Header Ads

  • Breaking News

    Khi ưu thế sinh tồn trở thành giới hạn phát triển

     Tân Đạo Việt: Đại lộ mới cho Việt tộc trong thế kỷ chuyển đổi

    Khi ưu thế sinh tồn trở thành giới hạn phát triển

     Kỳ 3, Phần II

    Đinh Hoàng Thắng

    September 15, 2026

    “…Trường hợp Nguyễn Trường Tộ một lần nữa cho thấy khoảng cách giữa việc nhìn thấy khả năng Khai Mở và việc có đủ năng lực thể chế để biến khả năng ấy thành hiện thực.

    Việt Nam không thiếu những con người nhận ra thách thức của thời đại. Điều thường thiếu là những thiết chế biết lắng nghe họ, thử nghiệm đề xuất của họ và chấp nhận thay đổi những lợi ích đã định hình.

    Việt Nam vì thế có thể thay đổi rất nhanh mà chuyển hóa rất chậm.”.

    Saigon/TP.HCM. Photo: pixabay

    10. Khi ưu thế sinh tồn trở thành giới hạn phát triển

    Một năng lực sinh tồn trở thành giới hạn phát triển khi phương thức từng hữu hiệu trong tình trạng khẩn cấp bị biến thành cách quản trị bình thường.

    Quyền lực tập trung có thể giúp huy động nhanh trong chiến tranh nhưng làm suy yếu sáng kiến trong hòa bình. Bí mật có thể bảo vệ một tổ chức bị truy đuổi nhưng làm giảm minh bạch khi tổ chức ấy đã trở thành nhà nước. Kỷ luật có thể giữ một phong trào khỏi tan rã nhưng biến thành trừng phạt bất đồng khi tư duy độc lập không còn được dung nạp.

    Một năng lực then chốt khi ấy đông cứng thành một độ cứng cốt lõi.

    Đoàn kết chống ngoại xâm là một trong những sức mạnh rõ nhất của lịch sử Việt Nam. Nhưng khi hiểm họa bên ngoài đã qua, tinh thần đoàn kết ấy không tự động chuyển thành khả năng sống xây dựng với những khác biệt bên trong.

    Người Việt có thể tập hợp rất nhanh trước một kẻ thù chung, nhưng chia rẽ có thể kéo dài nhiều thế hệ khi bài toán chuyển thành phân chia quyền lực, lợi ích và trách nhiệm giữa chính người Việt với nhau.

    Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn, Tây Sơn – Nguyễn Ánh, rồi những xung đột ý thức hệ trong thế kỷ XX đều gợi lại cùng một vấn đề: khả năng xác định rõ “ta” và “địch” đặc biệt hữu ích trong chiến tranh nhưng biến thành trở ngại khi “phía bên kia” cũng thuộc về cộng đồng dân tộc.

    Sức chịu đựng cũng có hai mặt. Nó giúp con người sống qua nghèo đói, chiến tranh và thiên tai, nhưng cũng có thể khiến xã hội chịu đựng quá lâu những điều hoàn toàn có thể thay đổi. Một cộng đồng quen tôn vinh hy sinh có thể quên đặt câu hỏi, vì sao người dân luôn phải là người hy sinh, và liệu một nền quản trị tốt hơn có thể tránh được phần nào những đau khổ ấy hay không.

    Chịu đựng là một đức tính trước những gì không thể thay đổi. Nó trở thành vấn đề chính trị khi sự chịu đựng của dân chúng bị dùng thay cho trách nhiệm của người cầm quyền.

    Khả năng xoay xở và ứng biến của người Việt cũng đem lại nhiều thành công đáng kể. Trong thiếu thốn, người dân tìm được giải pháp bằng rất ít nguồn lực; doanh nghiệp thích nghi nhanh trước biến động; gia đình đầu tư mạnh mẽ cho tương lai con cái.

    Nhưng khi xoay xở thay thế cho thiết chế, xã hội sẽ lệ thuộc vào ngoại lệ hơn là quy tắc. Thành công có thể thuộc về người giỏi tìm đường vòng quanh những khiếm khuyết của hệ thống chứ không nhất thiết thuộc về người có năng lực nhất hoặc tuân thủ thủ tục công bằng.

    Cái khéo có thể đánh bại cái chuẩn. Quan hệ có thể thay thế pháp luật.

