Header Ads

  • Breaking News

    Vụ án “Về Kinh Bắc” (1982–1985) Kỳ 5

    Kỳ 5

    Tác giả: Hoàng Hưng

    September 1, 2026

    Không ảnh trại Thanh Cẩm (google.map)

    Sinh hoạt trong xà lim

    Những tháng đầu, đi “cung” liên miên, tâm trạng ẩn ức và bức xúc lâu lâu lại bùng nổ, như trong một buổi trưa nghe rung chuyển từ một cơn động đất xa:

    Buổi trưa
    Sau một cơn động đất xa

    Chói chang ngực rộng mây bay về khát khát
    Cây đá đổ vách trần xiêu lao đao bốn mặt
    Ai gọi rất xa

    Chờ ta!
    Chờ ta bùng nổ!

    Những chiều tối âm u nằm co quắp như dưới đáy huyệt nhưng trong lòng bừng bừng uất ức:

    Vụt hiện 6

    1. Thần trí vùng lên đáy huyệt rùng rùng. Tắt lịm, u mơ, nhoà toả. Lấp loá vàng son vỗ nhịp. Đìu hiu.

    2. Thân thể nát như tương. Kiệt quệ lời ca khật khùng râu tóc. Co quắp nằm chịu trận. Sắt xầm, ngực nghẹn, u âm.

    3. Xóm xà lim mìn mịt mặt người, ú ớ gọi kêu cào vách đêm thăm thẳm. Thông thống vào lòng nhân loại tối đen. Quì khóc mắt ráo hoảnh.

    Nhất là buổi chiều cuối năm, nghe tiếng con lợn sắp bị chọc tiết cho trại ăn Tết:

    Chiều cuối năm (Vụt hiện 7)

    Chạng vạng hồn ta u âm mộ huyệt răng thép răng đá ngả ngả xiêu xiêu. A! Trần nặng tường dày. Còn gì nữa? Con rệp đốt con muỗi bay con tắc kè thè lưỡi, lưới thép gai chim trời không xuống đậu để mình ta vòi vọi dõi tầng không. Đập đầu cửa sắt chân lún xi măng ăn đái ỉa nằm ngồi hàng thế kỷ, ằng ặc chiều đông cắt tiết bầu trời. A! Nát nhừ số mệnh bàn tay!

    Sợ nhất với người tù là suy thoái sức khoẻ thể chất và tinh thần.

    Để chống lại suy thoái thể chất, tôi kiên trì tập luyện trong phòng giam: thể dục và chạy tại chỗ, “đạp xe” khi nằm trên giường!

    Chạy

    Chạy một mình
    Trong bóng tối
    Chạy co đầu gối
    Chạy vã cô đơn
    Chạy quên sợ hãi
    Mồ hôi mặn
    Rít qua kẽ răng.
    Chạy một mình
    Ảo tưởng sống
    Nghe tiếng chân mình
    Âm âm xi măng.
    Chạy một mình
    Run đầu gối
    Chạy từ đói
    Đến hết muối.
    Chạy một mình
    Lê không nổi
    Chạy đỉnh núi
    Toạc bàn chân
    Chạy trong bùn
    Chân bị trói
    Chạy một mình
    Trong bóng tối
    Bỏ quên tôi
    Cả thế giới.
    Trái đất ngủ
    Một mình tôi
    Chạy tại chỗ
    Thình thình thình
    Tim tôi gõ
    Ai nghe ai nghe
    Ai vào cắn cổ
    Ai đá lăn chiêng
    Mắt nhắm nghiền
    Tôi cứ co
    Đầu gối

    Chống lại suy thoái tinh thần, tôi may mắn có được Thơ! Cứ lẩm nhẩm những câu thơ buột ra trong đầu, cho đến khi thuộc lòng! 30 bài thơ trong tù đã ra đời như thế, có những bài thuộc nguyên si chỉ cần chép lại sau khi ra tù, có những bài chỉ có vài câu nhưng khi ra tù thì tôi phát triển thành bài, rồi tập họp thành tập “Ác mộng”! Thơ chính là Thiên thần Hộ mệnh của tôi trong 39 tháng lao tù!

    “Ác mộng” là ký ức của tôi về hơn 1000 ngày đêm lao tù, nhưng là sự thật của hơn 1000 đêm! Tất cả những đêm trong tù là những đêm ác mộng! Cũng có thể coi là những giấc mơ dị kỳ thì đúng hơn. Một vài giấc mơ được ghi lại ở đây:

    Những mảnh mộng

    1. Chạy cuồng chân đồng đất đỏ ngầu, lửa sắt toé tung, mưa máu. Thằng bé xoè tay xin chó đá. Mài đầu rên xiết. Hồn kinh.

    2. Chim đen bậu kín mặt nhà thờ. Pháp sư rán bánh. Róc rách suối hoa vàng nở. Mắt cá trừng trừng trong lưới mông mênh.

    3. Em ơi mộng mị trần truồng góc tối. Vút đài cao ngăn ngắt trăng xa. Bãi biển oằn oài vũ nữ quay tít. Em không nói khoá trái nhà hoang dắt tay nhau về vô tận. Ngày nhật thực bảy mặt trời vần vụ. Gió dậy đồng không nơi ẩn náu.

