Header Ads

  • Breaking News

    Hoàng Hưng: Vụ án “Về Kinh Bắc” (1982–1985)

    Kỳ 3

    Hoàng Hưng

    August 26, 2026

    Toàn cảnh Hoả Lò (ảnh trên mạng)

    Riêng câu này trong Thông báo thì không sai lắm: “(anh Hưng) lao vào con đường buôn bán kiếm lời”.

    Thời đó, cuộc sống của hầu hết “cán bộ công nhân viên” đều bi đát mà người ngày nay thật khó hình dung! Có ai sống nổi với đồng lương chết đói và tiêu chuẩn nhu yếu phẩm được mua bằng tem phiếu cấp phát theo bậc lương? Tôi còn nhớ như in cảnh anh cả tôi, TS Y khoa Hoàng Văn Sơn, chủ nhiệm khoa Xét nghiệm Sinh hoá của bệnh viện lớn nhất nước (BV Việt-Xô, nơi chữa trị cho giới cán bộ cao cấp nhất nước), phải ghi vào vỏ bao diêm: “sử dụng đến ngày…” (ngày được mua bao diêm mới)! Hay cảnh một bác sĩ lớn tuổi xun xoe thưa gửi chị chị em em với cô bán thịt mậu dịch ở chợ Hàng Da đáng tuổi con ông, để được mua một miếng thịt ngon theo tem phiếu!

    Để có thể sống sót, thì ở Hà Nội và Sài Gòn, những cảnh dậy từ mờ sáng nấu sôi rồi đội thúng sôi đi bán rong trước giờ đi làm, mở quán nước chè chén trước cửa nhà, nuôi lợn cả trong căn hộ tầng cao chung cư, lật bê tông vỉa hè trước nhà lên để trồng rau, không có gì lạ! Đặc biệt là các chuyến tàu “Thống nhất” đi về giữa hai miền Nam-Bắc đã trở thành phương tiện giao thương của hàng vạn người, trong đó không ít người là cán bộ công nhân viên.

    Như lương của tôi, năm 1977-1978 là cán sự 4 thì phải, khoảng dưới 80 đồng, không nuôi nổi 1 đứa con. Những bữa ăn hàng ngày, miếng sườn lợn cỏn con được lóc hết thịt băm ra nấu với bột cho con ăn, còn nước luộc sườn thì bố mẹ chan cơm độn mì sợi! Hàng tháng, vợ tôi phải đi “khám sữa”: vạch vú ra vắt trước mặt “hội đồng xét duyệt”, không có giọt sữa nào chảy ra thì được mua 8 hộp sữa Ông Thọ vàng đặc vì để lâu ngày!

    Vì thế, với lợi thế là Phóng viên thường trú báo NGVND tại miền Nam, mỗi dịp về toà soạn ở Hà Nội họp hành, tôi lại “buôn” thượng vàng hạ cám theo đường tàu hoả, kể cả gạo, buồng cau, quả dừa… mua dọc đường đem ra Bắc, rồi thuốc lá sợi, giấy cuốn thuốc lá, mỡ lợn… từ Hà Nội đem vào!

    Khó mà quên được những chuyến tàu chật chội, phải nằm cả đêm trên đống quả dừa lổn nhổn dưới sàn toa! Không thể quên những buổi hai vợ chồng hì hục đun mỡ phần cho tan thành mỡ nước đổ vào những chiếc can bằng sắt tây mua ở phố Hàng Thùng, hay phun nước lã vào đống sợi thuốc lá Cao Bằng cho ẩm để nhồi nhét, thậm chí dẫm chân lên cho chặt cái ba lô! Không thể quên những giờ phút hồi hộp trên tàu khi các nhân viên “quản lý thị trường” cùng với công an đường sắt đi từng toa xét nét từng bao tải, từng va li của khách đi tàu (thường là “con buôn không chuyên” như tôi)! May mà tôi chưa lần nào bị… túm!

    Tôi còn kiếm sống bằng nghề đi chụp ảnh dạo ở trung tâm thành phố, khu vực bồn hoa Nguyễn Huệ, hay chùa Vĩnh Nghiêm những ngày chủ nhật, ngày lễ, Tết. Có một dịp Tết tôi còn “thầu” toàn bộ dịch vụ chụp ảnh ở chùa Vĩnh Nghiêm, tổ chức hàng chục người chụp và rửa ảnh cho khách. Từ đó, tôi chuyển qua “nghề buôn” chuyên về vật liệu, dụng cụ chụp ảnh: mua máy ảnh, máy rửa ảnh cũ từ Sài Gòn gửi ra Bắc bán, mua phim giấy ảnh (của Liên Xô, Cộng hoà Dân chủ Đức) từ Hà Nội gửi vào. Đầu mối mua bán của tôi ở Hà Nội chính là nhà nhiếp ảnh có biệt danh “Tiến trố” hay “Bố hàng Tiền” (Tiến hàng Bồ). Thậm chí có thời gian tôi (cùng với nhà báo truyền hình Nguyễn Nguyên Bảy) còn liều lĩnh ra ngồi ngay lề đường Huỳnh Thúc Kháng bày bán đồ nghề ảnh ngoài giờ làm việc! Nhớ có lần nhà thơ Phạm Tiến Duật gặp tôi ở đó, khi về Hà Nội anh đã loan báo tin giật gân với hai câu thơ “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt/ Xếp bút nghiên theo nghiệp đi buôn”! Nghe kể lại, tôi cười, nói: “Tôi buôn đủ thứ, nhưng quyết không buôn thơ và quyền chức!”

    Cuộc mưu sinh bằng việc buôn bán của tôi gặp không ít lần bị lừa; kẻ lừa đảo cũng từ Hà Nội vào, cũng tên là Hưng, hỗn danh là “Hưng đói”, “Hưng lừa”, cũng chính là kẻ đã dắt tay tôi vào “chợ”. Tay này có biệt tài thương thảo các vụ buôn bán, dụ khị ngọt ngào, cho đối tác hưởng lợi ban đầu để rồi tin cậy trao cho hắn món tiền lớn và không thể lấy lại. Tất cả những món tiền lừa được của mọi người sẽ bị “Hưng lừa” nướng vào các canh bạc đỏ đen, nên kết cục Hưng vẫn là “Hưng đói”!!!

