Header Ads

  • Breaking News

    Miền ký ức giữa lòng đô thành (tùy bút 8 về Sài Gòn)

    Nguyễn Đông A

     September 1, 2026

    Chùa Vĩnh Nghiêm. Photo: Bùi Thụy Đào Nguyên

    QUẬN BA – MIỀN KÝ ỨC GIỮA LÒNG ĐÔ THÀNH

    Tôi vẫn hay nghĩ, giữa cái ồn ào xô bồ của Sài Gòn hôm nay, Quận 3 giống như một người đàn bà đứng tuổi, đi qua bao lần đổi tên đổi họ mà dáng đi, giọng nói vẫn cứ nền nã như thuở ban đầu.

    ĐẤT CŨ, TÊN MỚI

    Ngoái lại năm 1889, khi Sài Gòn còn chia làm hai quận, ai ngờ đến tháng Chạp năm 1920 mới có thêm Quận 3 chen vào giữa. Rồi năm 1931, Sài Gòn – Chợ Lớn nhập lại thành một, Quận 3 cứ vậy trôi theo, khi thì thuộc Khu Sài Gòn – Chợ Lớn, lúc lại về với Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn, đến năm 1956 mới chính thức là con của Đô thành Sài Gòn. Tên phường cũng đổi xoành xoạch, từ Bàn Cờ, Chí Hòa, Yên Đổ những năm 1959, đến Cộng Hòa, Trương Minh Giảng, Phan Đình Phùng những năm 1974, rồi 1988 lột xác thành mười hai phường mang tên số cho gọn, dễ quản. Và đến năm 2025, một lần nữa đất này lại thay áo mới, giải thể Quận 3 cũ, gom lại còn ba phường: Bàn Cờ, Xuân Hòa và Nhiêu Lộc.

    Đổi tên hoài vậy mà đất vẫn là đất đó. Phía bắc giáp Phú Nhuận, Tân Bình, phía đông kề Quận 1, phía tây sát Quận 10. Con đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa nối dài qua Nguyễn Văn Trỗi, người ta gọi vui là “con đường ngoại giao”, vì nó nối sân bay Tân Sơn Nhất thẳng tới Dinh Độc Lập. Biết bao đoàn xe, biết bao câu chuyện đã đi qua trên con lộ ấy. Cùng với Quận 1, Quận 5, đây là ba miền đất còn giữ được cái thần thái riêng của đô thành Sài Gòn xưa. Những biệt thự thời Pháp nép mình dưới bóng cây, mật độ xanh dày đặc hiếm nơi nào bì kịp. Và trong cái không gian rợp bóng lá ấy, những ngôi chùa cổ vẫn đứng lặng lẽ, như những chứng nhân già nua kể chuyện đời cho ai muốn nghe.

    ĐÓA SEN THỨC GIỮA ĐÊM – CHÙA PHÁP HOA

    Ở phường Nhiêu Lộc, ngay bên dòng kênh cùng tên, một ngôi chùa hiện diện mà ban ngày cứ khiêm nhường nép mình trong màu xanh cây cỏ, để rồi khi đêm buông, nó bỗng bừng sáng rực rỡ như một đóa sen nở giữa bóng tối, đó là chùa Pháp Hoa. Tên “Pháp Hoa” mang nghĩa “hoa của Phật pháp”, ý nói sự lan tỏa giáo lý như hương sen thoang thoảng giữa cõi đời ô trọc.

    Chùa do Hòa thượng Thích Tuệ Hải dựng năm 1967, giữa thời buổi khó khăn nên ban đầu cũng chỉ đơn sơ, chủ yếu để thờ Phật và làm chỗ nương náu cho chư tăng. Ngài viên tịch năm 1982, giao lại cho Sa di Thích Tâm Thông gánh vác suốt mười sáu năm ròng. Đến năm 1999, Thượng tọa Thích Thọ Lạc về trụ trì, vận động Phật tử chung tay xây dựng lại theo mô hình kiến trúc Phật giáo miền Bắc, hoàn thành khoảng 2004 – 2005. Năm 2020, Thượng tọa Thích Quảng Minh là vị trụ trì đời thứ tư.

    Kiến trúc chùa gồm ba tầng. Tầng trệt dùng cho lễ hội, hội họp, tầng hai thờ chư vị Tổ sư, tầng ba là điện Phật trang nghiêm, tôn thờ Bổn Sư Thích Ca ở giữa, hai bên là Quan Âm và Địa Tạng. Tượng đều tạc bằng gỗ mít thơm nhẹ. Nhưng điều làm người ta nhớ chùa Pháp Hoa nhất không phải là kiến trúc, mà là đêm hoa đăng. Vào rằm tháng Tư âm lịch vào dịp Phật Đản, hàng ngàn ngọn hoa đăng được thả xuống dòng kênh Nhiêu Lộc. Nhiều năm lên tới sáu ngàn, có năm vài chục ngàn ngọn vào đúng lễ hội hoa đăng ngày 12/4. Mỗi ngọn đèn trôi đi mang theo một điều ước, một lời cầu bình an cho người thân. Đứng nhìn cả dòng kênh lấp lánh ánh đèn trôi lững lờ trong đêm, tôi lại nghĩ, con người chẳng cần đi đâu xa để tìm sự tĩnh lặng, chỉ cần một buổi tối bên bờ kênh này, giữa muôn ngàn ước nguyện nhỏ nhoi của người đời, là đủ thấy lòng mình nhẹ lại.