    Gần đất xa trời

    Đêm em về trắng toát thời thơ ấu
    Đêm mẹ về chẳng nói lại đi

    Ở đây gần đất xa trời
    Ngủ là sum họp với người cõi âm
    Tỉnh ra là chết âm thầm
    Xi măng lạnh, mấy chứng nhân thạch thùng

     Có mấy giấc mộng kỳ lạ không thể quên:

    Tôi mơ thấy mình ở trong một ngôi chùa. Một ông sư trẻ dạy tôi nhảy cao, nhảy lên nhảy xuống mà lần nào cũng chỉ tới xà nhà, không lên đến nóc.

    Tôi mơ thấy mình được Phật Bà cho một chiếc chiếu. Ngồi lên đấy, chiếc chiếu từ từ bay lên, đưa tôi qua cửa sổ xà lim, bay đi một vòng trên cảnh đồng quê, rồi lại bay vào… xà lim!

    Tôi mơ thấy mình trên chiếc thuyền đi chơi hồ Hoàn Kiếm, đi cùng mấy ni cô mặc áo lam nhạt. Một ni bỗng nói với mình: “Muốn giữ đầu lên cầu mà đứng/ Đi đến gần thì bưng lấy đầu!” Sực tỉnh dậy, mình ghi nhớ mãi câu ấy. Sau này ngẫm nghĩ, có lẽ phương châm sống mà mình luôn tự nhủ đã kết thành câu thơ trong giấc mơ ấy: Muốn tự bảo vệ thì chỉ có cách là CÔNG KHAI MINH BẠCH mọi tư tưởng, việc làm của bản thân, dù đúng hay sai, không để mọi người nhất là an ninh đoán định, suy diễn, nghi ngờ những gì khuất tất (như trong bản khai lý lịch thì tiêu chuẩn đầu tiên là “rõ ràng”). Sau này, mỗi lần an ninh thăm hỏi, tôi đều nói rõ: tôi nghĩ gì đều viết công khai lên các phương tiện truyền thông, không dùng mật danh, và các anh thoải mái đọc email, nghe điện thoại của tôi, tôi không có gì phải giấu! Nhưng không thể HÚC ĐẦU VÀO ĐÁ! Phải giữ cái đầu để tiếp tục sống và làm việc!   

    Có lần tôi mơ thấy mình trèo lên một cầu vồng bảy sắc giữa trời. Và ngã…

    Sau khi ra tù tôi viết bài “Cầu vồng” kết hợp giấc mơ “Cầu vồng” với câu khẩu truyền của ni cô trong giấc mơ trên:

    Cầu vồng

    1.

    Sững sờ lặng ngắt
    Anh nắm chặt tay em.
    Không anh không chui qua đâu
    Sợ bước chân đi
    Cấm kỳ trở lại

    2.

    Cầu vồng chắn cơn mưa
    Cầu vồng chắn cơn mơ
    Cầu vồng mở
    Vùng trời mù mờ

    3.

    Cầu vồng mống cụt
    Anh trèo chơi vơi
    Đến lưng chừng trời
    Thì ngã

    4.

    “Muốn giữ đầu lên cầu mà đứng
    Đi đến gần thì bưng lấy đầu [1]
    E đến khi mình chết
    Chưa giải được lời mơ

    Song có một điều khiến tôi cũng phải suy nghĩ: sau khi ra tù, tôi được người anh đồng hao là anh Bính, nguyên hiệu trưởng một trường cấp hai, sống ở làng Bằng A bên kia sông Tô Lịch xê xế nơi tôi bị giam, cho biết là trong khu trại giam ngày trước có một ngôi chùa! 

    *  

    Các buổi đi “cung” ở đây không có gì để nhớ. Phần lớn chỉ là khai đi khai lại lịch sử bản thân, các mối quan hệ, diễn biến tư tưởng…

    Nguyên tắc thẩm vấn của công an là cứ hỏi đi hỏi lại nhiều lần để xem những lời khai có khớp nhau không, qua đó họ có thể biết đâu là thật đâu là giả. Như đã nói, tôi đâu có gì phải giấu, ngoài 2 mối quan hệ và 2 văn bản nguy hiểm mà họ không có manh mối thì tôi không hé răng (Nguyễn Kiến Giang phản biện về đường lối kinh tế của Lê Duẩn và tiểu thuyết “Porcinomanie” của Nguyễn Xuân Khánh).

    Nhưng rồi thưa dần những buổi đi “cung”, rồi ngưng hẳn sau hơn một năm. Buổi cuối cùng, người mang quân hàm thiếu tá của Cục Điều tra Xét hỏi (theo hồi ức của Hoàng Cầm thì người này cũng hỏi cung anh, tên là Chiến) hỏi tôi về quan hệ với nhà thơ Hà Thúc Sinh ở Sài Gòn mới vượt biên sang Mỹ. Anh cho biết, nhà thơ này đã viết trên báo Mỹ về những buổi gặp gỡ “các công tử đỏ” ở nhà tôi trước khi vượt biên!

