Nhật Ngôn
29/9/2026
“…Nhưng rồi chính người Việt đã tự tay xé cái lề và lột tấm nhiễu của mình. Khi người ta đưa đấu tranh giai cấp vào làng, khi người ta hô “Trí, phú, địa, hào – Đào tận gốc, tróc tận rễ”, khi người ta biến “Sân đình ngập máu, đường thôn rợp cờ” thành chính sách, thì người ta đã dạy ngược lại toàn bộ Hiến pháp Tình:
Dạy rằng Bầu phải ghét Bí, phải đào gốc Bí.
Dạy rằng Người trong một nước phải đấu nhau cùng, chứ không phải thương nhau cùng.
Dạy rằng Máu chảy thì ruột phải cứng, phải vỗ tay.
Dạy rằng Gà cùng một mẹ phải đá nhau đến chết.
Dạy rằng Đói thì được cướp cho sạch, Rách thì được đấu tố cho thơm.
Dạy rằng Giấy đã rách thì được phép xé luôn cả lề.
Người Trung Quốc đô hộ nghìn năm không làm được việc xé lề, lột nhiễu đó. Chúng ta đã làm được chỉ trong 3 năm 1953-1956”.
Nếu “Bầu ơi thương lấy bí cùng” là tình làng, thì “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” là tình nước. Đây là điều luật ở tầm quốc gia, là đỉnh cao của Hiến pháp Tình.
“Cảo thơm lần dở trước đèn” – Nguyễn Du nói về Kiều. Nhưng trước Kiều cả nghìn năm, dân tộc này đã có một bộ cảo thơm khác được lần dở trước đèn dầu của mỗi nhà: Ca dao, tục ngữ. Ông bà ta thường truyền dạy cho con cháu mỗi khi gia đình đông đủ, hay những lúc có việc làng, có đám hiếu, đám hỷ.
Kho tàng đó không phải là những áng văn chương để đem đi thi thố mỹ thuật. Đó là Hiến pháp bất thành văn của dân tộc này. Là bộ luật đạo đức đã giữ cho dân tộc này tồn tại qua mấy nghìn năm Bắc thuộc, qua gần trăm năm Pháp đô hộ.
Nếu người Mỹ xây Hiến pháp thành văn của họ trên một chữ QUYỀN – quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc – thì ông bà ta xây Hiến pháp bất thành văn của mình trên một chữ duy nhất: TÌNH. Và chính chữ TÌNH đó là vốn liếng lớn nhất, là sức mạnh để Việt Nam không bị đồng hóa. Là sợi dây đoàn kết, tạo nên sức mạnh để dân Việt dựng nước, giữ nước và đánh đuổi ngoại xâm qua hàng ngàn năm lịch sử.
Trung Quốc có thể đốt sách, có thể bắt nộp thuế, có thể đưa quan cai trị, nhưng không thể phá được cái tình làng nghĩa xóm, cái máu chảy ruột mềm. Vì luật có thể đốt, nhưng tình thì không.
Bộ Hiến pháp Tình đó có những điều luật nào?
I. ĐIỀU LUẬT VỀ ĐỒNG BÀO: “BẦU ƠI THƯƠNG LẤY BÍ CÙNG, TUY RẰNG KHÁC GIỐNG NHƯNG CHUNG MỘT GIÀN.”
Đây là Lời nói đầu, là điều luật tối cao.
Bầu và Bí là hai giống khác nhau. Ông bà ta không nói “Bầu ơi thương lấy bầu cùng”. Ông bà ta nói “Bầu ơi thương lấy bí cùng”. Nghĩa là dù khác giống, khác họ, khác giàu nghèo, khác quan điểm, nhưng đã chung một giàn – chung một lũy tre, chung một dậu mồng tơi, chung một nước – thì phải thương nhau.
Đây là triết lý bao dung tuyệt đối. Nó ngược hoàn toàn với khẩu hiệu sau này “Trí, phú, địa, hào – Đào tận gốc, tróc tận rễ”. Theo Hiến pháp Tình, dù mày là Trí hay Bần, là Phú hay Cố, đã chung một giàn thì không được đào gốc nhau. Ai đào gốc người chung giàn, kẻ đó đã phản bội Hiến pháp của tổ tiên.
II. ĐIỀU LUẬT VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC GIA: “NHIỄU ĐIỀU PHỦ LẤY GIÁ GƯƠNG, NGƯỜI TRONG MỘT NƯỚC THÌ THƯƠNG NHAU CÙNG.”