    Trường hợp Nguyễn Trường Tộ một lần nữa cho thấy khoảng cách giữa việc nhìn thấy khả năng Khai Mở và việc có đủ năng lực thể chế để biến khả năng ấy thành hiện thực.

    Việt Nam không thiếu những con người nhận ra thách thức của thời đại. Điều thường thiếu là những thiết chế biết lắng nghe họ, thử nghiệm đề xuất của họ và chấp nhận thay đổi những lợi ích đã định hình.

    Ở những khúc quanh như vậy, đôi khi xuất hiện những nhân vật bản lề: họ nhận ra phần nào logic của thời đại đang tới nhưng vẫn phải sống và hành động trong các thiết chế thuộc về thời đại đang qua.

    Bi kịch của họ không nhất thiết nằm ở chỗ họ luôn đúng hay ở việc họ thất bại. Nó nằm trong khoảng cách giữa năng lực của một số cá nhân nhận ra nhu cầu thay đổi và năng lực tự sửa sai của hệ thống mà họ đang phục vụ.

    Khoảng cách ấy tiếp tục xuất hiện trong lịch sử hiện đại.

    Nhiều chương trình cải cách có thể đề ra những mục tiêu rất tiến bộ, trong khi cơ chế tuyển dụng, phân bổ nguồn lực và trách nhiệm giải trình lại chống lại chính sự thay đổi đó. Tư tưởng mới phải đi qua những mạng lưới quyền lực cũ; chính sách cải cách có thể bị uốn lại để thích nghi với cấu trúc vốn là đối tượng mà nó muốn thay đổi.

    Vì vậy, một thất bại cải cách không phải lúc nào cũng chứng minh rằng hướng cải cách sai. Có khi một ý tưởng đúng hướng đi qua một cơ chế không đủ khả năng thực hiện, kiểm nghiệm và sửa chữa; chính những yếu kém của cơ chế làm hỏng nỗ lực cải cách.

    Việt Nam vì thế có thể thay đổi rất nhanh mà chuyển hóa rất chậm.

    Đổi Mới tạo ra tăng trưởng nhanh một phần vì trả lại cho xã hội một phần quyền chủ động kinh tế. Nhưng khi cải cách chạm trực tiếp vào cấu trúc quyền lực đã được định hình, tốc độ thay đổi chậm đi rõ rệt.

    Mỗi khi một cấu trúc cũ chạm giới hạn, nó có thể mở ra vừa đủ để tiếp nhận thêm nguồn lực và khôi phục sinh khí. Nhưng nếu những nguyên nhân từng tạo nên bế tắc không thay đổi, nhịp Khép – Mở có nguy cơ lặp lại: mở để thích nghi, rồi khép lại trước khi sự thích nghi trở thành chuyển hóa.

    Một xã hội vì thế phải đặt câu hỏi khó hơn: những gì đang được tích lũy hôm nay có đủ để biến lần mở tới thành một cuộc chuyển hóa thực sự, thay vì chỉ là một lần điều chỉnh tạm thời hay không?

    Trưởng Thành chỉ bắt đầu khi năng lực chịu đựng được chuyển thành năng lực ngăn ngừa những đau khổ có thể tránh; khi hy sinh được bổ sung bằng quyền tham gia; khi đoàn kết không còn đòi đồng phục tư tưởng; và khi sự linh hoạt vận hành trong những nguyên tắc không thể tùy tiện bẻ cong theo hoàn cảnh hay theo lợi ích của một nhóm người.

    Điều cứu một dân tộc hôm qua không mặc nhiên là điều đưa dân tộc ấy tới ngày mai.

    11. Những đứt gãy tích lũy và căn bệnh học nửa chừng

    Một điểm yếu thường xuyên trong lịch sử Việt Nam là năng lực phục hồi không phải lúc nào cũng đi cùng năng lực tích lũy.

    Những lần chuyển giao quyền lực nhiều khi đi kèm việc viết lại lịch sử, thay đổi tầng lớp tinh hoa và phủ định quá mức bên thất bại. Cái mới không chỉ sửa chữa cái cũ mà còn muốn chứng minh rằng trước mình hầu như chẳng có gì đáng kế thừa.