    Cũng chính “Hưng lừa” đã lừa anh bạn nhạc sĩ D.T. một cú cực lớn mà rút cục tôi lại là kẻ chịu nạn. D.T. được một người quen chung của chúng tôi là phụ trách cửa hàng bách hoá cho mua “hoá giá” (với giá cực rẻ) món hàng lớn cần “thanh lý” nhưng cần có số vốn lớn. Anh đã đi vay khắp nơi mà không ai cho. Thì tôi lại nhận đứng ra vay tiền cho anh, vì tin anh sẽ được một cú chắc thắng. Cú buôn thành công, tôi chưa kịp lấy lại tiền thì “Hưng lừa” đã kịp dụ D.T. để hốt trọn cả vốn lẫn lời! Số tiền lúc ấy đủ mua một ngôi nhà ở Sài Gòn. Người cho vay chính là cô H. bạn của vợ tôi. Vì danh dự, chúng tôi phải trả nợ đậy! Vợ tôi đã phải bán hết tư trang, của cải tích cóp được, cộng với số tiền bố tôi cho để “lập nghiệp” nơi đất mới! Đáng quí nhất là vợ tôi đã không than trách một lời, còn khuyên tôi buông bỏ! Chỉ đáng buồn là anh bạn nối khố mà tôi đã không ít lần nhiệt tình giúp đỡ từ thời đi học, cho đến khi mới đặt chân vào Sài Gòn, đã coi như không hề mắc món nợ rất lớn kia, đã mặc kệ vợ con tôi đói khổ trong suốt thời gian tôi đi tù, và sau này khi trở nên cực kỳ giàu có cùng tiếng tăm lừng lẫy cũng không hề bận tâm trả “bát cơm Phiếu Mẫu”!

    Ảnh hưởng của cuộc mưu sinh trên đường phố Sài Gòn “bão loạn” như một cái chợ trời khổng lồ và nơi chờ chực vượt biên những năm sau 1975 thể hiện rõ trong loạt “thơ vụt hiện” đầy hoang dại của tôi:

    ĐƯỜNG PHỐ (VỤT HIỆN 2)

    Đường phố 1
    Bão loạn. Lốc dù. Xanh mí. Cốc ré. Váy hè. Tiện nghi lạc-xon. Chất chồng trô trố. Môi ngang. Vô hồn. Khoảnh khoắc. Mi-ni mông lông. Cởi quần, chửi thề. Con gà quay con gà quay.
    Bão loạn. Múa vàng. Te tua. Nhừ giấc.
    Bão loạn. Rùng rùng. Sặc nước. Giạt tóc. Liên tục địa sầm. Tìm, chết, đi.
    Bão loạn. Dứt tung tay. Óc lói. Lơ láo tù về lạc thế kỷ. Sương đầm đẫm vóc miên mai.
    Đường phố 2
    Dường như ra khỏi nhà bằng một khung ngực rỗng. Hai bàn tay đỡ mắt mờ. Chợt thấy chiều trên phố say. Đỉnh vú đi lừng lững. Đèn đuốc cháy lưng trời. Cười ngớ ngẩn sứt răng sâu thẳm. Hội quỷ ma nhảy múa thét gào. Tan biến ta đi chiều mọc cánh. Một phút thang mây lẫng lẫng ánh chớp loè đá sóng trập trùng. Xuyên như tên bắn rụng một chùm tín hiệu đỏ xanh. Trở về chân nhiễm độc.
    Đường phố 3
    Em gọi thơ về. Từng thớ thịt rung lên âm điệu trở về. Thành phố nổ bùng đêm người đi như biển. Tiếng còi, lửa cháy. Anh dắt tay em chạy trên cỏ dại. Giấc mơ vô lý bàng hoàng. Đường phố mùi da thịt. Gió rùng mình hư vô thổi đến. Trăng sáng không tin được. Gái trai mới lớn đội mũ lông chim. Thiếu nữ mắt đờ cà phê quán chật khói thuốc im lìm. Bụi sáng. Xe điên.
    Em gọi thơ về. Từng thớ thịt rung lên âm điệu trở về. Thành phố lồng trăm ngả. Ngã bảy ngả năm giành giật. Và chiều tràn ngập gió đê mê phần phật quần bay. Cánh nhạn khua rối mù cao ốc. Đèn lên đèn lên mời gọi hoang đường.
    Em gọi thơ về. Từng thớ thịt rung lên âm điệu trở về. Thơ thoát ra từ đốt xuơng căng thẳng. Vũ trụ hồi sinh rực rỡ. Gân chùng mỏi mệt hân hoan.

    SG 1977-1981

    Nhà thơ Trần Đăng Khoa có dịp dự một tối “văn nghệ” giữa vài anh em từ Bắc vào với vài anh em Sài Gòn tại căn hộ của vợ chồng nhà thơ Tuân Nguyễn–Phương Thuý tại bán đảo Thanh Đa đã kể cho anh em thơ Hà Nội về sự kinh dị của anh khi nghe tôi đọc những bài “vụt hiện” ấy!

    Loại thơ này chỉ có vài người bạn “tâm giao” của tôi lúc ấy thưởng thức, nhà văn Nhật Tuấn, nhà thơ Dương Tường… Đặc biệt trong giới mỹ thuật. Hoạ sĩ Thọ Vân ở Hải Phòng nhận xét Thơ Vụt hiện đúng là “chủ nghĩa ấn tượng”! Hoạ sĩ Đào Minh Tri đọc đến đoạn “Đỉnh vú đi lừng lững/đèn đuốc cháy lưng trời/ Cười ngớ ngẩn sứt răng sâu thẳm” thì kêu lên: “Phải vẽ ngay một bức tranh!”. Nhất là nhà điêu khắc Nguyễn Hải, người nghệ sĩ bộc trực của đất Nam Bộ, ít học (tôi gọi anh là “un génie inculte” một thiên tài vô học) nhưng rất nhạy cảm. Nguyễn Hải lúc đó đã nổi tiếng là nhà điêu khắc cách tân với những tượng và tượng đài cách mạng nhưng có ngôn ngữ hiện đại phương Tây. Cứ gặp tôi là ông đòi nghe Vụt hiện và nghe xong là cười sảng khoái. Có lần, tại Hội Mỹ thuật thành phố, gặp Nguyễn Khải, ông bắt nhà văn nghe Vụt hiện. Nghe xong, ông cười sảng khoái rồi dồn dập bắt nhà văn trả lời: “Ông thấy thế nào?”. Nguyễn Khải trầm ngâm: “Tôi cũng thấy cái gì đó. Nhưng lâu nay mình đã quen, chỉ nhìn những gì bày ra trên mặt bàn, có cảm thấy bên dưới có gì đó thì cũng ngại, không dám nhìn xuống”.