    BÓNG DÁNG ĐẤT BẮC GIỮA TRỜI NAM – CHÙA VĨNH NGHIÊM

    Cách đó không xa, trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, sừng sững một công trình bê tông cốt thép mà mang trọn hơi thở kiến trúc gỗ miền Bắc, đó là chùa Vĩnh Nghiêm. Hai vị Hòa thượng Thích Tâm Giác và Thích Thanh Kiểm, từ đất Bắc vào Nam hoằng pháp, đã lấy nguyên mẫu ngôi chùa gỗ cùng tên ở làng Đức La, Bắc Giang, chỗ từng là trung tâm của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Lý để dựng nên chùa này. Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng vẽ kiểu, khởi công năm 1964 trên nền đất thấp bên rạch Thị Nghè, phải chở tới 40 ngàn mét khối đất từ xa lộ Biên Hòa về san lấp, tốn kém 98 triệu đồng thời giá bấy giờ. Đến năm 1971 thì hoàn thành

    Bước vào sân chùa, ngước lên là thấy ngay hình tượng “Lưỡng Long Chầu Nguyệt” uốn lượn trên mái ngói cong vút. Rồng ở đây được chạm khắc thanh thoát, không nặng nề, như nhắc người tu hành về sức mạnh nội tại để vượt qua tham sân si. Rồi tháp Quán Thế Âm bảy tầng cao gần bốn mươi mét, con số bảy tượng trưng cho Thất Bồ Đề Phần, sự giác ngộ. Và trên những đỉnh tháp, bức bình phong, người ta còn bắt gặp bánh xe Pháp Luân tám nan hoa, tượng trưng cho Bát chánh đạo. Con đường tám nhánh dẫn con người thoát khỏi khổ đau. Riêng quả đại hồng chung mang tên “Chuông Hòa Bình” lại là món quà từ chùa Entsu-in, Nhật Bản, gửi tặng để cầu cho đất nước sớm thanh bình.

    Tòa nhà trung tâm có Phật điện xây theo kiểu chữ Công, Bái điện dài ba mươi lăm mét thờ Phật Thích Ca cùng hai vị Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, chung quanh là tranh La Hán, bao lam tứ linh cửu long chạm trổ công phu. Ngoài tháp Quán Thế Âm, chùa còn có tháp Xá Lợi Cộng đồng bốn tầng dựng năm 1982, và tháp đá Vĩnh Nghiêm khánh thành tháng 12 năm 2003, ngôi tháp đá thờ cố Hòa thượng Thích Thanh Kiểm, người có công khai sáng ngôi chùa. Đứng giữa những tầng tháp cổ kính ấy, mới thấy người ta mang cả một vùng trời Bắc Giang vào lòng Sài Gòn, để những ai xa quê ấy vẫn còn chỗ mà nhớ về cội nguồn. Kiến trúc không chỉ để nhìn, mà còn để neo giữ ký ức của cả người di cư.

    NƠI THỜ XÁ LỢI PHẬT – CHÙA XÁ LỢI

    Góc đường Bà Huyện Thanh Quan – Sư Thiện Chiếu có một ngôi chùa khác cũng gắn liền với biến động lịch sử Phật giáo miền Nam, chùa Xá Lợi. Khởi công năm 1956, dưới bàn tay hai kiến trúc sư Trần Văn Đường, Đỗ Bá Vinh và sự điều hành công trường của kỹ sư Dư Ngọc Ánh, Hà Tố Thuận, chùa hoàn thành năm 1958 nhờ sự đóng góp của Phật tử hai mươi mốt tỉnh miền Nam. Tên gọi “Xá Lợi” vốn từ cái biển đề “Công trình Chùa thờ Xá Lợi Phật” mà người dân quen miệng gọi tắt, rồi Hòa thượng Khánh Anh thuận theo lòng người đặt tên chính thức luôn như vậy.

    Chánh điện dài 31 mét, rộng 15 mét, chỉ tôn trí một tượng Phật Thích Ca bằng bột đá màu hồng do Trường Mỹ nghệ Biên Hòa tạo tác năm 1958, năm 1969 được thếp vàng toàn thân. Trên tường là 15 bức tranh của giáo sư Nguyễn Văn Long, kể lại cả cuộc đời Đức Phật từ lúc đản sinh đến khi nhập Niết Bàn. Tháp chuông bảy tầng cao ba mươi hai mét, từng là tháp chuông cao nhất Việt Nam, cho đến khi chùa Linh Phước ở Đà Lạt vượt qua, bên trong treo đại hồng chung nặng hai tấn đúc theo mẫu chuông Thiên Mụ xứ Huế.

