp giảm áp lực đô thị hóa lên rừng lõi, đồng thời giữ gìn hành lang sinh học để động vật di chuyển, kiếm ăn và sinh sản. 

    Khi vùng đệm bị bê tông hóa và chia cắt bởi đường sá, hàng rào, ánh đèn và tiếng ồn, rừng lõi dần trở thành một “hòn đảo” bị cô lập. Các quần thể động vật thu hẹp lại, ít giao lưu với nhau, và khi xuống dưới một ngưỡng đủ nhỏ sẽ tuyệt chủng. Các nhà sinh thái học gọi đây là phân mảnh sinh cảnh, một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mất đa dạng sinh học trên thế giới.

    Để giảm thiểu tác động, dự án cần dành ra một hành lang đủ rộng (IUCN đã có nhiều hướng dẫn kỹ thuật về điều này), trong đó có các hệ sinh thái tự nhiên đang phục hồi. Nhà đầu tư cũng cần hợp tác, hỗ trợ và tôn vinh các làng xóm có sinh kế dựa vào vùng đệm (báo cáo IPBES về Doanh nghiệp và Đa dạng sinh học có hướng dẫn doanh nghiệp cách hợp tác cùng địa phương để tạo ra nhiều giá trị cho dự án).

    Rừng Ba Vì còn là nơi khởi nguồn của nhiều con suối. Rừng giữ  nước mùa khô, làm chậm dòng chảy mùa mưa, chống xói mòn trên sườn dốc, điều hòa khí hậu, làm sạch không khí cho cả vùng phía tây Hà Nội, và hấp thụ khí carbon. Các nhà  khoa học gọi những lợi ích thiên nhiên cung cấp miễn phí cho con người là “dịch vụ hệ sinh thái”.

    Kho tàng hơn 500 loài cây thuốc là nền tảng của nghề thuốc nam truyền thống của người Dao. Núi Tản Viên là ngọn núi thiêng gắn với Tản Viên Sơn Thánh, một trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng người Việt. Nguồn nước sạch, đất đai màu mỡ và khí hậu mát mẻ cũng là nền tảng cho chăn nuôi bò sữa, trồng trọt, và chính ngành du lịch nghỉ dưỡng, tâm linh vốn đã có ở Ba Vì.

    Những giá trị này không thể thay thế. Một khu rừng tự nhiên không thể trồng lại trong vài năm, và một loài đặc hữu đã mất thì mất vĩnh viễn. Mất nguồn gen quý của Ba Vì cũng là mất đi những cơ hội kinh tế mà hôm nay ta còn chưa biết hết.

    Ngành dược phẩm là một ví dụ. Thị trường thuốc thế giới có giá trị hàng nghìn tỷ USD mỗi năm, và khoảng một phần tư số thuốc mới trong bốn thập kỷ qua có nguồn gốc từ thiên nhiên. Artemisinin, chiết từ cây thanh hao hoa vàng, đã cứu hàng triệu người khỏi sốt rét và đem về giải Nobel Y học năm 2015 cho một nhà khoa học Trung Quốc. Trước đó, nó chỉ là một loài “cây dại” dùng trong y học cổ truyền. Các ngành thực phẩm chức năng và mỹ phẩm thảo dược cũng đang tăng trưởng mạnh, và đều dựa trên cùng nguồn tài nguyên đó. 

    Riêng Vườn quốc gia Ba Vì đã có hơn 500 trong tổng số hơn 5.000 loài cây thuốc của Việt Nam, nhiều loài gắn với tri thức thuốc nam của người Dao và người Mường ở địa phương. Theo Nghị định thư Nagoya mà Việt Nam đã tham gia, lợi ích từ nguồn gen và tri thức truyền thống phải được chia sẻ công bằng với chính những cộng đồng đã gìn giữ chúng.

    Các nhà kinh tế học môi trường gọi đây là “giá trị lựa chọn”: giá trị của việc giữ lại một nguồn tài nguyên cho tương lai, khi khoa học cho phép sử dụng nó theo những cách hiện tại chúng ta chưa hiểu hết.