    Tôi nhớ trong buổi ấy, lần đầu tiên tôi hút thuốc lào! Khi thấy người cán bộ điều tra lôi chiếc điếu cày ra rít ngon lành và âm thanh tiếng rít rất thú vị, tự nhiên tôi nổi tò mò. Xin một điếu! Anh vui vẻ trao cho tôi chiếc điếu, tự đánh diêm vào miếng giấy báo và châm lửa cho tôi! Ho sặc sụa! Cả hai cùng cười!  

    Hà Thúc Sinh tên thật là Phạm Vĩnh Xuân, nhà thơ-dịch giả, sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hoà. Anh là con trai người vợ đầu của ông Phạm Văn Hiển (quen được gọi là ông Hiển Ký) đại điền chủ và trùm giáo dân ở Thanh Hoá (nghe nói ông là người liên quan đến vụ phá đập Bái Thượng trog kháng chiến chống Pháp, may trốn thoát vào Nam trước 1954). Tôi gặp anh tại nhà ông Hiển khi anh đi cải tạo về năm 1980, vì bà vợ hai của ông Hiển là dì ruột của vợ tôi (dì Loan rất tốt bụng, đối xử tử tế với vợ chồng tôi khi chúng tôi vào Sài Gòn sinh sống; còn ông Hiển thì rất trọng kiến thức, gia thế và tư tưởng của tôi – mà ông không thể hình dung ở một “cán bộ” từ miền Bắc “Cộng sản”).

    Trong khoảng 2 năm ở Sài Gòn trước khi vượt biên, Hà Thúc Sinh có quan hệ khá chặt chẽ với tôi. Anh đã dự một số buổi gặp gỡ văn nghệ sĩ miền Bắc ở nhà tôi như đã kể ở phần đầu của hồi ức này.

    Thì ra khi sang Mỹ, Hà Thúc Sinh đã gọi bọn chúng tôi là “các công tử đỏ”.

    Sau buổi thẩm vấn ấy, tôi được để yên. Sau này, từ câu chuyện Hà Thúc Sinh, tôi đoán là họ cần thời gian để tìm hiểu xem tôi có liên lạc, hoạt động gì với các nhà văn hải ngoại không, để quyết định mức độ trừng phạt!

    Gặp lại nhà thơ Hà Thúc Sinh (bên trái) ở Houston, TX, Hoa Kỳ năm 2018

    Lần đầu sang Mỹ năm 2003, tôi đến thăm dì Tâm (em họ của mẹ tôi) ở San Jose, thì nhận được quà của Hà Thúc Sinh gửi từ Sacramento: mấy quyển sách in truyện ngắn và hồi ký nhà tù của anh (“Đại học máu”) và 1 chai rượu vang. Hai chúng tôi gặp lại nhau năm 2019 ở Houston, từ đó thường giao lưu. Anh nhận lời tôi, thường xuyên gửi truyện ngắn cho website vanviet.info thuộc Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN mà tôi đồng sáng lập và điều hành, và đã nhận giải thưởng Văn Việt về văn xuôi năm 2020. Anh còn nhận lời tham gia Ban Xét Giải Văn Việt mà tôi điều hành (Thường trực Ban), nhưng khi công bố danh sách Ban, thì anh gọi điện xin rút vì: “Tưởng anh (HH) là Trưởng ban, nay mới biết ông Nguyên Ngọc đảng viên Cộng sản và tác giả những văn phẩm đánh Mỹ–Nguỵ trước 1975 thì không thề tham gia!”. Điều thú vị là trong các truyện của anh, những chi tiết nhỏ về cuộc sống và từ ngữ đặc thù của quê hương Thanh Hoá vẫn rất sông động dù anh xa quê từ lúc mới 10 tuổi! Mấy năm gần đây, anh bị hư cả hai mắt, rất buồn; nhiều đêm anh gọi từ Houston về nói chuyện với tôi ở Sài Gòn! Lòng nhớ thương quê hương của anh nặng trĩu!

    *

    Vậy là bắt đầu những ngày lặng lẽ, âm thầm chờ số phận của mình được định đoạt!

    Hình bóng cuộc đời “ngoài kia” mỗi ngày thêm phai nhạt. Chỉ còn vương vấn mỗi buổi trưa khi nghe vọng từ khu nhà làm việc của cán bộ trại tiếng Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn từ một chiếc cassette Sharp/ Sony hay băng cối Akai nào đó.