    Nhưng điều khiến chùa Xá Lợi khác biệt với chùa khác ở vai trò lịch sử của nó. Đây từng là trụ sở Hội Phật học Nam Việt từ năm 1951, là nơi tổ chức thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất cuối năm 1963, từng làm cơ sở giảng dạy cho Viện Đại học Vạn Hạnh, rồi lại là trụ sở Văn phòng II Giáo hội Phật giáo Việt Nam suốt hơn một thập niên. Một ngôi chùa mà đi qua bao thăng trầm của lịch sử tôn giáo miền Nam, từ đó mới thấy có những viên gạch không chỉ xây nên tường, mà còn xây nên chặng đường tinh thần cho một thế hệ.

    ÁNH TRĂNG KHMER BÊN KÊNH NHIÊU LỘC – CHÙA CHANTARANGSAY

    Chùa Chantarangsay, Q.3. Hình do tác giả cung cấp

    Rồi có một ngôi chùa mang trong mình một câu chuyện khác hẳn, chùa Chantarangsay, người dân hay gọi là chùa Miên, chùa Khmer, chùa Candaransi. Năm 1946, Hòa thượng Lâm Em, người Khmer gốc Sóc Trăng từng làm Hiệu trưởng trường Phật học ở Phnôm Pênh, trong một chuyến đi tìm đất dựng chùa cho cộng đồng Khmer đang lánh chiến tranh về Sài Gòn, dừng chân bên bãi bồi lầy lội của kênh Nhiêu Lộc. Ông dựng lên ngôi chùa đầu tiên, đặt tên Chantarangsay, nghĩa là Ánh Trăng, tượng trưng cho sự sáng suốt, giác ngộ. Ban đầu chỉ là nhà sàn đơn sơ, đến năm 1949 mới xây chánh điện bằng bê tông, hoàn thành năm 1953.

    Chùa ở tại đường Trần Quốc Thảo, rộng 4.500 mét vuông, đã qua bảy lần trùng tu. Cổng chùa đúc xi măng, bốn cột nâng mái bằng, trên đỉnh cột là tượng cầyno biểu trưng cho sắc đẹp và sức mạnh, còn trên mái là ngọn tháp tứ giác chín tầng. Chánh điện hai tầng, bốn cổng, quay mặt về hướng Đông, hướng mặt trời mọc, cũng là hướng Đức Phật thành đạo trong đêm Rằm Vesak. Nền chánh điện được xây cao hơn hẳn xung quanh, ngụ ý về ngọn núi Tu-di trong thần thoại Ấn Độ. Giữa điện, kim thân Phật Thích Ca được tạo hình năm tầng tòa sen, mỗi tầng một tư thế tu hành, còn trên mái ba tầng là ba ngọn tháp tượng trưng Tam Bảo, mỗi tháp tám cấp ứng với Bát Chánh Đạo, chóp cao nhất là biểu tượng Niết Bàn.

    Chùa chỉ thờ duy nhất Đức Phật Thích Ca, không phối thờ Bồ Tát hay thần linh nào khác, đúng theo giáo lý Nam Tông. Hơn nửa thế kỷ qua, nơi đây không chỉ là chốn tu hành mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Khmer, gìn giữ các lễ hội truyền thống như Chôl Chnăm Thmây, Ok Om Bok và mở những lớp dạy chữ Khmer miễn phí cho cả trẻ em lẫn người lớn. Đó cũng là cách gìn giữ ngôn ngữ, gìn giữ căn cước của một dân tộc giữa lòng đô thị. Mang tên Ánh Trăng, ngôi chùa được dựng lên trên bãi bồi hoang vắng năm nào, nay đã trở thành nơi neo giữ bản sắc của cả một cộng đồng xa quê. Và phải chăng, chính cái tên ấy cũng là thứ ánh sáng dịu dàng soi đường để con người luôn nhớ về cội rễ của mình.