    Trong xã hội quân chủ, triều mới có thể hạ thấp triều trước để xác lập “thiên mệnh” của mình. Đến thời hiện đại, các ý thức hệ đưa sự phủ định đi xa hơn khi chia lịch sử thành tiến bộ và phản động, cách mạng và phản cách mạng, những lực lượng được đưa vào và những lực lượng bị loại khỏi ký ức chính thống.

    Hệ quả không chỉ là bất công với quá khứ.

    Nó làm nghèo hiện tại.

    Khi một trật tự chính trị chấm dứt, tri thức quản trị, luật pháp, giáo dục và văn hóa gắn với trật tự ấy rất dễ bị vứt bỏ cùng bộ máy quyền lực của nó. Người có chuyên môn có thể bị loại vì lý lịch; hồ sơ và ký ức bị bỏ quên; thành tựu của bên thất bại không được coi là một phần tài sản chung của dân tộc.

    Bên thắng vì thế phải xây dựng lại những năng lực mà lẽ ra có thể được kế thừa, điều chỉnh và phát triển.

    Cách ứng xử sau năm 1975 với một phần di sản Việt Nam Cộng hòa là trường hợp đáng được nhìn lại. Nhiều người có chuyên môn mất vị trí hoặc rời khỏi đất nước; kinh nghiệm tích lũy trong giáo dục, luật pháp, hành chính, kinh tế và giao tiếp quốc tế khó được đánh giá theo chính giá trị của chúng vì gắn với một chính thể đã thất bại.

    Việt Nam sau năm 1975 thống nhất lãnh thổ, nhưng đồng thời mất một phần vốn người và một phần ký ức đã tích lũy – những nguồn lực mà một tiến trình hòa giải khác có thể đã giữ lại được nhiều hơn.

    Đổi Mới sau đó khôi phục hoặc hợp thức hóa nhiều yếu tố từng bị giới hạn hay bác bỏ: kinh tế hộ, thị trường, doanh nghiệp tư nhân, quan hệ với phương Tây và vai trò ngày càng lớn của chuyên môn.

    Nhưng sự phục hồi ấy không phải lúc nào cũng đi kèm một cơ chế công khai để xem xét vì sao những lựa chọn trước đó đã thất bại.

    Một xã hội không thể học đầy đủ những sự thật cần thiết về thực tại nếu không thể gọi đúng tên sai lầm của mình.

    Và gọi tên sai lầm mới chỉ là bước đầu.

    Năng lực tự sửa sai đòi hỏi một chu trình đầy đủ hơn: sự thật phải có đường đi tới người ra quyết định; người phát hiện sai lầm phải có không gian để lên tiếng; trách nhiệm phải được truy tới chính sách và cơ chế chứ không dừng ở một cá nhân thuận tiện; và bài học phải được chuyển thành thay đổi khiến sai lầm khó tái diễn.

    Một hệ thống có thể rất giỏi huy động nhưng vẫn rất yếu về học hỏi nếu thành công luôn được ghi cho hệ thống, còn thất bại chủ yếu quy về cá nhân. Sửa sai khi ấy chỉ là thay người chứ chưa phải sửa những điều kiện đã sản sinh ra sai lầm.

    Không có khả năng thừa nhận sai lầm thì cũng không thể có năng lực học hỏi thực sự.

    Đứt gãy tích lũy gắn chặt với một căn bệnh khác: học nửa chừng.

    Việt Nam nhiều lần tiếp nhận thành tựu của một nền văn minh nhưng không hấp thụ đầy đủ những điều kiện đã sản sinh ra thành tựu ấy.

    Tiếp nhận thiết chế Nho giáo để xây dựng một bộ máy quan lại có học thức nhưng không phát triển tương xứng truyền thống tranh biện độc lập. Học kỹ thuật phương Tây nhưng dè dặt hơn nhiều với tự do tư tưởng. Tiếp nhận mô hình tổ chức Xô-viết mà không tạo đủ khoảng cách với những nguy cơ của quyền lực tập trung. Phát triển kinh tế thị trường nhưng không đồng thời làm trưởng thành đầy đủ pháp quyền, quyền sở hữu minh bạch và cạnh tranh thực sự bình đẳng.

    Việc học vì thế thường mang tính công cụ: lấy phần hữu ích trước mắt, tránh những gì khó tương thích với cấu trúc quyền lực hiện hữu.