    Cũng có khi may mắn được ở xà lim phía ngoài, có thể leo lên cửa sổ nhìn sang bên kia sông Tô Lịch có mấy cái lò gạch toả khói, nghe được tiếng người tiếng xe xôn xao trên đường bờ sông. Và một ngày tháng ba, có cánh hoa soan từ đâu lọt vào phòng giam khiến sống dậy một nỗi niềm:

    Cách bảy lần tường

    Cách bảy lần tường
    Có con mương nhỏ
    Mùi bùn chiều mưa
    Có con đường làng
    Ngây ngây xoan tím

    Cách bảy lần tường
    Tiếng cười vụt qua
    Một trưa rất ròn

    Sau bảy lần tường
    Có người đêm đêm
    Mắt mở trừng
    Nghe sấm chạy

    Một hôm
    Có cánh hoa xoan
    Vào thăm người ấy
    Bàng hoàng người ấy
    Nhặt cánh hoa xoan

    Chuyện chỉ có vậy
    Sau bảy lần tường

    Buồn quá, cứ khi đêm xuống, là ra sát cửa, ôm chấn song hát. Thôi thì hết bài nọ đến bài kia, từ nhạc “đỏ” đến nhạc “vàng”, từ bài ta đến bài Nga, bài Tàu, đến Pháp. Có hôm hát liền 5 bài quốc ca Việt Nam DCCH, Việt Nam Cộng hoà, Liên Xô, Trung Cộng, Pháp! Không thấy cai tù nói gì!

    Hát chán thì vào nằm, ngắm đôi thạch sùng trên trần. Chúng trở thành đôi bạn thân thiết nhất! Trong bài thơ sau, tôi gọi nó là “thạch thùng” cho giống với tiếng kêu của nó:

    Thạch thùng

    Đôi thạch thùng trên trần xà lim, trắng hồng, trong trong, bên ngọn đèn ấm áp. Chúng làm sao biết chốn này tù ngục. Chúng đâu thèm quan tâm một người suốt ngày đêm nằm ngửa nhìn chúng khoả thân yêu nhau. Chúng đâu biết đêm nay đêm đông cắt da cắt thịt. Trắng hồng, trong trong, chúng lặng lẽ yêu nhau bên ngọn đèn toả hơi xuân. Ngọn đèn tù ngục. Nếu con người khoả thân không hổ thẹn. Nếu con người yêu nhau hồn nhiên dưới mặt trời. Như thạch thùng. Thì có lẽ không có tù ngục. Phải không nhỉ thạch thùng

    – Thạch. Thùng.

    Tâm trạng áp đảo trong những ngày tháng chờ đợi vô vọng này là chán nản:

    Chán nản

    Như chỉ còn một ấm ức
    Phân tích mùi hành lang mốc meo thăm thẳm

    Như chỉ còn một mạo hiểm
    Nhìn vói qua mái nhà chằng chịt thép gai

    Như chỉ còn một thú vui
    Ôn lại những giấc mơ dị kỳ chắp vá

    Như chỉ còn một ao ước
    Thấy mặt người cách tường trò chuyện

    Như chỉ còn một lời nguyện
    Kiếp sau đừng biết cuộc đời tự do

    Lắm lúc thấy thời gian dài như cả một đời người:

    Chớp mắt

    Một vuông tường một thế giới
    Một giấc ngủ một đời người

    Cả ngày Tết đến cũng không ai mong đợi, chỉ còn là bữa ăn có tý thịt và một câu chuyện cười qua các xà lim:

    Sáng mồng Một Tết

    Đang vui tíu tít hàn huyên
    Tỉnh ra trơ trọi giữa nền xi măng
    Trời mồng Một đã vào song
    Đã ho hắng cả mấy phòng gần xa.
    Cách tường có cậu cười qua:
    Được một bữa thịt đêm ra đầy quần!
    Tiếng cười cả xóm rân rân
    Như quên hết cả một năm đoạ đầy

     *

    Một hôm, được gọi ra, nói là được chở đi gặp gia đình.

    Chiếc xe command-car đưa tôi qua các con phố quen thuộc, đến một ngôi nhà ở phố Trần Bình Trọng, thuộc Bộ Nội vụ. Điều bất ngờ là tôi thấy tất cả những cảnh đường phố khá xa lạ, như thể thuộc về một thế giới khác mà tôi nhìn với con mắt thờ ơ! Vợ và con trai tôi (khi đó được hơn 3 tuổi) ở Sài Gòn ra, đã ngồi đợi trong phòng. Con trai tôi Hoàng Quân, xa bố từ khi 2 tuổi, khi mẹ nói chào bố đi, đã lắp bắp “Cháu chào bố!”. Đến khi xong cuộc gặp, mẹ bế ra, con mới quay đầu lại và khóc thét lên. Chắc lúc ấy con mới nhận ra bố!

    Cuộc gặp và tâm trạng lạ lùng của tôi khi ấy được ghi lại trong bài thơ sau:

    Giã biệt

    Tôi lại quay trở lại
    Thế giới bốn thước vuông
    Có ăn ngủ ỉa đái
    Có giận hờn ghen tuông.

    Xa lạ quá mất rồi
    Phố xá như trong mộng
    Người trên đường như nộm
    Cứ trân trân nhìn tôi.

    Cả em nữa em ơi
    Như thuộc về cõi khác
    Hụt hẫng phút hàn huyên
    Anh ôm em ngơ ngác.