    CHUYẾN TÀU CUỐI CỦA MỘT VÙNG ĐẤT – GA SÀI GÒN

    Và rồi, giữa những mái chùa cổ kính, tôi lại nghĩ tới Ga Sài Gòn, nơi cũng mang trong mình một thứ linh thiêng khác, sự chờ đợi, sum họp và chia ly. Ga Sài Gòn ngày nay, còn gọi là Ga Hòa Hưng, nằm ở phường Nhiêu Lộc, là điểm cuối của tuyến đường sắt Bắc – Nam, cách trung tâm thành phố chỉ một cây số. Ga gốc do người Pháp xây gần chợ Bến Thành, khánh thành năm 1885, sau dời về vị trí Công viên 23 Tháng 9 ngày nay, hoàn thành năm 1915. Đến năm 1978, khi ga chính dời về Bình Triệu, người ta nâng cấp ga hàng hóa Hòa Hưng cũ thành ga hành khách, và đến năm 1983 đi vào hoạt động cho tới bây giờ. Mỗi độ giáp Tết, sân ga lại rợp người xếp hàng mua vé, dù từ năm 2007 việc bán vé qua mạng đã bớt đi phần nào cảnh chen chúc. Nhưng dù công nghệ có đổi thay, cái không khí rộn ràng, hối hả của những chuyến tàu cuối năm, những cái ôm vội trên sân ga, vẫn cứ y nguyên như bao đời nay. Năm 2025 vừa rồi, khi về Việt Nam tôi đã thử đến đây đi tàu vài lần. Tàu hiện đại và chạy nhanh hơn xưa. Sân ga cũng trật tự và bớt xô bồ, phức tạp hơn.

    Tôi luôn thấy Quận 3 như một cuốn sổ tay ghi chép đủ đầy những cung bậc tâm linh và thế tục của Sài Gòn. Chùa Pháp Hoa lung linh trong đêm hoa đăng, chùa Vĩnh Nghiêm mang cả hồn Bắc vào đất Nam, chùa Xá Lợi lặng lẽ chứng kiến bao biến động lịch sử, chùa Chantarangsay gìn giữ bản sắc của một dân tộc, và cả ga xe lửa nơi biết bao cuộc đời gặp gỡ rồi chia xa. Mỗi nơi đều lưu giữ một câu chuyện riêng, để Quận 3 lặng lẽ cất giữ trong lòng mình một phần ký ức chung của thành phố. Ai từng ghé qua, hẳn cũng có lúc thấy mình như chạm vào miền ký ức ấy.

    DUY TUỆ THỊ NGHIỆP – NHỚ VẠN HẠNH

    DƯỚI BÓNG CÂY VẠN HẠNH

    Photo: Thư Viện Hoa Sen

    Hôm nay, tôi muốn viết về Viện Đại học Vạn Hạnh, một ngôi trường đã lùi vào quá khứ nhưng chưa bao giờ rời khỏi ký ức của tôi. Đã không biết bao lần tôi tự hỏi, điều gì cứ âm thầm níu chân mình trở lại con đường Lê Văn Sỹ, đoạn gần ngã tư Trần Quốc Thảo, mỗi khi có dịp về Sài Gòn.

    Phải chăng vì tôi từng học ở đó? Không hẳn, bởi những năm tháng sinh viên của tôi đâu chỉ gắn với một ngôi trường. Nơi đây tôi mới học sau này. Vì bạn bè? Điều đó đúng, nhưng vẫn chưa đủ để giải thích hết.

    Nghĩ đi nghĩ lại, tôi hiểu mình trở về chỉ vì muốn tìm lại một quãng đời đã ở rất xa. Đó là nơi tuổi trẻ của tôi từng lặng lẽ đi qua dưới những tán cây xanh, men theo những hành lang cũ và bước vào những giảng đường mà thời gian đã làm đổi khác.

    Bây giờ, ít người còn nhớ nơi ấy từng mang tên Viện Đại học Vạn Hạnh. Sau năm 1975, cơ sở ấy trở thành một phần của Trường Đại học Sư phạm. Sinh viên đến rồi đi, lớp học thay đổi, những thế hệ giảng viên cũng dần dần khác trước. Thời gian cứ âm thầm làm công việc của nó, không vội vàng mà cũng chẳng đợi ai. Nhưng ký ức của con người đôi khi lại vẫn cố níu lại một chút gì đó, như giữ một chiếc lá khô ép giữa trang sách cũ. Tôi học ở đây vào những năm đầu của thập niên 1980. Khi ấy, cái tên Vạn Hạnh đã lùi vào lịch sử, nhưng cái hồn của ngôi trường dường như vẫn còn quanh quẩn đâu đó. Nhiều dãy nhà vẫn vậy. Khoảng sân vẫn vậy. Ở đây có những khu vực là chỗ ở cho người giảng dạy và ký túc xá cho sinh viên.

    Thật ra, tôi vào ký túc xá không phải vì không có chỗ ở. Má tôi là người Sài Gòn, gia đình vẫn có chỗ ở bên ngoài. Vậy mà tôi lại xin vào sống trong ký túc xá. Bạn bè hỏi, tôi chỉ cười. Tuổi trẻ đôi khi có những lựa chọn chẳng cần lý do gì lớn lao. Tôi muốn sống như một sinh viên thật sự, muốn biết cái cảm giác phải tự lo từng bữa cơm, từng bộ quần áo, từng đồng tiền ít ỏi trong túi. Tôi muốn nếm cái vị chật vật của đời sinh viên. Những năm ấy, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn. Phòng ở đơn sơ. Quạt máy có khi quay lạch cạch suốt đêm mà hơi nóng vẫn quẩn quanh. Mỗi người một chiếc giường gỗ nhỏ, nằm ở giường bên dưới hoặc tầng trên, vài quyển sách, ít bộ quần áo. Vậy mà lạ, chẳng ai thấy mình nghèo. Buổi tối học bài dưới ánh đèn vàng, nghe tiếng bạn cùng phòng trở mình, tiếng xe ngoài đường vọng vào từng đợt, tôi lại thấy lòng bình yên đến lạ. Thì ra, hạnh phúc của tuổi mới quá hai mươi đôi khi chỉ cần có vậy.