    Khoa học được tôn vinh như động lực phát triển trong khi tự do học thuật còn bị giới hạn. Chuyển đổi số được thúc đẩy trong khi quyền riêng tư và quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân chưa theo kịp. Trí tuệ nhân tạo được tiếp nhận như phương tiện nâng cao hiệu quả quản trị nhưng đồng thời cũng có thể làm tăng năng lực giám sát bằng kỹ thuật.

    Cái mới được mời vào, nhưng đôi khi chính những điều kiện tạo nên sức mạnh chuyển hóa của cái mới lại bị giữ ở ngoài cửa.

    “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” vì thế không chỉ là cách ứng xử của cá nhân. Nó có thể trở thành phương thức một quốc gia tiếp nhận mô hình bên ngoài: lấy những gì giải quyết được nhu cầu trước mắt, điều chỉnh phần xung đột với cấu trúc hiện hành, rồi tuyên bố đã tiếp nhận chuẩn mực mới.

    Hệ quả là những thiết chế hiện đại có thể vận hành bằng những quan hệ tiền hiện đại; những tên gọi mới có thể chứa bên trong logic quyền lực rất cũ.

    Đó không phải hậu quả của thiếu thông minh.

    Trái lại, nó có thể là sản phẩm của một trí khôn thích nghi đã quá thành thạo trong việc giải quyết từng tình huống trước mắt. Chính khả năng ứng biến ấy, nếu không được nâng lên thành năng lực kiến tạo, rất dễ dẫn tới học nửa chừng.

    Khi xã hội quen với những giải pháp nhanh cho từng hoàn cảnh, việc xây dựng những hệ thống đòi hỏi thời gian, kỷ luật, minh bạch và nhất quán trở nên khó hơn. “Bước nhảy vọt” hấp dẫn hơn tích lũy âm thầm; chiến dịch dễ gây chú ý hơn thiết chế; thành tích đo đếm được dễ ca ngợi hơn những nền móng mà phải một thế hệ sau mới nhìn thấy giá trị.

    Muốn Khai Mở, Việt Nam phải học cách kế thừa mà không tôn thờ, đoạn tuyệt mà không quên lãng, học hỏi mà không chỉ bắt chước bề ngoài.

    Điều quyết định không phải đất nước nhập thêm bao nhiêu mô hình, mà là có thể hiểu chúng đến tận nền tảng, thử nghiệm trong điều kiện Việt Nam, công khai nhận sai và tiếp tục tích lũy tri thức qua các thế hệ hay không.

    Một dân tộc trưởng thành không có lý do gì phải xấu hổ vì học người khác.

    Điều đáng lo chỉ bắt đầu khi một xã hội học được rất nhiều nhưng tri thức tiếp nhận lại không làm lớn lên năng lực sáng tạo của chính mình.

    12. Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam: từ năng lực giải phóng đến giới hạn hòa giải

    Chủ nghĩa cộng sản không thể được giải thích đơn giản như một tư tưởng ngoại lai áp đặt lên Việt Nam.

    Nhưng nó cũng không thể được đồng nhất với toàn bộ lòng yêu nước, khát vọng độc lập hay sự hy sinh của những con người từng đi theo nó.

    Trong thế kỷ XX, phong trào cộng sản đem lại một tổ chức có kỷ luật, một ngôn ngữ giải phóng, phương pháp huy động quần chúng và mạng lưới quốc tế phục vụ cuộc đấu tranh chống thực dân. Nó hứa hẹn không chỉ độc lập dân tộc mà còn một trật tự xã hội bình đẳng hơn.

    Trong một đất nước nghèo, bị đô hộ và phân tầng sâu sắc, lời hứa ấy có sức hấp dẫn thực sự.

    Sức mạnh lịch sử của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam một phần nằm ở khả năng nối vấn đề dân tộc với vấn đề xã hội. Nó không chỉ kêu gọi đánh đuổi ngoại bang mà còn hứa thay đổi số phận của nông dân, công nhân và những nhóm ít tiếng nói trong trật tự cũ.

    Kỷ luật tổ chức, năng lực hoạt động bí mật và sự hỗ trợ của phong trào cộng sản quốc tế giúp nó vượt lên nhiều tổ chức quốc gia khác vốn phân tán hơn.