    Trong lúc ấy, cách xa nửa vòng trái đất, từ Paris, nhà phê bình văn học Thuỵ Khuê “đọc vị” ngay lập tức những dòng thơ “khó hiểu” ấy:

    “… và đôi khi Hoàng Hưng không nói bằng thơ, không nói bằng văn mà nói bằng thần chú: “Đi sắp đi, tươi sắp tươi, phất gió lá sáng. Rằm tươi rằm tốt rằm mốt rằm mai, con thuyền chật chội “… “Nghe, nghe và đắm mộng, buồn dứt thuốc lá… Đen. Đá. Đen. Đá. Đen. Đá. Phóng thích. Chết chìm”. Những lời chú ấy gọi hồn, gọi biển của những người đi, đi tìm một lối thoát, biển ở đây là cứu cánh và cũng là tuyệt lộ, là cõi chết và cõi phục sinh, biển là mệnh số của bạn, của tôi, của Hoàng Hưng và của dân tộc mình” (RFI)

    6 THÁNG TRONG HOẢ LÒ

    “Maison Centrale” (Nhà [giam] Trung tâm) từ thời Pháp, có tên tiếng Việt là Hoả Lò, do nó được xây trên đất làng Hoả Lò, cái làng chuyên sản xuất ấm và hoả lò (một loại bếp đun) bằng đất. Nhưng với những đã từng vào đây thì nó không hổ danh, vì nóng bức kinh người, mà nước tắm thì quí như vàng!

    Dưới chế độ VNCDCH và CHXHCNVN, Hoả Lò là trại tạm giam của thành phố Hà Nội một thời gian dài, là nơi giam những người bị bắt để lấy khẩu cung, trước khi có án. Sau khi được toà án xử thành án thì tù nhân sẽ được chuyển đi các “trại cải tạo” nằm ở các tỉnh. Hoặc nếu được coi là thuộc vụ án chính trị quan trọng thì sẽ chuyển lên Trung tâm thẩm vấn Bộ Nội vụ ở ngoại thành Hà Nội.

    Chiều muộn 17/8/1982, chiếc xe bít bùng nhỏ đưa tôi vào đó. Sau khi làm thủ tục kiểm kê và thu giữ đồ đạc cá nhân trong đó có “tang vật vụ án” là tập thơ Về Kinh Bắc chép tay của Hoàng Cầm, tôi được đưa vào một phòng giam nhỏ, trong đó đã có sáu bảy người tù. Mấy người trung niên ra dáng “cựu cán bộ công nhân viên” và mấy cậu đầu trọc nhìn thấy ngay là dạng tù lưu manh!

    Một cậu đầu trọc ra lệnh cho tôi nằm xuống, lấy chân dận mạnh mấy cú vào ngực tôi khá đau! Cậu bảo đây là đòn “chào buồng”, thủ tục bắt buộc đối với mọi “ma mới” nhập trại! Để biết thế nào là lễ độ với các “sĩ quan”, “đại bàng” ma cũ!

    May mà một anh ra dáng “cựu cán bộ” đã nói cậu ngưng lại, và hỏi: “Anh bị bắt vào đây vì tội gì?”

    Tôi trả lời: “Tội lưu truyền văn hoá phẩm phản động, là tập thơ của nhà thơ Hoàng Cầm!”

    Thế là anh nói tôi ngồi dậy! Không biết vì Hoàng Cầm nổi tiếng hay vì tội “chính trị” được coi là “sang trọng” ở chốn “ngoài vòng pháp luật” này?

    Cậu trọc đầu có vẻ tiếc rẻ. Cậu thật thà nói: “Những người ở buồng này là đã có án, chờ ngày đi “bọp” (trại cải tạo). Anh có gì cho tôi làm kỷ niệm không?” Tôi chẳng có gì ngoài chiếc khăn mùi xoa trong túi quần, liền móc ra cho cậu! Cậu đành nhận vậy!

    Anh “cán bộ” hỏi kỹ hơn câu chuyện của tôi, và cho biết mấy anh “cán bộ” đây là phạm nhân trong vụ cháy lớn các nhà kho ở Cảng Hải Phòng mấy năm trước, nay đã thành án.

    Đêm đầu tiên trong đời tù của tôi đi qua một cách… bình thường không ngờ, tôi chỉ thao thức ít phút rồi cũng chìm vào giấc ngủ sau một ngày quá nhiều sự cố!

    (Hoàng Cầm cũng bị đưa vài phòng giam này vào ngày 20/8, và được những người ở đây kể là tôi đã vào đây chiều 17/8).

    Nhưng đây mới là “phòng chờ” nằm ở khu ngoài của Hoả Lò, cùng với các phòng hỏi cung. Sáng hôm sau tôi được đưa vào khu trại giam chính thức bên trong. Ranh giới giữa hai khu là cái cổng sắt to cao ngất. Qua cửa, là cái sân rất rộng. Lúc ấy đúng vào giờ tù nhân ra sân ăn sáng! Đập vào mắt tôi là dăng dăng những hàng tù nhân đầu trọc lốc, mình xăm trổ, xương xẩu, chân tay nghều ngào như củi khô! Ấn tượng đầu tiên ấy được ghi lại về sau trong bài thơ “Vào”

    Vào

    Cánh cửa sắt đen kịt
    Đóng sầm sau lưng tôi
    Bỗng ào ào náo loạn
    Như một bể dầu sôi.

    Những cái đầu trọc lốc
    Vươn theo từng bước đi
    Những bộ xương đen đúa
    Bốc lên mùi tử thi.