    Một người bạn hỏi vui:

    – Mày ở ngoài cho sướng, vô đây làm gì? Tôi cười:

    – Để sau này còn có cái mà nhớ.

    Bạn tôi phá lên cười, cho rằng tôi nói chuyện viển vông. Mấy chục năm sau, chính tôi mới hiểu câu trả lời ngày ấy lại đúng hơn mình tưởng. Đời người có nhiều thứ càng đủ đầy càng chóng quên. Những ngày thiếu thốn mà lòng vẫn đầy hy vọng mới ở lại rất lâu trong ký ức.

    Về sau, khi tìm hiểu nhiều hơn, tôi mới biết mình đã đi học trên một mảnh đất mang theo biết bao lớp trầm tích của lịch sử giáo dục Việt Nam. Trước khi trở thành cơ sở của Đại học Sư phạm, nơi này từng là một viện đại học rất đặc biệt trong lịch sử giáo dục Việt Nam. Viện Đại học Vạn Hạnh là viện đại học tư thục do Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thành lập vào năm 1964, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Đây cũng là viện đại học Phật giáo đầu tiên ở nước ta được tổ chức theo mô hình đại học đa ngành, chứ không chỉ đơn thuần đào tạo tăng ni hay nghiên cứu Phật học.

    Điều làm tôi kính trọng nhất không nằm ở quy mô hay cơ sở vật chất, mà ở tầm nhìn của những bậc tiền nhân. Họ không xem giáo dục chỉ là chuyện truyền đạt kiến thức. Họ muốn đào tạo con người biết sống, biết suy nghĩ, biết mở rộng trí tuệ để bước vào đời với một tâm thế lành mạnh và tự do.

    Ngẫm kỹ mới thấy, đó là một khát vọng rất lớn.

    Suốt nhiều thập niên trước đó, phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam từ những năm 1920 chủ yếu hướng đến việc đào tạo tăng tài và nâng cao trình độ Phật học. Những vị tôn túc đi đầu thời ấy chưa ai dám nghĩ rằng một ngày kia Phật giáo Việt Nam sẽ xây dựng được một viện đại học đa ngành, nơi sinh viên có thể học từ triết học, văn chương cho đến khoa học xã hội, giáo dục hay khoa học ứng dụng. Vậy mà chỉ hơn ba mươi năm sau, điều tưởng như xa vời ấy lại thành hiện thực. Mọi cuộc đổi thay lớn đều bắt đầu bằng một ý nghĩ rất nhỏ trong lòng một vài con người biết nhìn xa hơn thời đại của mình.

    Trước năm 1964, Phật giáo ở Sài Gòn đã có Phật học Đường Nam Việt đặt tại chùa Ấn Quang. Sau cuộc chính biến năm 1963 và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, việc xây dựng một cơ sở giáo dục đại học trở thành một trong những mục tiêu quan trọng. Từ đó, Viện Đại học Vạn Hạnh ra đời. Ngay từ buổi đầu, viện đã xác định hai mục tiêu rất đẹp, là đào tạo những nhà giáo dục biết phụng sự xã hội và khơi dậy niềm tin nơi tuổi trẻ. Tất cả đều quy về một châm ngôn ngắn gọn:

    “Duy Tuệ Thị Nghiệp.”

    Bốn chữ ấy, đọc lên nghe nhẹ như một lời nhắc, nhưng càng sống lâu càng thấy sức nặng của nó. Trí tuệ mới là sự nghiệp. Không phải tiền bạc, danh vọng, địa vị. Người có trí tuệ chưa chắc đã giàu. Nhưng người chỉ có tiền mà không có trí tuệ thì rất dễ đánh mất chính mình. Vì vậy mà viện đại học mang tên Thiền sư Vạn Hạnh, vị danh tăng đời Lý, người đã dùng trí tuệ để góp phần làm thay đổi cả vận mệnh dân tộc. Tôi vẫn luôn thích cách người xưa đặt tên. Một cái tên không chỉ để gọi. Nó còn gửi gắm một lý tưởng. Trong số những người góp phần đặt nền móng cho Viện Đại học Vạn Hạnh có Thiền sư Thích Nhất Hạnh, học giả Hồ Hữu Tường, ông Đoàn Viết Hoạt, cùng nhiều vị trí thức và tu sĩ uyên bác khác. Viện trưởng đầu tiên là Thượng tọa Thích Minh Châu, một học giả nổi tiếng với những công trình nghiên cứu Phật học có giá trị lâu dài. Nhìn vào danh sách ấy, tôi luôn có cảm giác đây không chỉ là một ngôi trường. Nó giống như nơi hội tụ của nhiều trí thức lớn, nhiều tâm hồn lớn, cùng gặp nhau ở một niềm tin rằng giáo dục có thể làm thay đổi con người.