    Đặt cạnh quy mô ấy, chúng ta cần tự hỏi: So với rủi ro mất đi cả một kho tàng gen quý, một khu thương mại 10.000 tỷ đồng (khoảng 400 triệu USD) liệu có đáng là bao? Một khu thương mại với cây xanh công trình có thể xây ở bất cứ đâu, còn một nguồn gen tự nhiên vô giá như Ba Vì, một khi đã mất, sẽ mất vĩnh viễn.

    Cuối cùng, san đồi, đào hồ, mở đường có nguy cơ làm thay đổi dòng chảy và nguồn nước ngầm, gây xói mòn, bồi lắng suối, và phá vỡ những gì đã hình thành qua hàng nghìn năm. Kế hoạch  xây dựng của dự án cần được chính quyền đánh giá cụ thể, chi tiết, để bảo đảm không ảnh hưởng tới những dịch vụ thiên nhiên thiết yếu cho sinh kế người dân bản địa, cho kinh tế địa phương, và cho phúc lợi của cư dân Thủ đô.

    2.3. CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TOÀN CẦU

    Năm 2022, Việt Nam cùng gần 200 quốc gia thông qua Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh – Montreal. Khung này yêu cầu:

    • Đưa đa dạng sinh học vào mọi quy hoạch và quyết định phát triển (Mục tiêu 14);

    • Doanh nghiệp lớn đánh giá và công khai tác động của mình đến thiên nhiên (Mục tiêu 15);

    • Cộng đồng địa phương và đồng bào dân tộc thiểu số được tham gia đầy đủ, công bằng vào các quyết định, và quyền của họ đối với đất đai, tài nguyên được tôn trọng (Mục tiêu 22). 

    Hoạchđịnh và nguồn lực xây dựng sự nghiệp

    Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững mà Việt Nam cam kết thực hiện cũng đòi hỏi bảo vệ hệ sinh thái và nguồn  nước, ra quyết định có sự tham gia của người dân, thể chế minh bạch, và nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

    Năm 2007, Việt Nam bỏ phiếu ủng hộ Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Quyền của các dân tộc bản địa. Tuyên bố này nêu rõ các cộng đồng phải được thông  tin đầy đủ, từ trước, và được tự do đồng thuận hay không đồng thuận với những dự án ảnh hưởng đến đất đai và đời sống của họ.

    Trong nước, Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2030 (Quyết định 149/QĐ-TTg năm 2022) đã cụ thể hóa những cam kết đó. Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định dự án có nguy cơ tác động lớn phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và tham vấn cộng đồng dân cư chịu ảnh hưởng. Luật Lâm nghiệp 2017 hạn chế chặt chẽ việc chuyển rừng tự nhiên sang mục đích khác.

    Những cam kết này có ý nghĩa rất cụ thể đối với Ba Vì, nơi sinh sống lâu đời của các cộng đồng người Mường, người Dao và người Kinh, với sinh kế gắn liền với rừng, nương rẫy, chăn nuôi bò sữa và nghề thuốc nam.

    Khi một dự án rộng gần 600 ha được đề xuất mà chưa có bất kỳ buổi tham vấn nào, những quyền cơ bản của các cộng đồng này có nguy cơ bị bỏ qua: Quyền được biết, quyền được góp ý, quyền đối với đất đai và quyền được hưởng lợi. Chủ đầu tư cần có kế hoạch tham vấn cộng đồng địa phương và chính quyền, tránh vi phạm pháp luật quốc gia và ảnh hưởng tới các cam kết quốc tế mà Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện.

    ***

    3. PHÚC LỢI XÃ HỘI: AI HƯỞNG LỢI, AI TRẢ GIÁ?

    Khi xem xét chủ trương đầu tư, cần hỏi nhiều hơn là dự án có đem lại tiền hay không. Câu hỏi đúng là: lợi ích cho toàn xã hội có lớn hơn cái giá toàn xã hội phải trả hay không, và ai được, ai mất. 

    VỀ LỢI ÍCH

    Dự án có thể tạo việc làm trong giai đoạn xây dựng, một khoản thu thuế và doanh thu dịch vụ nhất định. Nhưng những lợi ích này nhỏ hơn và bất định hơn nhiều so với vẻ bề ngoài.