    A! Địa ngục là đây
    Ta bắt đầu kiếp quỉ
    Sao dễ dàng quá nhỉ
    Chỉ một bước một giây
    Bước qua cánh cửa này
    Kiếp người đã xa lắc.

    Giật mình nghe tiếng quát:
    – Cởi hết áo quần ra!

    18/8/1982

    Có một hình ảnh là lạ khiến tôi phải chú ý: giữa đám tù trẻ lưu manh, lại có một ông già râu tóc rất dài, có thể nói là có phong thái “tiên phong đạo cốt”! Sau tôi mới biết đó là Nguyễn Chí Thiện, một giáo viên đã bị đi cải tạo sau 1954 vì giảng bài “chống chế độ”, lần thứ 2 vì làm thơ, rồi vì đem bản thảo tập thơ “Hoa địa ngục” vào Sứ quán Anh mà bị vào tù lần thứ ba. Các công an trong trại thường nói nhạo ông là “tỷ phú không tiền” vì nghe nói tập thơ của ông đã được xuất bản ở nước ngoài! Họ nhốt ông chung với đám tù lưu manh cốt để mượn tay chúng trừng trị ông! Có biết đâu, chỉ sau ít ngày, ông đã chinh phục tất cả phòng giam với tài kể chuyện của mình! Sau khi kể hết các pho truyện Đông truyện Tây mà ông đã đọc, ông bắt đầu… sáng tác ra chuyện để kể cho bạn tù nghe mỗi tối sau giờ đóng cửa phòng giam! (Ông được trả tự do năm 1991 và sau đó sang Mỹ, chết ở Mỹ năm 2012).

    Sinh hoạt trong phòng giam

    Phòng giam của tôi là phòng số 18, ngay mặt đường Hoả Lò, là phòng dành cho các “cán bộ công nhân viên phạm tội lần đầu” (nhưng cũng có khoảng ¼ là tù hình sự, chắc là họ bố trí vào đó để khi cần thì sử dụng để “dằn mặt” những người tù hiền lành trên). Vuông góc với nó, là phòng dành cho nữ tù nhân, nằm ở mặt tiền phố Hai Bà Trưng. Ở giữa là bốt gác của cảnh sát trại giam. Sau khi Hoả Lò bị phá để xây Hanoi Tower, trại tạm giam của thành phố Hà Nội chuyển ra ngoại thành, thì phòng giam số 18 vẫn được giữ nguyên làm vật chứng lịch sử của Maison Centrale, vì đây là nơi nhiều nhà cách mạng Cộng sản lừng danh từng bị giam giữ, như Trường Chinh, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng… Những năm 1960, nơi đây cũng giam giữ 60 phi công Mỹ, trong đó có John Mc Cain.

    (Hoàng Cầm bị giam ở phòng số 20, phòng này đã bị phá khi xây Hanoi Tower).

    Hàng ngày, cửa sắt lớn của phòng giam được mở ra khoảng 7 giờ sáng. Sau thủ tục “điểm danh” (cai tù bước vào, đọc tên ai thì người ấy phải “đọc rõ số giam” của mình); sau đó người tù ra sân đánh răng rửa mặt chớp nhoáng. Suốt giờ hành chính cửa cứ mở để lâu lâu có người bị gọi đi “cung”; rồi tù ra ăn trưa, ăn chiều (2 bữa cơm của nhà tù phát). Còn lại, suốt thời gian ở trong phòng giam người tù phải tuyệt đối im lặng. Đến khoảng 5 giờ chiều, cửa đóng xầm lại, là bắt đầu thời gian “sinh hoạt tự do” cho đến lúc có kẻng đi ngủ (khoảng 9 giờ tối). Phòng giam bắt đầu thành một cái chợ với 200 con người đã phải âm thầm nhịn nói suốt ngày!

    Rồi sẽ đến giờ “văn nghệ”! Những kẻ có tài lẻ hát hò được vinh dự phục vụ buồng! Chủ yếu là hát “nhạc vàng”! Tôi không quên được một người tù lái xe rác ngà ngà say rượu lỡ cán chết một người đi đường ban đêm, anh có giọng nam trung với bài tủ là “Gửi người em gái miền Nam” của Đoàn Chuẩn:

    Cành hoa tim tím đắm say hương xuân nồng
    Rừng đào phong kín cánh mong manh như hoa lòng

    Một cậu chuyên “cắt bom” (ăn cắp đồ chở trên xe đạp bằng cách cắt dây buộc đồ đàng sau xe) giọng nam cao với bài “Bài Thánh ca buồn”:

    Bài thánh ca đó còn nhớ không em
    Noel năm nào chúng mình có nhau…

    Tôi đã học thuộc bài hát này ở Hoả Lò và nó sẽ giúp tôi và những bạn tù bị chuyển đi trại Thanh Cẩm gần 3 năm sau có bữa ăn sáng nóng hổi đầu tiên từ các cha cố bị giam giữ ở đó!

    Là một “ca sĩ” có giọng hát nghe được, từng học thanh nhạc từ năm 12 tuổi với nữ ca sĩ nổi tiếng một thời là Minh Đỗ, từng là đội trưởng đội ca thiếu nhi Hà Nội từng được vào Phủ Chủ tịch mỗi tối thứ 7 để phục vụ Bác Hồ tiếp khách là các chuyên gia Trung Quốc đang giúp Việt Nam xây dựng miền Bắc, là trưởng ban văn nghệ trường cấp 3 An Dương Hải Phòng đêm đêm dẫn học sinh ra hát hò động viên các chiến sĩ phòng không trên ụ pháo, tôi đã góp phần tốt đẹp trong những tối văn nghệ Hoả Lò; và nhờ thế, nhanh chóng được chuyển từ thân phận “ma mới” phải nằm ngủ dưới sàn xi măng, gần “nhà mét” (nhà vệ sinh) hôi thối lên bệ cao ở giữa phòng, tức là được hưởng tiêu chuẩn của “sĩ quan”, “đầu gấu”!