    Nhưng động cơ yêu nước của hàng triệu người Việt không thể giản lược thành niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Trường hợp Tạ Quang Bửu, đã được nhắc ở Phần I, là một gợi ý. Ông tham gia cuộc cách mạng năm 1945 rồi sau đó mới trở thành đảng viên. Một cá nhân không thể đại diện cho cả một thế hệ, nhưng hành trình ấy nhắc ta rằng đối với không ít trí thức và người dân Việt Nam, dân tộc đi trước học thuyết; học thuyết chỉ là một trong những con đường được lựa chọn để phụng sự dân tộc.

    Việc Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố giải tán tháng 11 năm 1945, trong khi tổ chức tiếp tục hoạt động kín trước khi công khai trở lại với tên Đảng Lao động Việt Nam năm 1951, cũng cần được đặt trong hoàn cảnh nỗ lực xây dựng một mặt trận dân tộc rộng hơn và xử lý những lo ngại trong nước lẫn quốc tế.

    Sự kiện ấy không cho phép kết luận giản đơn rằng xã hội Việt Nam nói chung bác bỏ chủ nghĩa cộng sản.

    Nhận định thận trọng hơn là sức hấp dẫn rộng nhất của phong trào không nằm ở lý thuyết Mác-xít thuần túy, mà ở khả năng gắn lý thuyết đó với độc lập, thống nhất, công bằng xã hội và khát vọng thoát khỏi thân phận thuộc địa.

    Chính sự kết hợp ấy tạo nên năng lực giải phóng.

    Nghịch lý xuất hiện khi một học thuyết từng đóng vai trò phương tiện giải phóng lại trở thành nguồn chính danh chính trị độc quyền của một quốc gia độc lập vốn có một lịch sử lâu dài hơn rất nhiều.

    Đấu tranh giai cấp đã đặt con người vào những phạm trù chính trị bị chi phối nặng bởi xuất thân. Cải cách ruộng đất không chỉ phân phối lại tài sản mà còn gây những thương tổn sâu rộng trong quan hệ cộng đồng. Việc chính trị hóa lý lịch gia đình đã làm mờ ranh giới giữa trách nhiệm cá nhân với căn cước được thừa hưởng.

    Quan trọng hơn, khi một tổ chức chính trị đồng thời tự đồng nhất mình với dân tộc và với “xu hướng tất yếu của lịch sử”, cạnh tranh chính trị trong nước dễ bị xem như phản bội, thay vì một khả năng bình thường của đời sống quốc gia.

    Một học thuyết nhân danh giải phóng con người khi ấy có thể tạo ra một cấu trúc mà chính con người không còn đầy đủ quyền lựa chọn con đường giải phóng của chính mình.

    Trong chiến tranh, kỷ luật và tập trung quyền lực mang lại ưu thế tổ chức đáng kể. Trong hòa bình, nếu không được chuyển hóa, chúng có thể trở thành nền tảng của độc quyền.

    Bộ máy tuyên truyền từng phục vụ huy động xã hội trong chiến tranh có thể tiếp tục quyết định ký ức nào được xem là hợp pháp. Cơ quan an ninh được xây dựng để chống xâm nhập từ bên ngoài có thể chuyển sang giám sát bất đồng bên trong. Khái niệm “địch” từ chiến trường bước vào đời sống chính trị, nơi phê phán chính sách vẫn có thể bị nhìn như sự thiếu trung thành với cộng đồng.

    Sau năm 1975, thống nhất lãnh thổ đã không dẫn đến thống nhất ký ức.

    Cải tạo kinh tế, các trại học tập, làn sóng thuyền nhân và di sản Việt Nam Cộng hòa trong nhiều năm chủ yếu được diễn giải bằng câu chuyện của bên chiến thắng. Cơ hội hòa giải sau chiến tranh vì thế chỉ được sử dụng một phần, trong khi logic thắng – thua kéo dài sang thời bình.

    Nhưng những giới hạn của mô hình cộng sản không biến mất chỉ vì niềm tin vào lý luận cộng sản suy giảm.

    Ở đây cần nhìn sâu hơn.

    Một hệ thống chính trị hiện đại không chỉ tồn tại nhờ tác phẩm của Marx hay Lenin, giáo trình ý thức hệ hoặc khẩu hiệu công cộng. Nó còn tồn tại bằng bộ máy quyền lực, mạng lưới lợi ích, cơ chế tuyển chọn nhân sự, quan hệ giữa tài sản và vị trí chính trị, ngôn ngữ chính danh và nỗi sợ bất ổn.