    Toàn bộ phép tính doanh thu, thuế và việc làm phụ thuộc vào lượng khách, mà con số 10 triệu lượt/năm là rất khó đạt được. Nếu lượng khách thực tế chỉ bằng một phần con số đó, lợi ích cũng giảm tương ứng. Trong khi đó, đất đã thu hồi, rừng đã chặt và công trình đã xây thì không thể quay lại như cũ. Hơn nữa, phần lớn lợi nhuận sẽ thuộc về nhà đầu tư và các bên cho vay, không ở lại địa phương.

    VỀ CHI PHÍ

    Rừng và đồi núi Ba Vì đang cung cấp miễn phí cho xã hội: giữ nước, điều tiết dòng chảy, chống xói mòn và lũ quét, điều hòa khí hậu, làm sạch không khí cho vùng phía tây Hà Nội, hấp thụ carbon, và là nơi sinh sống của nhiều loài. Đồng ruộng, đồng cỏ và nghề chăn nuôi bò sữa là sinh kế của hàng nghìn gia đình. Văn hóa Mường, Dao và tri thức thuốc nam là di sản không thể thay thế.

    Đây là những lợi ích có sẵn nhưng chưa hề được đo đếm. Khi dự án làm tổn hại chúng, chúng sẽ trở thành chi phí cho xã hội và chính quyền:

    • Chi phí hạ tầng, an ninh, y tế;

    • Chi phí xử lý ô nhiễm môi trường;

    • Chi phí bảo tồn đa dạng sinh học;

    • Rủi ro mất đa dạng sinh học vĩnh viễn;

    • Rủi ro xói mòn văn hóa. 

    Conngười và xã hội

    Nhiều tổn thất không thể đảo ngược: Một khu rừng tự nhiên bị chặt không thể mọc lại như cũ trong một đời người, và một nền văn hóa bị phá vỡ không thể dựng lại bằng tiền.

    VỀ SỰ CÔNG BẰNG

    Lợi ích của dự án tập trung vào một doanh nghiệp. Chi phí lại dàn trải lên người dân địa phương, cư dân Hà Nội và các thế hệ sau.

    VÌ VẬY

    Chủ đầu tư phải chứng minh được rằng lợi ích cho xã hội thực sự lớn hơn chi phí xã hội phải trả, thông qua một phân tích chi phí – lợi ích xã hội đầy đủ, do đơn vị độc lập thực hiện hoặc thẩm định. Phân tích đó phải:

    • Tính cả giá trị của rừng, nguồn  nước, đất nông nghiệp và văn hóa, dù chúng không có giá trên thị trường;

    •  Xây dựng các kịch bản với lượng khách thấp hơn nhiều so với 10 triệu;

    • Chỉ rõ ai được, ai mất, và cơ chế chia sẻ công bằng;

    • So sánh với các phương án thay thế, kể cả phương án không làm dự án và phương án du lịch dựa vào cộng đồng.

    Với những tổn thất không thể đảo ngược, nhà nước cần áp dụng nguyên tắc phòng ngừa: khi chưa chắc chắn về tác hại, không nên cho phép.

    ***

    4. KINH NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA PHÁT TRIỂN

    Ở các nước phát triển, làng quê truyền thống và cảnh quan nông thôn không bị coi là đất “chưa khai thác” cần nhường chỗ cho dự án lớn. Chúng được coi là tài sản quốc gia cần nuôi dưỡng. 

    NHẬT BẢN – SATOYAMA

    “Satoyama” là những vùng cảnh quan nông thôn truyền thống, nơi làng mạc, ruộng lúa, rừng, ao hồ và đồng cỏ đan xen, hình thành qua hàng trăm năm con người canh tác hài hòa với thiên nhiên. Satoyama chiếm khoảng 40% diện tích Nhật Bản, và được chính phủ coi là nền tảng của cả đa dạng sinh học lẫn bản sắc quốc gia.

    Bộ Môi trường Nhật Bản đã chọn ra 500 “vùng satoyama quan trọng” để ưu tiên bảo tồn, với các chương trình hỗ trợ tài chính cho người dân vừa canh tác vừa gìn giữ thiên nhiên. Năm 2010, tại Hội nghị Đa dạng sinh học COP10 ở Nagoya, Nhật Bản cùng Đại học Liên Hợp Quốc khởi xướng “Sáng kiến Satoyama” để đưa mô hình này ra thế giới.