    Cùng với tôi, còn có anh Phạm Sông Tương, nghệ danh là Tương Giang, làm việc ở Ban Văn nghệ đài Tiếng nói VN, tổ dân ca, ca cổ. Anh can tội làm những bài thơ “phản động” và bị chính vợ mình tố cáo với công an! Biết thế, anh đem chồng bản thảo của mình đi gửi thì bị bắt giữa đường. Thật tình tôi thấy tinh thần anh không được bình thường, những bài thơ “phản động” của anh phần lớn ngồ ngộ, kiểu như:

    “Tên tôi là Phạm Sông Tương
    Suốt ngày chửi mắng coi thường cấp trên
    Tiến lên ta quyết tiến lên
    Tiến lên ta gọi cấp trên bằng thằng”!

    Anh không có ai “tắc” (tiếp tế), nên bữa ăn nào tôi cũng chia sẻ với anh đồ ăn mà gia đình tôi gửi vào. Anh chuyên phục vụ phòng bằng các bài hát chèo.

    Một người nữa là một thanh niên, ca sĩ của một đoàn văn công địa phương nào đó, không rõ bị bắt vì tội gì.

    Không thể quên được những tối “văn nghệ” Hoả Lò! Đặc biệt nhất, có lẽ chỉ có một lần trong lịch sử nhà tù này, là những tối “hát đối” của chúng tôi với tù nhân nữ ở phòng bên!

    Nhân tiện kể một chuyện kỳ quái diễn ra trong những buổi tối sau khi đóng cửa phòng. Phòng tôi có một tay “đầu gấu” to con, không biết phạm tội gì nhưng chắc là trọng án, triển vọng tù mọt gông, nên rất ngỗ ngược, không biết sợ ai. Chiều chiều cứ đóng cửa phòng là hắn trèo lên lưng chừng cửa sắt, từ trên ấy có thể nhìn sang “nhà mét” của phòng nữ. Hắn treo mình ở đấy để theo dõi tất cả những nữ tù nhân thay đồ lót, tắm rửa, và vừa nhìn vừa… công khai thủ dâm. Mọi người im lặng cho hắn hưởng cái đặc quyền kỳ quái ấy. Theo hắn kể, thì nhiều tù nhân buồng nữ biết việc ấy, nhưng cũng đồng loã, thậm chí còn cố tình “biểu diễn” cho hắn xem! Thật đúng với câu thành ngữ “b… tù cu hãm”, đúng hơn nữa phải là “l… tù cu hãm”.

    Một buổi tối, từ bên phòng nữ, nổi lên một giọng hát nữ, xướng một câu hò lục bát! Rồi ngừng lại như chờ đợi!

    Phòng tôi ban đầu không ai để ý, nhưng khi bên nữ lặp lại câu hát mấy lần, thì mọi người hiểu là bên phòng nữ “thách đối”, nên nhao nhao yêu cầu tôi với Tương Giang phải đáp lại.

    Thế là hai đứa chúng tôi phải thay nhau nghĩ ngay một câu hò lục bát để đáp lại bên nữ.

    Tôi không còn nhớ được những câu hò đối đáp hồi ấy giữa 2 phòng, nhưng phải nói thật là bên nữ, chắc là mấy cô thôn nữ ở những vùng quen hát đối, nghĩ rất nhanh những câu hò thú vị khiến 2 chúng tôi mang tiếng là “nhà thơ, nhà báo chuyên nghiệp” mà toát mồ hôi mới nghĩ kịp câu đáp. Và người cất tiếng hò lên câu lục bát mà 2 chúng tôi nghĩ ra chính là anh ca sĩ địa phương nọ.

    Với những ai chưa hiểu về lối hò đối đáp như thế, xin tham khảo ví dụ sau đây:

    Bên nữ:

    – Hòơ…
    Đố anh chi sắc hơn dao
    Chi sâu hơn biển, chi cao hơn trời?

    Bên nam:

    – Tóc em dài sao em không bới
    Để chi dài bối rối dạ anh?

    Bên nữ:
    – Tóc em dài em cài hoa thiên lý
    Anh ngó làm gì cho bối rối dạ anh?

    Bên nữ:

    – Khế với chanh một lòng chua xót,
    Mật với gừng một ngọt một cay.
    Ra về bỏ áo lại đây,
    Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng.

    Bên nam:
    – Có lạnh lùng lấy mùng mà đắp,
    Trả áo cho anh về đi học kẻo trưa

    (sưu tầm trên mạng)

    Cả phòng hào hứng theo dõi cuộc hò đối đáp và vỗ tay tán thưởng! Thật là những giờ phút xả hơi hiếm có trong cảnh tù đày!

    Những anh lính canh trên bốt gác chắc cũng khoái nghe, nên không can thiệp gì hết!

    Những tối “hát giao duyên” của tù nhân Hoả Lò kéo dài được khoảng một tuần lễ thì một tối, đang mê mải hò, bỗng có tiếng đập cửa xầm xầm và tiếng quát bên ngoài:

    – Ai cho chúng mày hát hò ầm ĩ thế hả? Im ngay!

    Thì ra các tối, người đi đường đứng lại đầy góc phố Hai Bà Trưng-Hoả Lò để nghe tù hát đối!

    Chắc là Ban giám thị Hoả Lò hay cấp trên nữa khi biết tình trạng ấy, hạ lệnh cấm ngay!

    Từ đấy chấm dứt chương trình giao duyên! Thật tiếc!

    Các nhân vật của Phòng giam số 18

    Bây giờ nói kỹ hơn về phòng giam số 18 của tôi.

    Giờ đây, ai vào thăm Hoả Lò (di tích lịch sử được mở cửa cho khách thăm từ dịp kỉ niệm 1000 năm Thăng Long), đều có thể hình dung cảnh phòng giam này thời Pháp, có 2 sàn bằng gỗ rất cao chạy suốt chiều dài 2 bên tường, bên trên có mô hình khoảng 20 người tù bị cùm chân. Nhiều hồi ký của các nhà cách mạng gọi đây là “địa ngục trần gian”. Nhưng khi tôi bị bắt vào đây, thì phòng chứa đến 200 người, có 2 hàng bệ xi măng rất thấp vẫn có vạch kẻ màu đỏ chia thành 60 chỗ nằm dành cho các phi công Mỹ bị giam thời “chiến tranh phá hoại” của Mỹ (hỗn danh người Mỹ đặt cho Hoả Lò thời ấy là “Hanoi Hilton” – Hilton là tên chuỗi khách sạn lớn của Mỹ). 200 người tù thời Cộng sản chúng tôi chen chúc nhau cả trên bệ lẫn dưới sàn, đêm ngủ phải nằm úp thìa vào nhau. Mỗi sáng ra, quét sàn bao giờ cũng thu được đầy vảy từ mụn ghẻ! Không biết nếu Hoả Lò thời Pháp đã là “địa ngục trần gian”, thì thời “ta” nên gọi là gì???