    Nó cũng sống trong những thói quen xã hội tích lũy lâu dài: tránh xa chính trị, tìm sự bảo trợ, tự kiểm duyệt và coi cấu trúc quyền lực hiện hữu gần như một sự thật bất biến của đời sống.

    Một ý thức hệ có thể suy yếu trong tâm trí con người nhưng tiếp tục sống rất lâu trong thiết chế.

    Sự phân biệt này rất quan trọng.

    Niềm tin vào một học thuyết chấm dứt không đồng nghĩa với những cơ chế được tạo ra dưới học thuyết ấy cùng lúc biến mất. Thiết chế, lợi ích, thói quen quyền lực và tâm lý xã hội không tan đi theo nhịp suy tàn của niềm tin ý thức hệ. Bởi vậy, thách thức lớn của bất kỳ cuộc chuyển đổi nào trong tương lai không chỉ là rời bỏ một trật tự cũ, mà còn là tránh mang nguyên vẹn những phản xạ sâu nhất của nó sang trật tự mới.

    Vì thế, bất kỳ sự chuyển đổi nào mai sau – dù mang tên gì – cũng không thể chỉ là thay biểu tượng, đổi thuật ngữ hay tuyên bố đoạn tuyệt với một học thuyết.

    Nếu quyền lực vẫn đứng ngoài sự chế ước hữu hiệu; nếu người thắng mới lại xóa bên thua mới; nếu bất đồng tiếp tục bị xem là phản bội; nếu xã hội vẫn đặt hy vọng vào một lãnh tụ có khả năng giải quyết những vấn đề vốn thuộc về thiết chế, thì trật tự mới rất có thể chỉ tái tạo ra những cơ chế của trật tự vừa bị thay thế.

    Bài học ấy rộng hơn bản thân chủ nghĩa cộng sản. Tên gọi chính trị có thể đổi nhanh hơn rất nhiều so với thói quen quyền lực, và xóa bỏ một giáo điều cũ tự nó không tạo nên một nền văn hóa trách nhiệm.

    Công lý đòi hỏi sự thật, trách nhiệm cá nhân và cải cách những thiết chế từng cho phép lạm quyền. Hòa giải đòi hỏi phẩm giá bình đẳng, quyền bất đồng và sự từ chối trả thù tập thể.

    Hai yêu cầu ấy không loại trừ mà cần đến nhau.

    Không có công lý, hòa giải dễ biến thành quên lãng cưỡng bức. Không có hòa giải, công lý lại có nguy cơ trở thành công cụ trừng phạt trong tay người đang nắm quyền.

    Chỉ khi lịch sử dân tộc được nhìn rộng hơn lịch sử của bất kỳ chính đảng nào, những dòng ký ức từng chia cắt người Việt mới có thể trở thành một phần của di sản đạo lý và tinh thần chung.

    Chủ nghĩa cộng sản khi ấy có thể được đặt trở lại đúng tỷ lệ lịch sử của nó: một chương đặc biệt quan trọng trong lịch sử Việt Nam hiện đại, huy động được những nguồn năng lượng rất lớn và gắn với những thành tựu không thể phủ nhận một cách hợp lý, nhưng đồng thời cũng mang những giới hạn và bi kịch sâu sắc – không phải khởi đầu, không phải kết thúc và càng không phải ý nghĩa tối hậu của lịch sử Việt Nam.

    Việt tộc đã tồn tại từ rất lâu trước khi các học thuyết chính trị hiện đại xuất hiện, và dân tộc ấy vẫn sẽ còn tồn tại sau khi nhiều học thuyết sẽ thay đổi, phai nhạt hoặc đi qua.

    Vì vậy, câu hỏi quyết định không phải một nhãn hiệu chính trị nào sẽ biến mất vào lúc nào.

    Câu hỏi là: đến thời điểm một trật tự lịch sử chạm giới hạn của chính nó, xã hội đã tích lũy được gì – đủ những con người độc lập, đủ tri thức, đủ lòng tôn trọng pháp luật, đủ trách nhiệm thể chế, đủ ký ức đã có khả năng đối thoại, đủ không gian cho sự thật và đủ kinh nghiệm hợp tác – để điều tiếp theo không chỉ là một biến thể khác của điều đã qua?