    Và xin em chớ giận
    Khi nhìn thấy gói quà
    Anh muốn ngay lập tức
    Quay lại chỗ vừa ra
    Để run run mở gói
    Hau háu mắt bạn tù
    Đêm nay là đêm hội
    Cơm muối trắng như mơ.

    Thôi em về đi nhé
    May em không khóc oà
    Quay lưng con bỗng thét
    Giờ mới nhận ra cha.

    Anh cúi đầu bước vội
    Thầm nói em đừng chờ

    Tôi lại quay trở lại
    Thế giới của tôi đây
    Em chỉ là giấc mộng
    Bên trên khối mộ dầy

    Sau cuộc gặp ấy, có một điều quan trọng làm thay đổi sinh hoạt trong xà lim của tôi: tôi nhắn về nhà cho anh cả là bác sĩ Hoàng Văn Sơn gửi vào sách học tiếng Anh và báo tiếng Anh. Ít lâu sau, tôi nhận được quyển Ngữ pháp tiếng Anh, từ điển Anh-Pháp Pháp-Anh, và mấy tờ báo Moscow News (Tin tức Mạc Tư Khoa, nhật báo tiếng Anh của Liên Xô).

    Thế là bắt đầu những ngày đầy bận rộn: trừ giờ ăn giờ ngủ, tôi chúi mũi vào tự học tiếng Anh bằng cách đọc từng bái báo, tra từ điển và ngữ pháp để dịch, rồi học thuộc từng từ. Tất nhiên kém nhất là phát âm, vì chỉ tập theo phiên âm quốc tế ghi trong từ điển, và accent thì ảnh hưởng nặng tiếng Pháp vì hai ngôn ngữ có rất nhiều từ viết như nhau hoặc gần như nhau mà đồng nghĩa.

    Về sau, tôi sử dụng được tiếng Anh để dịch sách báo kiếm ăn và đi sâu vào thơ Mỹ cũng nhờ thời gian ở tù này! Trước kia, có học tiếng Anh ở trường phổ thông nhưng vì gắn bó nhiều với tiếng Pháp nên tôi không chú ý học tiếng Anh lắm. Trong tù, sau thời gian hoàn cung, không có việc gì làm, tôi mê mải học tiếng Anh đến tận tối khuya, rồi ngủ ngon lành. Trước đó, tôi vốn đã ngủ rất ngon trong mọi chốn giam giữ, nhưng từ khi có sách báo để tự học tiếng Anh, tôi càng dễ ngủ hơn. Một buổi sáng dậy trễ, tôi giật mình vì tiếng quát của cai tù: “Thằng này ngủ ngon thế? Cứ như đéo phải thằng tù!”

    Phải! Một người không bị lương tâm cắn dứt thì sao chẳng ngủ ngon? 

    Ở tù ra, chưa kiếm được việc làm ổn định, tôi phải kiếm sống bằng việc dịch sách, báo. Năm 2003, lần đầu tiên được mời sang Mỹ, nói chuyện tại Đại học Bang Washington, khi tôi ngỏ lời xin lỗi về phát âm không chuẩn do tự học tiếng Anh trong tù, thính giả đã vỗ tay cổ vũ một tràng dài! (Mặc dù trước chuyến đi Mỹ, tôi đã “nhờ” một thanh niên là khách du lịch Mỹ đến nhà luyện đàm thoại cả tháng trời, tôi vẫn phát âm tiếng Anh với giọng Pháp!)

    *

    Thấm thoắt đã qua cái Tết thứ 2 ở B14!

    Một hôm tôi được gọi ra. Cán bộ điều tra (tôi không nhớ tên, chỉ nhớ mặt anh rỗ hoa) hỏi vài câu về sức khoẻ, rồi tuyên bố: “Vụ của anh đã được Viện Kiểm sát kết luận. Do anh là cán bộ phạm tội lần đầu, nên anh được chiếu cố không bị ra toà xét xử, mà chỉ bị xử lý hành chính, tức là tập trung cải tạo”. Tôi hỏi: “Thời gian cải tạo là bao lâu?” “36 tháng”.

    Không nén nổi mừng rỡ, tôi reo lên: “Tôi đã bị giam 30 tháng rồi! Vậy là tôi chỉ còn 6 tháng!”

    Mặt anh cán bộ điều tra bỗng bỏ bừng hết cả, những nốt rỗ trên mặt anh càng nổi rõ! Tôi không hiểu tại sao, mãi cho đến khi lên “trại cải tạo”, tôi thuật lại câu chuyện, thì các anh ở đội sĩ quan công chức “nguỵ” Sài Gòn phá ra cười: “36 tháng là một lệnh! Tập trung cải tạo là theo từng lệnh, không có thời hạn nhất định! Hết lệnh này sẽ tiếp lệnh khác! Có người ở đây đã 10 lệnh rồi!” Bấy giờ tôi mới biết mình thậm ngu! Mình đã bị xử lý theo nghị định “tập trung cải tạo đối với những tội xâm phạm an ninh quốc gia”, là loại “án cao su” không xét xử còn tệ hơn những án có thời hạn do toà án phán quyết! Thảo nào anh cán bộ điều tra đỏ hết cả mặt khi thấy tôi reo mừng! Chắc anh tưởng là tôi giễu anh!