    Hoàng Hưng thăm lại phòng giam số 18 trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long

    Thành phần tù nhân trong buồng chủ yếu là “cán bộ, công nhân viên phạm tội lần đầu”. Tôi nhớ có một giảng viên đại học, đồng tác giả cuốn từ điển Anh-Việt, một người bà con với chị Tú Quỳnh bạn thân của tôi dạy học cùng trường cấp 3 An Dương Hải Phòng, anh bị bắt trên đường vượt biên; một cựu máy trưởng tàu hải quân người Hải Phòng tên là Tuấn bị bắt vì làm máy trưởng con tàu vượt biên lừng danh 200 người (sau sẽ nằm cùng xà lim Thanh Liệt với tôi một thời gian); một dược sĩ làm thuốc tây giả (tôi nhớ ông này thuộc loại “nhà có điều kiện”, mỗi bữa ăn thường chập vài cái bánh qui (biscuit) vào nhau để cắn nhưng tay vẫn run run nhặt không sót từng hạt cơm thiu rơi khỏi bát; một lái xe rác say rượu đè chết người; một bí thư Đảng uỷ xã có lẽ can tội tham nhũng… Cũng có một số tù “ngoài xã hội” (không đi làm nhà nước), làm ăn bất chính kiểu gì đó (tôi nhớ có một anh chủ quán giải khát ở phố Triệu Việt Vương), ăn cắp: “cắt bom” (cắt dây buộc hàng đàng sau xe đạp), “đột vòm” (lẻn vào nhà người ta), hiếp dâm, buôn thuốc phiện… Lần đầu tiên tôi thấy một cặp “đồng tính nam” (gay) là ở đây, họ thường đưa nhau vào “nhà mét” để… làm gì đó không biết!

    Phạm tội mang tính “ tư tưởng chính trị” chỉ có tôi và anh Phạm Sông Tương.

    Cảnh phòng giam đã được tôi tả lại trong phần “Phản thế giới” của tập thơ Ác Mộng: 

    Đêm trắng

    Đứa giết người mắt trắng dã
    Ca một khúc vọng cổ não nề
    Lão làm thuốc tây giả
    Run run nhặt từng hạt cơm thiu
    Thằng nhóc “cắt bom” ga Hàng Cỏ
    Sằng sặc bóp cổ tên hiếp trẻ con
    Ba thằng buôn cơm đen
    Ngồi nhìn ông cựu bí thư nhảy múa

    Vào mà xem
    Trong nhà “mét”
    Đám cưới thằng khoèo lấy thằng thọt.
    Lại mà xem
    Hai thằng ăn cướp
    Bắt chấy cho nhau

    Đêm hãi hùng
    Ta ở đâu đây
    Đêm không chợp mắt chờ sáng

    Sàn xi măng vảy ghẻ rụng đầy

    Trong thời kì gần 6 tháng ở Hoả Lò, có hai “nhân vật” tôi rất nhớ vì sự ngộ nghĩnh của họ: một “quản giáo” và một “tù tự giác” (thường là người thân của công an hoặc gia đình có tiền chạy chọt) làm nhiệm vụ giữ trật tự phòng, vệ sinh sân, trung gian giữa quản giáo với tù nhân; người này được ở ngoài với quản giáo suốt ngày, tối mới phải vào phòng.

    Tay “tù tự giác” người Cổ Nhuế, mắt lác xệch, thường thích thú kể chuyện tranh nhau… cứt của người làng mình (làng Cổ Nhuế chuyên đi hót phân tươi khắp các phố phường về bón ruộng). Mỗi lần nghe tiếng ai… trung tiện, tuỳ theo độ “thối” của làn hơi mà anh ta bình lớn tiếng: “Chất!” “Chất chất!” “Chất chất chất”. Nhiều nhất là 4 lần “chất”, ý là độ thối cho biết chất lượng thức ăn của người phát! 

    Quản giáo phòng tôi tên Thắc, người Thái Bình, da ngăm đen, nhìn chung cũng hiền lành, tù nhân quen gọi tắt là “quản Thắc”. Câu cửa miệng mà anh ta rất đắc chí mỗi lần “lên lớp” tù nhân là: “Các anh phải cải tạo để sống có bản lĩnh chứ không phải sống theo bản năng!”. Một lần, ra ăn sáng, tôi thấy mấy “tự giác” xúm quanh anh để ngắm chiếc đồng hồ Poljot (đồng hồ đeo tay của Liên Xô, là món xa xỉ thời thượng ở miền Bắc thời đó) mà Thắc khoe mới có! Tay “tự giác” Cổ Nhuế kêu lên: “À! Quản Thắc hôm nay quyết tâm ăn chơi phá đời!” Thế là cả bọn phá ra cười, cả quản Thắc cũng cười vẻ mãn nguyện!

    Chính tay “tự giác” này sau đó bật mí cho tôi là chiếc đồng hồ là do người nhà của tù nhân nào đó đã hối lộ cho quản Thắc để cho người tù được ra chân “tự giác”. Anh gợi ý sao tôi không bảo gia đình “chạy” cho? Tôi ừ hữ, biết chắc là không bao giờ bản thân cũng như gia đình nghĩ đến chuyện đó hay biết cách làm chuyện đó. Và cũng tin chắc là không công an nào dám “ăn” để ban đặc ân cho tù chính trị. Thời đó, mọi tội lỗi liên quan đến “chính trị” đều hết sức đáng sợ, chả ai dám dây!