Nếu “Bầu ơi thương lấy bí cùng” là tình làng, thì “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” là tình nước. Đây là điều luật ở tầm quốc gia, là đỉnh cao của Hiến pháp Tình.
Giải nghĩa: Nhiễu điều là tấm vải đỏ quý, phủ lấy giá gương – cái giá để gương thờ – để che bụi, để giữ cho gương không mờ, không vỡ. Tấm nhiễu và cái giá gương là hai vật khác nhau, nhưng một vật phải che chở, bao bọc cho vật kia. Cũng như người trong một nước, dù Bắc Trung Nam, dù Kinh Thượng, dù giàu nghèo, dù Trí Phú Địa Hào hay Bần Cố, đều là người một nhà, phải thương nhau cùng, phải lấy cái nhiễu điều của mình mà phủ lấy giá gương của nhau.
Đây là triết lý “Đồng bào” – cùng một bọc. Không có dân tộc nào trên thế giới có chữ “đồng bào” thiêng liêng như Việt Nam. Đồng bào nghĩa là cùng sinh ra từ một bọc trứng của mẹ Âu Cơ. Vì cùng một bọc, nên phải thương nhau.
Câu này cấm tuyệt đối tội chia rẽ dân tộc. Ai chia người trong một nước ra thành giai cấp để đấu nhau, ai lấy cớ “Trí, phú, địa, hào” để không thương nhau cùng, người đó đã xé tấm nhiễu điều, đã đập vỡ giá gương.
Khi đội cải cách hô “đào tận gốc, tróc tận rễ” 3-5% dân số mỗi làng – chính là 3-5% tinh hoa, trí thức, phú nông – thì họ đã làm gì? Họ đã lột tấm nhiễu điều ra khỏi giá gương, để cho giá gương vỡ nát giữa “sân đình ngập máu”. Họ đã dạy người trong một nước phải ghét nhau cùng, đấu nhau cùng, giết nhau cùng – ngược hoàn toàn với Hiến pháp của tổ tiên.
Và chính vì xé tấm nhiễu điều đó, nên “đồng quê đỏ máu, đường thôn rợp cờ”. Gương vỡ thì nước mất.
III. ĐIỀU LUẬT VỀ MÁU MỦ: “MÁU CHẢY RUỘT MỀM” – “CHỊ NGÃ EM NÂNG” – “ANH EM NHƯ THỂ TAY CHÂN, RÁCH LÀNH ĐÙM BỌC, DỞ HAY ĐỠ ĐẦN.”
Đây là bộ luật cấm tội huynh đệ tương tàn.
“Máu chảy ruột mềm”: Khi máu của người thân chảy, ruột mình phải mềm, phải đau. Không thể thấy “đồng quê đỏ máu” mà lại “đường thôn rợp cờ” mừng vui được. Thấy máu mà vẫn rợp cờ ăn mừng, thì đã mất hết nhân tính.
“Chị ngã em nâng”: Khi chị ngã, việc của em là nâng, chứ không phải đạp cho chết hẳn rồi cướp ruộng.
“Anh em như thể tay chân, rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”: Anh em là tay chân trên một cơ thể. Tay không thể chặt tay. Khi một tay rách, tay lành phải đùm bọc.
Mấy nghìn năm, ông bà ta dạy con cháu như vậy: Nghèo thì nghèo, nhưng không được đấu đá nhau. Đói thì đói, nhưng phải đùm bọc nhau.
IV. ĐIỀU LUẬT VỀ LÀNG XÓM: “KHÔN NGOAN ĐỐI ĐÁP NGƯỜI NGOÀI, GÀ CÙNG MỘT MẸ CHỚ HOÀI ĐÁ NHAU.” – “TỐI LỬA TẮT ĐÈN CÓ NHAU.” – “BÁN ANH EM XA MUA LÁNG GIỀNG GẦN.”
Đây là Luật Ngoại giao và Luật An ninh làng xã.
“Khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”: Người ngoài có ác với mình, thì mình đem sự khôn ngoan ra đối đáp với người ngoài. Nhưng gà cùng một mẹ – người cùng một làng, cùng một nước – thì không được đá nhau. Không được lôi người ngoài vào để hại người nhà. Không được rước đoàn cố vấn do Mao Trạch Đông cử sang vào để cho gà nhà đá nhau đến chết giữa sân đình.