    Những năm đầu, viện đặt tại chùa Xá Lợi và chùa Pháp Hội. Đến năm 1966, toàn bộ hoạt động được chuyển về cơ sở mới trên đường Trương Minh Giảng. Trong năm ấy, Trung tâm Ngôn ngữ được thành lập với bốn ban: Anh ngữ, Pháp ngữ, Đức ngữ và Nhật ngữ. Thì ra ngay từ hơn nửa thế kỷ trước, những người xây dựng Vạn Hạnh đã hiểu rằng muốn mở rộng tri thức thì phải mở cánh cửa ngôn ngữ trước. Một dân tộc biết học ngoại ngữ không phải để quên tiếng mẹ đẻ, mà để hiểu thêm thế giới. Hiểu thế giới nhiều hơn cũng là một cách hiểu sâu hơn chính mình. Đó là điều tôi nghiệm ra sau nhiều năm.

    MỘT NGỌN ĐÈN HỌC THUẬT GIỮA LÒNG SÀI GÒN

    Mỗi lần nhớ về Viện Đại học Vạn Hạnh, tôi không chỉ nhớ một khuôn viên trường hay vài dãy giảng đường cũ. Điều hiện lên trước tiên trong tôi là một không khí học thuật rất riêng, trầm tĩnh mà rộng mở, nghiêm cẩn nhưng không khô cứng. Tinh thần ấy đã làm nên tên tuổi của Vạn Hạnh hơn bất cứ công trình kiến trúc nào.

    Chưa đầy mười năm, từ một viện đại học mới thành lập, Vạn Hạnh đã phát triển với tốc độ đáng nể. Niên khóa đầu tiên 1964 – 1965 chỉ có 696 sinh viên ghi danh. Những năm sau đó, con số ấy tăng lên đều đặn. Đến cuối thập niên 1960 đã vượt quá ba nghìn, và năm 1973 đạt 3.661 sinh viên. Đằng sau những con số tưởng như khô khan ấy là một điều rất đáng suy ngẫm: giữa một đất nước còn chia cắt, chiến tranh chưa dứt, người ta vẫn không thôi tin vào sức mạnh của giáo dục.

    Chiến tranh có thể làm sập một cây cầu, đốt cháy một mái nhà. Nhưng ở một góc khác của cuộc đời, vẫn có những người lặng lẽ xây thêm một giảng đường, mở thêm một lớp học, chất thêm một tủ sách. Họ hiểu rằng súng đạn chỉ quyết định hôm nay, còn tri thức mới quyết định ngày mai.

    Thế là Vạn Hạnh lớn lên rất nhanh bằng lòng tin. Ban đầu, Viện chỉ có hai phân khoa là Phật học và Văn học – Khoa học nhân văn. Sau đó, từng cánh cửa tri thức lần lượt được mở rộng. Đến cuối cùng, trước năm 1975, Viện Đại học Vạn Hạnh đã có năm phân khoa gồm: Phật học, Giáo dục, Khoa học xã hội, Khoa học ứng dụng và Văn học – Khoa học nhân văn. Đó là một mô hình khá toàn diện. Từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, từ giáo dục đến nhân văn, từ triết học đến kỹ thuật, tất cả đều được đặt cạnh nhau trong cùng một mái trường. Đó là điều không dễ có vào thời điểm ấy.

    Tôi vẫn thích cách người xưa suy nghĩ. Họ không chia tri thức thành những mảnh rời rạc. Người học văn vẫn có thể tìm đến triết học. Người nghiên cứu Phật học vẫn có thể quan tâm đến xã hội học hay kinh tế học. Những lĩnh vực tưởng xa nhau lại âm thầm soi sáng cho nhau. Một nền giáo dục đẹp, theo tôi, luôn khuyến khích con người bước qua những ranh giới như vậy.

    Riêng Phân khoa Văn học và Khoa học nhân văn đã có tới bảy ban: Văn học Việt Nam, Đông phương học, Triết học, Tâm lý học và thực nghiệm, Sử – Địa, Văn học Anh – Mỹ và Báo chí học. Phân khoa Khoa học xã hội cũng quy tụ năm ban: Xã hội học, Chính trị học, Kinh tế học, Thương mại học và Nhân chủng học. Tôi có cảm giác như đang nhìn thấy một bức tranh học thuật rất sinh động của Sài Gòn hơn nửa thế kỷ trước. Người trẻ khi ấy có nhiều cơ hội để lựa chọn con đường phù hợp với khả năng và ước mơ của mình. Điều đáng quý hơn là họ được học trong một môi trường luôn khuyến khích suy nghĩ độc lập.