    Ít ngày sau, tôi được lệnh đem hết “nội vụ” ra khỏi phòng!

    Tôi được dẫn ra phía sau khu nhà “làm việc”, ở đó có hơn chục người tù đứng ngồi lổn nhổn. Trong số đó có Phan Đan! Hai đứa gặp nhau bỗng… cả cười! Tôi thốt lên: “Đúng là chuyện vớ vẩn, chẳng đâu vào đâu!”.

    Mỗi người được phát 2 nắm cơm và một gói muối vừng! Tôi cho bớt Phan Đan một nắm vì vẫn còn đồ tiếp tế của gia đình!

    Rồi tôi được gọi lên một chiếc xe tải bít bùng cùng với mươi người tù khác!

    Chẳng biết xe chở mình chạy đi đâu? Tới “trại cải tạo” nào?

    Chạy đến đêm thì thấy xe bò lên dốc, biết là xe đang vượt đèo, tức là sẽ đến một vùng núi cao. Cảm giác lúc ấy giống hệt như ngồi trong một cỗ quan tài lớn:

    Đêm vượt đèo

    Nhắm mắt cho đầy bóng tối
    Tiếng xe gằn giọng vượt đèo
    Tiếng mõ kinh mùi nhang khói
    Chiếc quan tài đi cheo leo.

    Trời ơi sương mù mất lối
    Chẳng biết hồn lạc về đâu
    Chỉ còn ánh đèn vòi vọi
    Đêm đêm em thắp nguyện cầu.

    Có hình ảnh “Chỉ còn ánh đèn vòi vọi/ Đêm đêm em thắp nguyện cầu” là do hôm đến thăm tôi ở căn phòng của Bộ Nội vụ phố Trần Bình Trọng, vợ tôi cho biết: em đã được bà dì (em họ của mẹ tôi) ở nhà kế bên là dì Băng Tâm, một người rất tốt bụng, dẫn lên chùa quy y để có được sự độ trì của Đức Phật từ bi. 

     9 THÁNG Ở TRẠI CẢI TẠO THANH CẨM

    Vào khoảng nửa đêm xe dừng lại.

    Chiếc bạt bịt kín xe được mở ra.

    Bước xuống: lưng chừng một cái gò hay đồi nhỏ, một phòng lớn có bệ xi măng. Mọi người lục tục bước vào theo lệnh của mấy anh công an đứng trước cửa.

    Nằm xuống một lúc là chợp mắt vì mệt.

    Bỗng choàng dậy vì tiếng gà gáy!

    Trời vẫn còn tối, sương phủ kín phía ngoài song cửa.

    Không ngủ lại được nữa, tôi bước ra cửa. Bỗng, như thể theo thói quen lúc ở Xà lim Bộ, tôi bám tay vào chấn song, cất tiếng hát! Không hiểu sao tôi lại hát bài “Bài thánh ca buồn” một cậu tù lưu manh đã dạy mình hồi ở Hoả Lò:

    “Bài thánh ca ấy còn nhớ không em
    Noel năm nào chúng mình có nhau…”

    Hát xong bài, tôi vẫn đứng đó nhìn ra ngoài trời sương.

    Một lúc sau, bỗng có mấy bóng người áo bông sùm sụp ở đâu chạy đến trước song.

    – Các anh ở đâu mới lên?

    – Dạ, ở xà lim Bộ!

    – Tội gì?

    – Đủ thứ. Riêng tôi tội “lưu truyền văn hoá phản động”!

    Mấy bóng chạy đi.

    Một lúc sau, lại có tiếng chân chạy tới. Lần này hơi nặng nặng.

    Ồ! Một rổ tướng bốc khói nghi ngút, thơm phưng phức! Đầy khoai, sắn mới luộc!!!

    – Các anh ăn tạm cho đỡ đói!

    Cả phòng ngồi dậy và… tưng bừng!

    Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh, đang đói meo thì được một bữa no!

    Khi tôi viết những dòng này, thì tác giả bài hát, nhạc sĩ Nguyễn Vũ vừa qua đời. Xin gửi tới hương linh ông lời cảm tạ!

     Sáng rõ mặt người thì một người thanh niên gánh đôi quang gánh lên tới. Tôi nhớ (không chắc chắn) tên anh là Thành, nhưng sẽ không bao giờ quên khuôn mặt trắng hồng, lai Tây, sáng sủa lanh lợi, khá điển trai của anh. Anh là dân Sài Gòn vượt biên bị bắt, được làm chân “tự giác” chuyên việc dọn phân ở các nhà xí trong trại, nên có thể đến tất cả các lán giam tù nhân. Anh cho biết những người cho chúng tôi khoai sắn luộc hồi nãy chính là các cha công giáo được đặc cách giam trên khu cao nhất của trại, ở đây gọi là khu “Vatican”. Các vị không phải ra ngoài lao động như những trại viên khác, chỉ tập trung bên ngoài lán để đan lát rổ rá, và được nấu ăn tự do.