“Tối lửa tắt đèn có nhau”: An ninh của làng là do láng giềng bảo vệ nhau. Vì vậy không được biến hàng xóm thành kẻ thù giai cấp.
“Bán anh em xa mua láng giềng gần”: Láng giềng còn quý hơn cả anh em xa. Đó là vốn liếng an ninh lớn nhất của người Việt.
V. ĐIỀU LUẬT VỀ NHÂN CÁCH: “ĐÓI CHO SẠCH, RÁCH CHO THƠM” – “GIẤY RÁCH PHẢI GIỮ LẤY LỀ.”
Đây là hai điều luật cuối cùng, giữ cho con người không thành con thú, giữ cho tờ giấy văn hiến không thành tro. Nó khuyên răn con người dù ở hoàn cảnh nghèo khó hay hoạn nạn đến đâu cũng phải giữ gìn phẩm giá, lòng tự trọng và đạo đức làm người.
“Đói cho sạch, rách cho thơm”: Đói thì đói, nhưng phải cho sạch – không được vì đói mà đi cướp ruộng, đấu tố. Rách thì rách, nhưng phải cho thơm – áo có rách nhưng nhân cách không được rách. Vì được vì đói, vì rách mà làm chuyện lừa gạt, gian lận, trộm cắp…
“Giấy rách phải giữ lấy lề”: Mỗi dân tộc là một tờ giấy. Có lúc hưng thịnh, có lúc suy vong, tờ giấy có thể rách – nghèo, đói, khố rách áo ôm. Nhưng cái lề – tức là đường biên, khuôn phép, giới hạn đạo đức làm người, cái lề của Bầu Bí chung giàn, của Nhiễu điều phủ giá gương, của Máu chảy ruột mềm, của Gà cùng một mẹ – thì phải giữ. Giấy có thể rách, nhưng lề không được rách.
KẾT LUẬN: KHI CÁI LỀ BỊ XÉ VÀ TẤM NHIỄU BỊ LỘT
Đó chính là nền văn hiến Việt Nam. Đó chính là vốn liếng lớn nhất.
Vốn liếng đó đã giúp Việt Nam tồn tại. Vì Trung Quốc có thể đốt sách, nhưng không thể đốt được cái lề, không thể lột được tấm nhiễu điều phủ lấy giá gương.
Nhưng rồi chính người Việt đã tự tay xé cái lề và lột tấm nhiễu của mình. Khi người ta đưa đấu tranh giai cấp vào làng, khi người ta hô “Trí, phú, địa, hào – Đào tận gốc, tróc tận rễ”, khi người ta biến “Sân đình ngập máu, đường thôn rợp cờ” thành chính sách, thì người ta đã dạy ngược lại toàn bộ Hiến pháp Tình:
Dạy rằng Bầu phải ghét Bí, phải đào gốc Bí.
Dạy rằng Người trong một nước phải đấu nhau cùng, chứ không phải thương nhau cùng.
Dạy rằng Máu chảy thì ruột phải cứng, phải vỗ tay.
Dạy rằng Gà cùng một mẹ phải đá nhau đến chết.
Dạy rằng Đói thì được cướp cho sạch, Rách thì được đấu tố cho thơm.
Dạy rằng Giấy đã rách thì được phép xé luôn cả lề.
Người Trung Quốc đô hộ nghìn năm không làm được việc xé lề, lột nhiễu đó. Chúng ta đã làm được chỉ trong 3 năm 1953-1956.
Và từ khi cái lề bị xé, tấm nhiễu bị lột, thì tờ giấy độc lập giành được ngày 2/9/1945 cũng chỉ còn là tờ giấy rách mất lề, và giá gương cũng vỡ nát.
Muốn xây lại đất nước, không phải bắt đầu từ việc viết thêm Hiến pháp thành văn. Phải bắt đầu từ việc dán lại cái lề đã rách, phủ lại tấm nhiễu điều lên giá gương – lật lại bộ cảo thơm trước đèn, đọc lại Hiến pháp bất thành văn đã bị chà đạp dưới sân đình ngập máu kia.
Vì không có cái lề đó, không có tấm nhiễu điều đó, không có vốn liếng văn hiến đó, thì mọi quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc được viện dẫn trong Tuyên ngôn cũng chỉ là giấy rách, và người trong một nước mãi mãi không thể thương nhau cùng.
Không có nhận xét nào