    Một chu kỳ mới, nếu xuất hiện, không tự nhiên tốt hơn chỉ vì chu kỳ cũ đã kết thúc.

    Nó chỉ trở thành một cuộc Khai Mở thực sự khi những điều kiện của Trưởng Thành đã bắt đầu hình thành: con người có khả năng tự chủ, pháp quyền, quyền lực chịu trách nhiệm, những ký ức có khả năng hòa giải và một xã hội đủ can đảm về mặt thể chế để phát hiện và sửa chữa sai lầm của chính mình.

    TIỂU KẾT PHẦN II

    Trường Tồn là một trong những thành tựu lớn của lịch sử Việt Nam, nhưng không phải tấm giấy miễn trừ cho những giới hạn của hiện tại.

    Di sản ấy chỉ tiếp tục nuôi dưỡng sự sống nếu người Việt biết phân biệt dưỡng chất với độc tố, sức bền với trì trệ, khoan dung với nhập nhằng, đoàn kết với phục tùng và linh hoạt với sự thiếu nguyên tắc.

    Hầu như mọi năng lực từng giúp người Việt tồn tại qua nhiều thế kỷ đều có hai mặt.

    Làng xã bảo tồn cộng đồng nhưng cũng có thể nuôi dưỡng cục bộ. Gia đình tạo sức bền nhưng có thể làm suy yếu nghĩa vụ đối với không gian công cộng. Thích nghi giúp con người vượt qua hiểm nguy nhưng cũng có thể kéo dài một môi trường bất hợp lý. Phi tuyệt đối hóa tạo điều kiện cho dung hợp văn hóa nhưng có thể làm nhòe ranh giới đúng – sai. Quyền lực tập trung tạo sức huy động phi thường trong khủng hoảng nhưng, khi trở thành trạng thái bình thường, lại làm suy yếu chính năng lực tự sửa sai mà phát triển lâu dài đòi hỏi.

    Những đứt gãy lịch sử nhiều lần cho phép Việt Nam phục hồi nhưng không giữ lại đầy đủ thành tựu của chu kỳ trước. Học nửa chừng đưa hình thức hiện đại lên bề mặt mà chưa chắc đã chuyển hóa tầng nền. Chủ nghĩa cộng sản huy động được những nguồn năng lượng rất lớn gắn với lòng yêu nước, bình đẳng và cuộc đấu tranh giành độc lập; nhưng khi trở thành nguồn chính danh chính trị độc quyền, nó đồng thời làm sống lại hoặc làm sâu thêm những trầm tích cũ của phục tùng, sợ khác biệt và loại ký ức của bên thất bại khỏi câu chuyện chung.

    Không giới hạn nào trong số ấy là định mệnh. Chúng được tạo ra trong lịch sử; chính vì vậy, chúng cũng có thể được nhận diện, điều chỉnh và vượt qua.

    Lịch sử không hứa hẹn rằng cứ sau suy thoái tất yếu sẽ là phục hưng. Không dân tộc nào được lịch sử bảo đảm cứu rỗi. Điều lịch sử cho phép ta hiểu khiêm tốn hơn nhưng cũng khắt khe hơn: không trạng thái lịch sử nào mặc nhiên vĩnh cửu, nhưng cơ hội thay đổi chỉ có ý nghĩa khi xã hội đã hình thành đủ năng lực để sử dụng cơ hội ấy.

    Ở đây, hai nhịp vận động xuyên suốt khảo luận gặp nhau.

    Tích – Tản giúp giải thích vì sao cộng đồng Việt Nam có thể phân tán mà không biến mất, rồi lại hội tụ khi điều kiện cho phép.

    Khép – Mở đặt ra câu hỏi khó hơn: sau mỗi lần hội tụ, xã hội có vươn tới một trình độ phát triển cao hơn hay chỉ dựng lại một cấu trúc quen thuộc dưới một cái tên khác?

    Đổi một trung tâm quyền lực lấy một trung tâm khác chưa phải Khai Mở. Đổi một thứ ngôn ngữ chính trị lấy một thứ ngôn ngữ khác trong khi vẫn giữ nguyên sự phục tùng, độc quyền ký ức và tâm lý mong chờ một “minh chủ” cứu nước thì chu kỳ cũ chưa thực sự kết thúc.