    Trong ký ức của nhiều cựu sinh viên, thư viện Vạn Hạnh là một nơi rất đặc biệt. Đó là nơi cất giữ thời gian. Thư viện khi ấy có trên hai mươi lăm nghìn đầu sách, chia thành hai bộ phận lớn: Phật học và Thế học. Ngoài sách tiếng Việt còn có rất nhiều tài liệu bằng tiếng Pali, Sanskrit, Hán, Nhật, Anh, Pháp và Đức. Không ít bộ kinh, trước đó chỉ được biết đến qua tên gọi, đã hiện diện trên những giá sách ấy để người học có cơ hội tiếp cận trực tiếp. Giữa những giá sách cao ngất, tiếng lật từng trang giấy nghe khe khẽ như tiếng thời gian đang đi qua. Những cuốn sách đã nằm đó từ rất lâu, lặng lẽ chờ người hữu duyên mở đến. Người đọc tưởng mình tìm được sách, nhưng biết đâu chính cuốn sách cũng đang đợi người đọc. Nghĩ như vậy, việc đọc sách bỗng trở nên đẹp hơn rất nhiều.

    Một thành tựu khác mà ít người ngày nay còn nhắc tới là Ban Tu thư Viện Đại học Vạn Hạnh. Ban Tu thư đảm trách việc san định cổ thư, dịch thuật và giới thiệu nhiều công trình nghiên cứu Phật học cũng như triết học từ các ngoại ngữ sang tiếng Việt. Nhờ vậy, nhiều tác phẩm giá trị được xuất bản, góp phần làm phong phú kho tàng học thuật nước nhà. Trong đó phải kể đến những công trình như “Khương Tăng Hội toàn tập”, “Lục Độ Tập Kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta” của Trí Siêu Lê Mạnh Thát; “Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận” do Thích Quảng Độ chuyển dịch; “Tư tưởng Phật học” của Thích nữ Trí Hải; “Câu chuyện triết học” do Bửu Đích dịch hay “Thắng pháp tập yếu luận” do Thích Minh Châu biên soạn. Một cuốn sách thật sự có giá trị thường không tạo ra tiếng động lớn khi ra đời. Nó chỉ âm thầm đi vào đời sống của nhiều thế hệ, lặng lẽ thay đổi cách con người suy nghĩ.

    Bên cạnh hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, Viện Đại học Vạn Hạnh còn xuất bản Tạp chí Tư Tưởng, một diễn đàn học thuật có ảnh hưởng khá lớn trong giới trí thức miền Nam lúc bấy giờ. Từ năm 1967 đến năm 1975, tạp chí đều đặn giới thiệu các bài viết về Phật học, triết học, văn hóa và giáo dục. Không chỉ là nơi công bố các công trình nghiên cứu, đây còn là không gian để nhiều học giả trao đổi quan điểm, tranh luận học thuật và mở rộng những hướng tiếp cận mới. Tôi có cảm giác như đang nghe được hơi thở của một thời mà người ta còn tin vào sức mạnh của chữ nghĩa. Tin rằng một bài nghiên cứu nghiêm túc cũng có thể góp phần làm cho xã hội tiến bộ hơn. Người ta cho rằng đó là lãng mạn. Tôi thì lại nghĩ, nếu một dân tộc không còn tin vào tri thức thì mới thật đáng lo.

    Mấy mươi năm trước, một lần nào đó, tôi đã đứng một mình giữa sân trường vào buổi chiều muộn, từng tự hỏi, không biết ở đúng chỗ mình đang đứng, hai mươi năm trước đó đã từng có những ai? Một vị giáo sư đang lặng lẽ đi về thư viện. Một nhà sư trẻ ôm sách bước sang lớp học. Một sinh viên vừa thi xong, đang mơ về tương lai của mình. Những con người ấy giờ đã tản đi khắp nơi, người còn, người mất. Khoảng sân vẫn ở đó, sau gần nửa thế kỷ tôi ghé trở lạ, nó vẫn lặng lẽ chứng kiến từng lớp người đến rồi đi như những đợt lá thay mùa. Tôi chợt nhận ra, trường học cũng giống một dòng sông. Nước không bao giờ cũ. Nhưng lòng sông vẫn vậy. Ở nơi này, tôi đã nhiều lần gặp “thi sĩ điên” Bùi Giáng trong khuôn viên trường. Khi ông đàm thoại với sinh viên khoa Pháp, khi sang khoa Anh, lúc lại trò chuyện với sinh viên khoa Nga. Khả năng ngoại ngữ của ông thật đáng nể. Chắc là ông vẫn nhớ trường nên thường tìm về, và cũng chẳng một người gác cổng nào ngăn ông lại.