    Phòng của bọn tôi đang ở là phòng cho các tù nhân mới nhập trại, chờ phân về các lán.

    Không ngờ bài “Thánh ca” của mình hữu dụng gớm!

    Anh “tự giác” này rất tháo vát! Anh đã lợi dụng quyền tự do đi lại khắp trại để làm công việc “mua bán đổi chác” mà về lý thuyết thì bị cấm (công an đã phổ biến cho chúng tôi nội qui trại có qui định ấy). Anh công khai hỏi chúng tôi ai có nhu cầu gì cứ nói (chắc chắn anh được những cán bộ trại quyền thế chống lưng, thậm chí có thể chỉ là trung gian cho họ). Tôi đã nhờ anh đổi một chiếc quần bò gia đình mới gửi vào lấy món đồ ăn gì đó không nhớ nữa.

    Ngay hôm sau đó, tôi bị chuyển lên phòng “kỷ luật” phía trên cao hơn! Đó là một xà lim nhỏ, trên bệ xi măng có cùm sắt. Đã có ở đó một tù lưu manh bị cùm hai chân suốt ngày đêm, còn tôi chỉ bị cùm 1 chân ban ngày, tối được “tha”! Công an nói tôi bị kỷ luật vì “mua bán đổi chác”, nhưng tôi hiểu thừa đó chỉ là cớ để dằn mặt tôi trước khi được đưa về lán giam chung.

    Tôi chỉ ở đó có 3 ngày. Trong thời gian ấy, tôi biết qua những cuộc trò chuyện với cậu tù lưu manh: ở xà lim bên cạnh là linh mục Nguyễn Văn Lý người sau này sẽ nổi tiếng vì bị bịt mồm trước toà khi hô đả đảo Toà án Cộng sản! Linh mục thường gửi cho cậu quà bánh (chắc cũng qua anh Thành), và giảng lẽ đạo khuyên lẽ đời cho cậu. Tôi đã nghe vài buổi linh mục này nói chuyện giọng Huế hơi khó nghe, tất nhiên cậu tù kia thì cứ dạ dạ liên hồi rất “ngoan hiền”!

    Ba ngày sau, tôi được đưa về lán được gọi là của “chính trị phạm Bắc”.

    Trại Thanh Cẩm nằm ở ven sông Mã, gần thị trấn huyện Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá. Trại có nhiều dãy lán nhà lá, chia làm 2 khu hai bên: bên phải là khu A, khu chính trị phạm. Khu B bên trái là khu thường phạm. Khu A có mấy lán, chủ yếu là giam các sĩ quan công chức của chế độ Sài Gòn cũ (Việt Nam Cộng Hoà), chỉ có 1 lán cho chính trị phạm Bắc như tôi. Nói là chính trị phạm cho oai, thực ra chỉ có mình tôi là phạm tội “tư tưởng chính trị”, còn lại là 2 thành phần: những người vượt biên sang Hong Kong và người Hoa ở khu vực biên giới bị tập trung sau chiến tranh với Tàu Cộng năm 1979; riêng có 1 người Tàu hơi già, được biết là gián điệp từ Tàu sang bị bắt đã khá lâu.

    Bạn “cải tạo”

    Ai cũng biết, chữ “cải tạo” chỉ là uyển ngữ của “tù”, đi “cải tạo” là đi “tù không án”. Nghị định “tập trung giáo dục cải tạo những phần tử cỏ hành động nguy hại cho xã hội” của Chính phủ có từ năm 1961 (Nghị định 49-CP), đặc biệt là đối với những hành động “xâm phạm an ninh quốc gia”; nó trao quyền cho Uỷ ban Nhân dân các tỉnh/thành phố và Bộ Nội vụ (Công an) mà không cần qua toà án xét xử. Tôi không nhớ nó được bãi bỏ vào năm nào?

    Ở lán “chính trị Bắc”, có mấy người tù vượt biên nổi bật:

    Một cậu người Quảng Ninh con nhà khá giả, say mê chơi ghi ta nhất là nhạc Vũ Thành An (các “Bài không tên”).

    Có 3 cậu vượt biên bị bão giạt lên một hòn đảo nhỏ trên vịnh Bắc Bộ, khi lính biên phòng lên bắt, các cậu đã cả gan dùng súng chống lại. Biết tội nặng khó có ngày về, một hôm các cậu trốn trại. Nhưng chỉ 3 ngày sau là các cậu bị bắt lại, tôi chứng kiến cảnh các cậu, quần áo đầu tóc tả tơi, bị công an giải về trại, đưa lên phòng kỷ luật.

    Có một cậu rất trẻ, má đỏ môi hồng, thanh tú và ẻo lả như con gái. Một hôm, sáng ra cậu tái nhợt, không đi lao động được. Tôi thấy mấy anh chàng vâm váp săn đón săn sóc rất tận tình. Sau mới biết cậu là “dụng cụ tính dục” của mấy người kia, thay thế cho… đàn bà trong cảnh “b… tù c… hãm”! Chắc đêm qua cậu bị chúng hành dâm tập thể quá sức chịu đựng!