    Tâm trạng trong tù

    Ngày đầu tiên của tôi ở Hoả Lò, tôi bắt đầu làm quen với kiếp “thằng tù”! Đầu tiên là với tiếng quát của quản giáo khi chậm chân một chút. Tôi đã tủi thân chảy nước mắt trong bữa ăn trưa ngoài sân đầu tiên ấy.

    Bữa cơm đầu tiên tủi cực của tôi trong nhà tù đã được ghi lại trong bài thơ sau:

    Bữa cơm đầu tiên

    Nhai miếng cơm khô giữa nắng trời
    Trệu trạo trong mồm nuốt khó trôi
    Bạn giục ăn nhanh không người mắng
    Bỗng nghẹn lưng chừng nước mắt rơi

    Thôi thế từ nay đoạ kiếp rồi
    Tin dữ bây giờ chắc tới nơi
    Nhà ta đau đớn chừng nào nhỉ
    Tối sầm trước mặt bát cơm rơi

    Rồi là nỗi nhớ vợ nhớ con bắt đầu nung nấu, nhất là sau buổi “đi cung” đầu tiên, tay Nhạ trưởng phòng điều tra xét hỏi Sở Công an Hà Nội trao cho tôi bức thư của bố tôi. Họ đã khôn khéo đánh ngay vào tình gia đình để “tù vận”. Bố tôi lúc ấy sắp tròn 80 tuổi. Cụ viết vài dòng hỏi thăm, và khuyên con “thành thật khai báo để được nhà nước khoan hồng”. Bố tôi là nhân sĩ trí thức nổi tiếng của Hà Nội, nhiều khoá là Đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố.

    Bao giờ

    Thạch thùng tặc lưỡi trên cao
    Phòng giam lạnh lẽo chìm vào cõi đêm
    Nhà ta giờ đã lên đèn
    Bữa cơm giờ chắc đã quen thiếu người
    Ta nghe tiếng mắng tiếng cười
    Thằng cu nghịch xới cả nồi cơm tung.
    Trời ơi sao nhớ quá chừng
    Bao giờ tới bữa ngồi trông con đùa
    Ngồi đây biết đến bao giờ
    Trùm chăn ta đợi cơn mơ đưa về

    Những giấc mơ đầu tiên trong tù cũng là mơ thấy vợ con, nhất là hai đứa con nhỏ (con gái Hoàng Ly lúc ấy 7 tuổi, con trai Hoàng Quân mới 2 tuổi). Có đêm mơ thấy đang dẫn 2 con đi chơi thì bị lạc, tìm mãi không thấy con, trong mơ tôi gào lên thảm thiết:

    Mơ lạc mất con

    Nửa đêm mơ lạc mất con
    Tiếng kêu thảng thốt lệ tuôn áo tù
    Bàng hoàng biết thực hay mơ
    Bừng con mắt dậy nát nhừ ruột gan.
    Nửa đời sự nghiệp tan hoang
    Con là còn lại với ngàn năm sau.
    Trời ơi xin chớ hại nhau
    Cha xin gánh hết thương đau kiếp này
    Xin trời đừng cướp trên tay
    Cho tôi sống nốt những ngày chờ trông

    Có một bài hát gắn liền với nỗi nhớ thương vợ con của tôi kéo dài suốt thời gian tù; nó luôn văng vẳng trong đầu tôi, gần như hát thầm. Đó là bài “đom đóm” mà vợ tôi thường hát:

    “Đom đóm đâu ra chiều hôm thật nhiều
    Tiền đồn ven biên anh vừa lên phiên đổi gác
    Từng bày đom đóm như thắp sáng kỷ niệm của chúng ta
    Ngày xa xưa chơi trò đi trốn nhau
    Cho em đi tìm gọi anh Đom Đóm ơi…”

    Cảm ơn nhạc sĩ Phương Linh, bây giờ khi viết những dòng hồi ức này, lên mạng tra cứu tôi mới biết ông là tác giả bài hát đã gắn liền với những kỷ niệm buồn của đời tôi!

     Sau khi những thương nhớ đã chai dần, tâm trạng tôi chỉ còn là một nỗi buồn triền miên kéo dài, như buổi chiều mùa thu tiếng nước chảy ngoài sân mà ai quên khoá:

    Chiều

    Một dãy tường cao bóng đổ dài
    Chú chim ngơ ngác gọi tìm ai
    Chiều tù như muốn dài vô tận
    Vòi nước ngoài kia cứ chảy hoài

    Sự bi quan ngày càng tăng khi mùa đông đến gần. Mỗi ngày đi cung, nhìn thấy cây bàng trong sân mỗi ngày thêm trụi lá:

    Chiếc lá bàng

    Những đôi mắt âm thầm
    Rõi qua khe cửa
    Bao giờ rụng chiếc lá bàng cuối cùng?

    Sẽ rụng đêm nay
    Khi gió bấc nổi
    Không. Nó sẽ còn đeo đẳng mãi trên cây
    Dai như kiếp sống đoạ đầy

    Trong giấc ngủ màu máu
    Chiếc lá bàng mênh mông
    Thức dậy không còn lá
    Bầu trời tím thâm

    Bỗng rùng mình kiệt quệ
    Như vừa ra đi giọt máu cuối cùng

    Mỗi đêm, nghe tiếng kêu tuyệt vọng từ những xà lim án chung thân hay tử tù. Đặc biệt ám ảnh là tiếng kêu giọng trầm trầm của một người cứ lặp đi lặp lại: “Trời hãy cứu giúp tôi!”

    Nửa đêm

    Cứ nửa đêm choàng dậy
    Vì giọng hát ồ ồ
    Bao giờ cũng một câu thôi:
    Trời hãy cứu giúp tôi!

    Lòng đất vọt ra?
    Lưng trời rót xuống?
    Xuyên bảy lần tường
    Cõi nào vọng lại?

    Tất cả choàng dậy nghe
    Rồi lục tục nằm lại
    Người ngáy tiếp
    Người trằn trọc
    Người rấm rứt

    Ta cứ ngồi bó gối
    Câu hát dội từ ngực xuống chân
    Từ chân lên đầu
    Âm âm trong tóc.
    Chỉ một câu thôi:
    Trời hãy cứu giúp tôi!