    Bởi vậy, vấn đề quyết định không chỉ là nhận ra khi nào một trật tự đang đi tới giới hạn, mà còn là những gì đã được chuẩn bị trước khi thời điểm chuyển đổi xuất hiện: đã có đủ những con người biết phán đoán độc lập chưa; tri thức có đủ sức sống qua biến động chính trị hay không; văn hóa trách nhiệm đã hình thành chưa; pháp quyền có đứng vững không; các dòng ký ức đã có thể trò chuyện với nhau chưa; và các thiết chế đã biết phát hiện, sửa chữa sai lầm thay vì che giấu chúng chưa?

    Một xã hội không nên đợi trật tự cũ kết thúc mới bắt đầu hỏi phải xây gì tiếp theo. Nền móng của cái mới nên được đặt từ trước, âm thầm tuy không hoàn hảo, ngay khi cái cũ vẫn còn đứng đó.

    Chuyển hóa bắt đầu khi cộng đồng thôi biến sức chịu đựng thành lý do để tiếp tục chịu đựng; thôi dùng chiến thắng để sở hữu sự thật lịch sử; thôi coi tài xoay xở của người dân là vật thay thế cho trách nhiệm của thiết chế; và thôi tin rằng một kỷ nguyên mới có thể xuất hiện chỉ bằng cách đặt cho nó một cái tên mới.

    Một thời đại mới chỉ thật sự bắt đầu khi con người và những thiết chế có khả năng sống trong thời đại ấy đã bắt đầu trưởng thành.

    Từ đây, câu hỏi không còn chỉ là vì sao Việt tộc đã sống sót. Câu hỏi trở nên khó hơn:

    Một dân tộc đã chứng minh được năng lực Trường Tồn phi thường, cần phải thay đổi điều gì trong chính mình để có thể tự nhận thức, tự sửa sai, chịu trách nhiệm và chủ động kiến tạo tương lai?

    Đấy là bước chuyển từ Trường Tồn sang Trưởng Thành. Và đó cũng là nội dung của PHẦN III.

    Đinh Hoàng Thắng

    (Mời đón đọc Kỳ 3: TRƯỞNG THÀNH: TỪ CỘNG ĐỒNG LỊCH SỬ ĐẾN CHỦ THỂ VĂN MINH

    Có thể đọc phiên bản tiếng Anh của Kỳ 2: https://www.cauxroundtable.org/2026/09/11/article-two-part-ii-resilient-continuity-its-capacities-and-limits/

    ——————

    Tài liệu tham khảo của Kỳ 2:

    1. Anderson, Benedict. Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism. Revised ed. London: Verso, 2006.

    2. Braudel, Fernand. Écrits sur l’histoire. Paris: Flammarion, 1969.

    3. Brocheux, Pierre, and Daniel Hémery. Indochine: la colonisation ambiguë, 1858–1954. Paris: La Découverte, 2001; English edition: Indochina: An Ambiguous Colonization, 1858–1954. Berkeley: University of California Press, 2009.

    4. Goscha, Christopher. Vietnam: A New History. New York: Basic Books, 2016.

    5. Guillemot, François. Viêt-Nam, fractures d’une nation: Une histoire contemporaine de 1858 à nos jours. Paris: La Découverte, 2018; updated as Histoire du Viêt Nam contemporain: De 1858 à nos jours. Paris: La Découverte, 2025.

    6. Marr, David G. Vietnam 1945: The Quest for Power. Berkeley: University of California Press, 1995.

    7. Papin, Philippe. Histoire de Hanoi. Paris: Fayard, 2001.

    8. Taylor, Keith Weller. A History of the Vietnamese. Cambridge: Cambridge University Press, 2013.

    9. Toynbee, Arnold J. A Study of History. London: Oxford University Press, 1934–1961.

    10. Trần Ngọc Vương. Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ. 2 tập. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2025.

    11. Trần Quốc Vượng. Văn hóa Việt Nam: Tìm tòi và suy ngẫm. Hà Nội: Văn hóa Dân tộc / Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, nhiều lần xuất bản.

    12. Woodside, Alexander Barton. Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1971.

    13. Kiernan, Ben. Việt Nam: A History from Earliest Times to the Present. New York: Oxford University Press, 2017.

    14. Bradley, Mark Philip. Vietnam at War. New York: Oxford University Press, 2009.


    Không có nhận xét nào