    Du lịch satoyama được  xây dựng quanh chính đời sống người dân: khách ở nhà dân, làm ruộng, ăn món địa phương, học nghề thủ công.

    Làng Shirakawa-go, khoảng 1.600 cư dân với những ngôi nhà mái tranh cổ, được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 1995. Du lịch trở thành nguồn thu lớn nhất của ngôi làng, với hơn 2,15 triệu lượt khách năm 2019. Khi khách quá đông, chính quyền không mở rộng mà giới hạn: đặt trần số khách cho sự kiện, yêu cầu đặt chỗ trước, tăng phí đỗ xe, hạn chế xe vào làng. Ở đây, chính ngôi làng và đời sống của nó là “sản phẩm” du lịch, nên gìn giữ ngôi làng cũng là gìn giữ nguồn thu.

    VIỆT NAM – HEPA

    Vùng Thực hành Sinh thái Nhân văn (HEPA) tại xã Sơn Kim 1 (Hương Sơn, Hà Tĩnh) là một ví dụ. Từ năm 2002, chỉ bằng cách trồng cây bản địa và canh tác sinh thái cùng người dân, độ che phủ rừng đã tăng từ khoảng 39% lên 90%. Suối có nước trở lại, cây thuốc tự tái sinh, chim và linh trưởng quay về, và người dân sống bền vững dựa vào rừng.

    Ở Ba Vì, cộng đồng Làng Gạo cũng đang từng bước hướng tới cuộc sống hài hòa giữa con người với thiên nhiên như thế.

    CHÂU ÂU – AGRITURISMO Ở Ý

    Từ năm 1985, Ý đã có khung pháp lý riêng cho “agriturismo” (du lịch nông trại): chính các gia đình nông dân đón khách, khách ở ngay trong trang trại, ăn sản phẩm do trang trại làm ra và tham gia công việc đồng áng.

    Năm 2023, Ý có khoảng 25.900 cơ sở du lịch nông trại, đón hơn 4 triệu lượt khách với 15,5 triệu đêm lưu trú (58% là khách nước ngoài), tạo ra giá trị khoảng 1,16 tỷ euro. Nguồn thu này được chia cho hàng chục nghìn gia đình nông dân khắp đất  nước, thay vì tập trung vào một chủ đầu tư. Trang trại vẫn sản xuất, cảnh quan được giữ gìn, vì chính cảnh quan ấy là thứ du khách tìm đến. 

    BÀI HỌC

    Du lịch dựa trên làng quê và thiên nhiên thật có thể đem lại lợi ích kinh tế lớn, bền vững, và không kém cạnh tranh so với những mô hình chạy theo lợi ích ngắn hạn. Điểm đặc biệt là lợi ích được chia cho nhiều người, ở lại với người dân địa phương, và bảo tồn thay vì phá hoại các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Chi phí xã hội thấp, lợi ích xã hội cao, và cả hai kéo dài qua nhiều thế hệ.

    Du khách đến những nơi này để trải nghiệm cuộc sống thật của người dân, chứ không phải để ở trong khu nghỉ dưỡng với cây xanh kiểu đô thị và thiên nhiên nhân tạo, thứ có thể tìm thấy ở bất cứ đâu.

    Ba Vì có đủ điều kiện để đi theo con đường này: bản làng Mường, Dao với văn hóa riêng, nghề thuốc nam nổi tiếng, đồng cỏ và trang trại bò sữa, một vườn quốc gia với rừng núi đẹp, và ngay gần đó là làng cổ Đường Lâm, ngôi làng đầu tiên ở Việt Nam được công nhận là di tích quốc gia.

    Câu hỏi chính đáng cho các cơ quan quản lý: vì sao phương án phát triển này chưa được xem xét như một lựa chọn thay thế?

    ***

    5. CHỦ ĐẦU TƯ CẦN CÔNG KHAI NHỮNG GÌ?

    Bản đề xuất hiện nay mới cho biết dự án sẽ kinh doanh như thế nào. Trước khi dự án được chấp thuận, chủ đầu tư và cơ quan phê duyệt cần công bố công khai, bằng ngôn ngữ dễ hiểu, tối thiểu những thông  tin sau:

    1) Bản phân tích chi phí – lợi ích xã hội có thẩm định độc lập.