    Chỉ một câu thôi
    Vào lúc nửa đêm
    Trái đất trở mình giữa bầu trời tối đen

    Cho đến một đêm, thì không chịu nổi nữa, chính tôi phải gào lên:

    Gọi

    Tôi gọi giữa đêm. Gọi tiếng xe ngoài đường gọi gió gọi mùi hương gọi ba la bông lông sải cánh con chim dài hai thước gió đánh nhằng nhịt tái tê bầu trời lụn bại. Tôi gọi giữa đêm. Xác xơ chân tóc căng ấn đường tôi gọi. A ha! Nhảy nhót, nghiến răng, xóc lọ. Thổi tắt phụt ngọn đèn trăm nến. Nhắm mắt và mơ đi. Mảnh sân hẹp, tiếng đàn bà xối nước, một củ hành tươi. Có thế thôi. Không không không tôi chán lắm rồi. Chán “điểm”, chán bắt rận, chán đọc rõ số giam. Nửa đêm tôi gọi mộ huyệt âm vang. Tự do! Mi ở đâu?

    Đó là nói về đời sống tinh thần của tôi ở Hoả Lò.

    Còn về đời sống vật chất, thì khổ là tất nhiên. Có điều tôi vốn dĩ là kẻ rất ít quan tâm đến tiện nghi vật chất, quen sống khổ, nên không thấy có gì ghê gớm. Đặc biệt là chuyện ăn uống. Nhớ từ thuở nhỏ, không hiểu sao bữa cơm có thịt tôi chỉ ăn một hai miếng là thấy ngán! Thời học đại học, bữa cơm có miếng “mì nắp hầm” (bột mì nặn thành miếng bánh tròn và dẹp như nắp hầm “tăng xê” tránh máy bay, không có men, luộc lên cứng như đá), chút canh rau lều bều váng mỡ; những tối đói bụng thì ra cổng trường mua củ khoai, củ sắn luộc ăn thêm; cuối tuần thì rủ nhau ra cửa hàng thực phẩm quốc doanh mua một rổ rau xanh các loại, hôm nào sang thì mua vài bộ gan mề lợn (món “protein” duy nhất được mua tự do) về luộc lên chấm nước muối pha tý nước mắm xì xụp húp húp nhai nhai gọi là bữa “cải thiện”. Thời dạy học trong chiến tranh, cơm tập thể ở trường chỉ có hai lưng cơm độn mì sợi, 1 con tôm kho mặn nhỏ bằng ngón tay út, cũng bát canh rau muống lều bều vài ngọn, menu kéo dài suốt 8 năm hầu như không đổi. Cho nên cơm tù tôi cũng chóng quen: cũng cơm độn mì (chỉ kém cái là cơm gạo hẩm hôi xì), bát canh nhỏ cũng lều bều vài ngọn băm nhỏ như rau lợn, thức ăn mặn hầu như một tháng có vài miếng thịt mỡ bèo nhèo. Bù vào đó là muối vừng, lạc rang, ruốc thịt gia đình gửi cho mỗi tháng một lần chia ra ăn dần. Vợ tôi từ Sài Gòn gửi tiền nhờ chị ruột tôi là chị Bích và anh rể của vợ tôi là anh Nam thay nhau đi “tắc”. Tôi nhớ thời gian ấy tôi chỉ thèm nhất là chanh tươi! Sau lần vợ tôi ra Hà Nội đi chợ mua đồ tiếp tế, được cô ruột người bạn học thân từ cấp 2 là Uông Đình Mỹ bán hàng ở chợ Hàng Da (tôi cứ quen gọi là “cô Mỹ”) khuyên nên mua chanh cho tôi (không hiểu sao cô biết người tù rất cần thứ đó, vì thiếu vitamin C trầm trọng), gia đình mới biết.

    Cực nhất ở Hoả Lò lại là thiếu nước sinh hoạt. Mỗi sáng ra sân vệ sinh, người tù được tiêu chuẩn 1 bát con nước rửa mặt và đánh răng. Còn người ngợm thì mặc! Một tháng mới được một lần “tắm trâu”. Có một phòng tắm chung, giữa phòng là cái bể nước to đùng. Tù nhân xếp hàng đi vòng quanh bể. Hai “tự giác” lội trong bể, cái gầu nước trong tay; mỗi tù nhân đi qua chỗ “tự giác” sẽ được dội một gầu nước vào đầu, cứ thế vừa đi tiếp vừa gãi đầu và kỳ cọ người, đi 3 vòng được 3 gầu là hết lượt. Tôi nhớ mãi những buổi “tắm trâu” trong mùa đông, cái rét rùng hết mình khi nước lạnh dội vào, nhưng vẫn sung sướng vì lâu ngày bẩn thỉu ngứa ngáy do rận rệp!

    Nghe tù cũ ở đây kể mới biết: Hệ thống nước được thế này cũng là mới cải thiện, do Giám thị trưởng trại giam có con trai phạm tội gì đấy bị nhốt vào đây, khi ra tù kể về tình trạng thiếu nước khốn khổ của người tù! Trời! Không biết trước khi được “cải thiện” thì ra sao???

    Tôi được mấy tay anh chị coi “tù là nhà, tạm tha là nghỉ phép” kể cho nghe về những cực khổ của đời tù Hoả Lò trước đó vài năm; có những người tù đã chết đói trong phòng giam này, như một anh người Tàu cao lớn bị nghi là “gián điệp” trong thời Tàu Cộng tấn công các tỉnh biên giới (1979-1980). Tôi đã vụt ra bài thơ khi nghe câu chuyện ấy:

    Cái chết

    Những con rận đã bỏ anh đi hết
    Anh chết
    Trong đêm
    Miệng trắng thuốc đánh răng

    Đã bảo mãi anh rằng
    Đói đến mấy cũng đừng ăn thuốc đánh răng

    Tấm thân thước bảy
    Còn miếng giẻ hôi
    Cũng là xong nhỉ
    Ân oán một đời

    Những con ruồi bay đến

    Một chi tiết mà mấy người tù dày kinh nghiệm cho tôi biết: khi nào rận bỏ đi khỏi thân người tù là chứng tỏ người ấy máu đã lạnh, tức đã chết.

    Hoàng Hưng


    Không có nhận xét nào