    Lịch sử rồi cũng sang trang. Không một ngôi trường nào có thể đứng ngoài những biến động lớn của đất nước, và Viện Đại học Vạn Hạnh cũng vậy. Sau năm 1975, Viện vẫn còn thuộc quyền quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất một thời gian. Đó là những năm tháng đầy biến động. Một số học giả, tăng sĩ và trí thức từng gắn bó với Viện như Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát, Thích nữ Trí Hải… lần lượt gặp nhiều biến cố trong cuộc đời. Đọc lại những tư liệu ấy hôm nay, tôi không muốn chỉ nhìn bằng con mắt của người nghiên cứu lịch sử. Tôi thấy ở đó còn có số phận của những con người đã dành gần trọn đời mình cho học thuật, cho giáo dục và cho lý tưởng phụng sự.

    Năm 1981, khi các tổ chức Phật giáo trong cả nước hợp nhất thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện Đại học Vạn Hạnh cũng bước sang một giai đoạn mới. Không lâu sau, phần lớn các phân khoa được chuyển giao để hình thành cơ sở của Trường Đại học Sư phạm. Riêng Thiền viện Vạn Hạnh tiếp tục được duy trì như một cơ sở giáo dục của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Cùng với Thiền viện Quảng Đức, nơi đây đến nay vẫn là một trong những trung tâm đào tạo Phật học quan trọng ở miền Nam.

    Âu cũng là quy luật của thời gian.

    Những năm tôi còn là sinh viên, nơi đây đã là cơ sở của Đại học Sư phạm. Tôi học trong những giảng đường từng thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh, nơi mỗi bức tường, mỗi dãy hành lang dường như đều lưu giữ nhiều lớp thời gian. Thế hệ chúng tôi đến sau, nhưng vẫn được học dưới những mái nhà từng chứng kiến bước chân của bao thế hệ trí thức. Nhiều người hỏi điều gì còn đọng lại rõ nhất khi nhớ về ngôi trường cũ. Lạ thay, tôi lại nhớ trước hết những điều rất nhỏ. Đó là buổi sáng sân trường còn đẫm hơi sương, vài chiếc xe đạp dựng nghiêng dưới gốc cây, tiếng guốc, tiếng dép cao su xen lẫn tiếng giày gõ lộc cộc trên hành lang, những sinh viên thức trắng đêm trong giảng đường vội vã rời đi khi ngày mới bắt đầu; hay một nhóm bạn vừa đi vừa tranh luận rôm rả về bài học hôm trước. Tất cả đều bình thường, bình thường đến mức ngày ấy chẳng ai để ý. Rồi năm tháng trôi qua, đi qua bao thành phố, ngắm bao cảnh đẹp, tôi mới hiểu đôi khi chỉ một khoảng sân cũ, một bậc cầu thang hay một hàng cây quen cũng đủ làm lòng mình xao động. Ký ức vốn có cách lựa chọn rất riêng. Nó không giữ lại những điều lớn lao nhất, mà giữ lại những gì đã thật sự chạm đến trái tim mình.

    Nhiều năm sau, khi đã sống ở nước ngoài, mỗi lần có dịp trở về Việt Nam, tôi vẫn thường chọn một khách sạn ở Quận 3, quanh khu vực này.

    Bạn bè hỏi sao không ở nơi sang trọng hơn. Tôi chỉ cười.

    Thật ra, lý do rất giản dị.

    Tôi có một người bạn rất thân, nguyên là giảng viên Đại học Sư phạm, nay đã nghỉ hưu nhưng vẫn sống trong khuôn viên trường. Chúng tôi quen nhau đã lâu, đủ lâu để những cuộc gặp không còn cần nhiều lời khách sáo.

    Hôm thì hai người chỉ uống cà phê sinh viên, khi thì xin pha bình trà, ngồi trong khuôn viên suốt cả buổi chiều. Chuyện bắt đầu từ một cuốn sách mới đọc, hoặc một truyện ngắn tôi vừa mới viết, rồi lan sang một người bạn cũ, một thầy giáo cũ. Đôi khi cả hai cùng im lặng rất lâu. Ở tuổi này, người ta hiểu rằng sự im lặng cũng là một cách trò chuyện. Một người bạn ngồi bên cạnh mình, cùng nhìn một khoảng sân quen thuộc, nhiều khi đã đủ.

    Mỗi lần bước qua cổng trường, tôi lại có cảm giác mình đang đi ngược dòng thời gian. Tôi bỗng thấy thấp thoáng đâu đó bóng dáng của chính mình thời trẻ.

    Đại học Văn Khoa. Hình do tác giả cung cấp

    Tôi muốn gọi. Nhưng rồi thôi.

    Ngoảnh lại, những hàng cây giờ đã cao hơn trước vẫn đứng im như bao năm. Gió vẫn thổi qua khoảng sân, rất nhẹ.

    Nguyễn Đông A


    Không có nhận xét nào