    2) Bản đồ quy hoạch: ranh giới dự án và khoảng cách tới Vườn quốc gia; diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng, đất nông nghiệp và đất ở bị ảnh hưởng; số hộ dân liên quan và phương án bồi thường, sinh kế thay thế. 

    Phầnmềm quản lý dự án

    3) Báo cáo đánh giá tác động môi trường do đơn vị độc lập thực hiện, dựa trên khảo sát đa dạng sinh học đủ các mùa, nêu rõ sức chịu tải của khu vực về nước, rác thải, giao thông và hệ sinh thái; kèm kế hoạch giám sát đa dạng sinh học công bố hằng năm và cam kết điều chỉnh hoặc tạm dừng nếu tác động vượt ngưỡng.

    4) Tham vấn cộng đồng địa phương, có biên bản công khai và trả lời bằng văn bản; kèm cam kết đo đếm được về việc làm cho người địa phương, quỹ phát triển cộng đồng, phương án giảm thiểu tác động lên làng xóm, và cơ chế khiếu nại rõ ràng.

    Nếu những thông tin trên không được công khai, sẽ không có đủ cơ sở để tin rằng dự án hiệu quả về kinh tế và không gây ảnh hưởng tiêu cực tới thiên nhiên, cư dân địa phương và xã hội.

    ***

    6. KẾT LUẬN

    Phát triển du lịch có thể đem lại cơ hội cho Ba Vì, nhưng cần dựa trên định hướng phát triển bền vững thay vì đặt lợi ích kinh tế ngắn hạn lên hàng đầu.

    Dự án đang được đề xuất hứa hẹn những lợi ích kinh tế ngắn hạn lớn nhưng bất định, dựa trên số liệu không thực tế. Trong khi đó, những tổn thất về phúc lợi người dân, văn hóa, đa dạng sinh học và chất lượng môi trường là có thể nhìn thấy được, với rủi ro lớn không thể đảo ngược.

    Các  nước phát triển đã chứng minh rằng gìn giữ văn hóa và thiên nhiên là con đường đúng cho phát triển bền vững, đồng thời đem lại lợi ích kinh tế lớn và công bằng hơn cho xã hội.

    Một dự án rộng gần 600 ha, xin được lựa chọn theo cơ chế đặc biệt và khởi công chỉ ba tháng sau khi nộp hồ sơ, cần được xem xét thận trọng hơn, chứ không phải nhanh hơn. 

    Phầnmềm quản lý dự án

    Chủ đầu tư có trách nhiệm chủ chốt trong việc đánh giá nghiêm túc, minh bạch và  khoa học về lợi ích và tác động của dự án, cũng như tham vấn cư dân địa phương để đưa ra giải pháp công bằng, theo đúng các luật và quy định mà Nhà nước Việt Nam đã ghi rõ.

    _________________

    NGUỒN THAM KHẢO

    1. Sở Tài chính Hà Nội (21/9/2026). Thông tin sơ bộ về đề xuất Dự án đầu tư Quần thể Du lịch sinh thái Ba Vì – Hợp phần Safari. https://www.sotaichinh.hanoi.gov.vn/so-tai-chinh-dang-tai-thong-tin-so-bo-ve-de-xuat-du-an-dau-tu-quan-the-du-lich-sinh-thai-ba-vi-hop-phan-safari-073644.html

    2. Marvar, A. (10/7/2026). Planning a safari? Here’s what you should know before you go – National Geographic. https://www.nationalgeographic.com/travel/article/how-to-choose-responsible-safari

    3. Công ước Đa dạng sinh học (2022). Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh – Montreal; Liên Hợp Quốc (2015). Chương trình Nghị sự 2030; Liên Hợp Quốc (2007). Tuyên bố về Quyền của các dân tộc bản địa.

    4. Quyết định 149/QĐ-TTg (2022); Luật Bảo vệ môi trường 2020; Luật Lâm nghiệp 2017.


    Không có nhận xét nào