    Ông Tàu gián điệp thì lâu lâu lại lên cơn (giả?) dại, múa hát lung tung! Chả biết ngày nào được về quê hương?

    Số người Hoa biên giới thì hiền lành nhất! Họ cứ im lặng, rất chăm chỉ lao động, không nề mọi việc nặng nhọc. Nhiều người có được người “bảo trợ” thì tận tình phục vụ người ấy. Tôi cũng có một anh “phục vụ” như thế: Tôi cùng ăn với anh, chia đôi tất cả thức ăn của riêng mình (do gia đình “tắc” hay tôi mua ở cantine của trại bằng tiền mà gia đình gửi cho, tất nhiên với giá cắt cổ). Đáp lại, anh nấu ăn cho tôi, giặt quần áo cho tôi, gánh nước sông lên cho tôi sử dụng, tẩm quất cho tôi! Anh còn để ý thu lượm đồ ăn trong khi đi lao động như mót khoai sắn sau khi thu hoạch, bắt nhái, rắn… về “cải thiện”! 

    Trong số ấy, có một anh được chuyên trách chăn đàn trâu của trại, một mình một công việc không có ai kiểm soát. Nghe nói anh đã được tha về, nhưng xin ở lại trại vì hình như anh không còn gia đình, nhà cửa gì sau chiến tranh biên giới. 

    Ngoài giờ lao động thì tôi hay lên lán của “chính trị” B chơi. Biết tội “chính trị” của tôi, lại thấy tôi đọc báo tiếng Anh, hiểu biết về văn hoá phương Tây không khác gì họ. Nhất là sau khi biết gia tộc tôi, thì họ rất cởi mở chan hoà. Đúng thế! Mấy ai trong số họ không biết chú ruột tôi là Đại tá Hoàng Thuỵ Năm, đại diện của chính quyền Sài Gòn trong Uỷ hội quốc tế đình chiến, đã bị Việt Cộng bắt cóc ở Thủ Đức và đưa về Khu (bị thủ tiêu hay là ông đã nhảy xuống sông tự vẫn trên đường sông vẫn chưa rõ) năm 1961; đám tang của ông đã thành cuộc biểu tình khổng lồ phản đối Việt Cộng vi phạm Hiệp định Geneve!

    Trong số “nguỵ quân nguỵ quyền” mà tôi có giao lưu, tôi nhớ có một ông Thượng nghị sĩ người Bắc họ Hoàng, một ông người Quảng Nam là Phó Chủ tịch Quốc Dân Đảng, một ông chủ bút tờ báo gì đó của quân đội bị hỏng mắt trong tù (tên là Thiên Lý?), một anh là nhân viên Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo được cử làm Phụ trách văn hoá của trại (mấy tháng sau thì tôi thay chân anh), một anh khác cũng “đặc uỷ tình báo” người Huế được cử làm Phụ trách Lao động của trại, một nhạc sĩ Công giáo… Anh nhạc sĩ này là người đã sửa cho tôi một bài hát mà tôi viết trong lúc nhớ hai đứa con ở nhà:

    “Cha sẽ cho con đi dạo phố đông
    Cha sẽ cho con ăn kem Bến Thành
    Cho con tà áo mới mới
    Cho con niềm vui mới
    Và cho cây đàn, cho cây đàn…

    Con sẽ cho cha vui cùng đám đông
    Con sẽ cho cha tình yêu ngọt ngào…
    Cho cha hạnh phúc mới
    Cho cha niềm tin mới
    Và âm thanh cuộc đời
    Và âm thanh cuộc đời.

    Hẹn ngày mai, hẹn con ngày mai nhé
    Khi cha trở về, con mến yêu!”

    Hay chuyện nhất là người Đội trưởng của đội này là Nguyễn Cao Quyền, nhà ngoại giao (anh ruột của hoạ sĩ Ng Cao Uyên). Sau này sang Mỹ, ông Quyền là Chủ tịch Cộng đồng người Việt tại miền Đông Hoa Kỳ. Ông là bạn cùng lứa với em họ tôi, Hoàng Thuý Đồng, con trai của đại tá Hoàng Thuỵ Năm. Trung uý Đồng của Quân đội Quốc gia đã chết anh dũng khi bị Việt Minh phục kích ở Hưng Yên, không chịu đầu hàng mà chống cự lại. Tôi đã dự đám tang rất lớn của anh ở Hà Nội khi mới 11 tuổi. Anh được truy tặng Bảo quốc Huân chương với nhành dương liễu, và tên anh được đặt cho 1 khoá học của Trường Sĩ quan Lục quân Đà Lạt. Mọi người thích thú nhất khi nghe ông Quyền kể chuyện ăn chơi ở Paris (ông từng làm cố vấn Đại sứ VNCH tại Pháp).

    Sau khi tôi được cử Phụ trách Văn hoá của trại, thì tôi hàng ngày được tiếp xúc với các linh mục Công giáo trên khu “Vatican”. