Header Ads

  • Breaking News

    Một Việt Nam Cộng Hòa sau hàng kẽm gai

    Thúc Kháng/Tạp chí Luật Khoa

     01/09/2026

    Đọc sách cùng Đoan Trang

    Trại học tập cải tạo Z30D ở tỉnh Thuận Hải, năm 1985. Ảnh: Philip Jones Griffiths.

    Trại học tập cải tạo Z30D ở tỉnh Thuận Hải, năm 1985. Ảnh: Philip Jones Griffiths.

    Đêm Giáng sinh năm 1976, tại một trại giam ở Hóc Môn, ông Võ Văn Tưng được đưa ra khỏi cái thùng sắt mà chính quyền dùng làm phòng biệt giam. Ông Tưng, một tín đồ Cao Đài và từng theo học luật, bị nhốt ở đó vì không chịu viết lại bài “thu hoạch”.

    Trong bài đã nộp, ông cho rằng những sĩ quan Việt Nam Cộng hòa đang bị giam phải được xem là tù binh chiến tranh. Ông còn đòi chuyển kiến nghị của mình đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc.

    Điều này dẫn đến cuộc tranh cãi gay gắt giữa ông với lính canh, và mâu thuẫn nhanh chóng biến thành một vụ nổ súng. Từ trong trại, mọi người nghe tiếng ông Tưng kêu: “Chúng bắn chết tôi rồi, anh em ơi!” Sáng hôm sau, cán bộ nhắc đến vụ việc như một lời cảnh cáo và nói rằng có lẽ ông đã chết.

    Nhưng Võ Văn Tưng còn sống. Đạn làm gãy hai chân ông. Ông được cứu sống nhờ những bác sĩ, y tá từng phục vụ trong quân đội miền Nam đã nỗ lực dùng các phương tiện thô sơ để nẹp xương, và nhờ bạn tù lén giấu thuốc kháng sinh trong thức ăn và nước uống đưa vào. Vết thương dần lành, còn ông vẫn không chịu viết bản nhận lỗi.

    Ảnh bìa sách: Thanh Vân.

    Ảnh bìa sách: Thanh Vân.

    Câu chuyện trên được sử gia Tạ Chí Đại Trường kể lại trong quyển Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài, tập hồi ký được ông hoàn thành năm 1982, sau những năm tháng bị đưa đi học tập cải tạo. Quyển sách được bạn bè, thân hữu của ông xuất bản lần đầu tại Mỹ vào năm 1993, do Nhà xuất bản Thanh Vân ấn hành. Lúc bấy giờ ông hãy còn ở trong nước. 

    Tuy chỉ là một tập hồi ký, thế nhưng chính thời điểm ra đời và câu chuyện chứa đựng đã khiến tác phẩm vượt xa ý nghĩa của một thiên tự truyện. Thuật lại những sự việc diễn ra trong trại cải tạo sau năm 1975 – một giai đoạn “vùng xám” của lịch sử – tập hồi ký không chỉ là ký ức riêng của một người. Tạ Chí Đại Trường qua những quan sát, ghi nhận tinh tế của một sử gia đã khiến cuốn sách như một nơi lưu giữ ký ức của cả cộng đồng tù cải tạo: chuyện người này nhìn thấy được người khác kể tiếp, rồi một sử gia giữ lại trên giấy. 

    Trở lại câu chuyện của Võ Văn Tưng, Tạ Chí Đại Trường không tận mắt chứng kiến vụ nổ súng. Khi ấy ông ở một trại khác và chỉ gặp Võ Văn Tưng từ xa về sau. Câu chuyện được ông ghép lại từ lời kể của những người từng ở Hóc Môn. Dù vậy, những chi tiết ấy cũng đã đủ cho bạn đọc hình dung một hiện thực bị sử sách chính thống bỏ qua.

    Đáng chú ý, tập hồi ký còn cho ta biết hành trình của một người từ thân phận công dân chế độ cũ đã trở thành tù nhân cải tạo như thế nào sau năm 1975.

    Ngày 23/6/1975, Tạ Chí Đại Trường đến trình diện chính quyền cộng sản tại trường Taberd ở Sài Gòn. Ông mang theo một khúc bánh mì và đóng tiền ăn cho mười ngày, đúng như thông báo dành cho cấp đại úy mà ông từng mang.

    Trong những tuần lễ cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, khi nhiều người đã lo đường di tản, ông vẫn cố hoàn thành luận án. Có lẽ ông cũng như nhiều người khác hiểu rằng một chính thể đang sụp đổ nhưng chưa hình dung được chính quyền mới sẽ làm gì với mình.

    Đến giữa trưa hôm trình diện, một cán bộ tuyên bố rằng những người có mặt phải ở lại để học tập và ăn năn. Thế rồi chương trình học tập cải tạo từ chỗ tuyên bố chỉ kéo dài mười ngày bỗng trở thành nhiều tháng, rồi cuối cùng, với Tạ Chí Đại Trường là gần sáu năm.

    Suốt thời gian ấy, những người trong trại cải tạo chỉ chờ tên mình được đọc vào những dịp Tết, ngày 30/4, Quốc khánh hay sinh nhật Hồ Chí Minh. Đó là những dịp mà ai may mắn sẽ được cho rời trại.

    Cứ đến gần những dịp lễ ấy, bao lời đồn đoán lại xuất hiện, khiến cả trại xao động. Có người vì tin chắc mình sắp được cho về nên đã đem cho quần áo, chăn màn và đồ dùng, rồi sau đó phải sống thêm nhiều tháng trong cảnh thiếu thốn. 

    Những tù hình sự trẻ tuổi hiểu rõ tâm lý đó. Họ tung tin sắp có đợt thả người để được dịp đổi lấy thức ăn, thuốc lá, hoặc chờ nhận những món đồ mà những người tưởng mình sắp về nghĩ là không cần nữa.

    Có lẽ hy vọng là động lực để những người tù cố gắng sống qua từng ngày. Tạ Chí Đại Trường giữ một gói thuốc Ruby từ năm trước, định bụng khi được về sẽ mang biếu cha. Cho đến một cái Tết trong trại, gói thuốc đã nhàu và ố bẩn, ông mới lấy ra mời bạn. Sau bữa ăn, vẫn còn một điếu nằm nguyên trên đĩa. Món quà dành cho người cha đã đi hết vòng đời của nó trước khi người con được trở về.

    Rồi hy vọng nhường chỗ cho cái đói. Một ngày nọ, một vị cựu đại úy lớn tuổi mắc bệnh lao bị bắt phải ra dựng hàng rào. Những người cùng đội đã đứng che tầm mắt lính canh để ông này lén hái rau tàu bay ăn. Người đại úy già phủi bụi rồi ăn sống từng chiếc lá. Tác giả kể, ông vẫn nhớ rõ đôi má hóp và ánh mắt bỗng sáng lên vì sung sướng của vị cựu sĩ quan ấy.

    Sử gia Tạ Chí Đại Trường (1938 – 2016). Ảnh: Nguyễn Việt.

    Trong những ngày thiếu đói ấy, chính ông Trường cũng “may mắn” đào được một chiếc đầu bò khô trong đống rác. Một người bạn của ông bổ nó ra, cạo lấy chút gân và tủy đã bốc mùi, nấu cùng rau dại và sắn lên men để nồi canh có chút vị thịt.

    Dọc theo tập hồi ký, Tạ Chí Đại Trường thường đặt những cảnh khốn cùng đó bên cạnh một câu đùa. Khi nhà vệ sinh được chuyển vào gần khu phòng giam, hai tù nhân phải khiêng những nửa thùng dầu chứa đầy phân ra ngoài. Họ gọi công việc đó là “đi Apollo”, mỗi chuyến đi là một “phi vụ”.

    Bên trong hàng kẽm gai, những người của chế độ cũ không bỗng nhiên trở thành một khối đoàn kết. Họ mang vào trại cấp bậc, nghề nghiệp, tôn giáo, thói quen và những cuộc hơn thua từ đời sống trước.

    Nhưng tại sao phần lớn tù nhân không bỏ trốn? Câu chuyện về một vụ vượt trại ở Gia Trung được tác giả thuật lại có lẽ sẽ cho ta câu trả lời.

    Bảy tù nhân đã âm thầm chuẩn bị cho việc trốn trại suốt hai tháng. Họ để dành sắn khô làm lương thực và dự tính khống chế lính canh để cướp súng. Nhưng khi hành động, dây đeo súng bị mắc khiến cuộc giằng co kéo dài và kế hoạch bị lộ. Người cầm đầu bảo năm người còn lại chạy trước, còn mình và người phó ở lại cản lính. Cả hai bị bắn chết. Hôm sau, trại cho các tù nhân nhìn thấy thi thể của họ để cảnh cáo.

    Năm người kia dù chạy được vào rừng nhưng cũng không thoát. Ba người bị bắn chết trong cuộc truy đuổi, hai người còn lại bị bắt về trong tình trạng đầy thương tích.

    Sử gia Tạ Chí Đại Trường (1938 – 2016). Ảnh: Nguyễn Việt.

    Đọc đến đây, ý nghĩa của nhan đề Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài có lẽ mới hiện ra trọn vẹn. Việt Nam Cộng hòa không được “nối dài” bằng một chính phủ lưu vong hay kế hoạch phục quốc. Nó tồn tại thêm một quãng đời sau hàng rào của những nhà giam hay trại cải tạo, trong những sĩ quan, công chức, giáo sư, nghệ sĩ hay tu sĩ bị gom vào cùng một nơi. Ở đó vẫn có lòng can đảm và tình nghĩa, nhưng cũng có thói kiêu ngạo, ích kỷ, phe nhóm và phản trắc.

    Ngày 10/6/1981, khi những người khác đang làm thủ tục ra trại, Tạ Chí Đại Trường bị gọi trở lại. Sau gần sáu năm “cải tạo”, cán bộ hỏi ông có nhận ra những công trình sử học trước đây của mình là sai hay không.

    “Không, về chuyên môn,” ông đáp.

    Trong nhiều lần, ông thừa nhận mình đã nhẫn nhịn, tránh né và đôi khi hèn nhát để sống sót. Nhưng đến câu hỏi cuối cùng, ông giữ lại một ranh giới, một khí chất cuối cùng của sử gia.

    Ra khỏi trại, ông vẫn ngại gọi xe, né ánh mắt người mặc quân phục và không biết phải hành xử thế nào cho tự nhiên. Cánh cổng đã mở nhưng nhà tù vẫn ở lại trong tâm trí ông.

    Tạ Chí Đại Trường hoàn thành phần chính của hồi ký trong các năm 1981–1982, không lâu sau khi ra trại. Một đời dành cho sử học, Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài có lẽ là cuốn sử đặc biệt nhất, nó không được viết từ thư tịch hay bia đá, mà từ những điều chính ông và những người cùng thời đã sống qua sau hàng rào kẽm gai.

    Tạp chí Luật Khoa


    Không có nhận xét nào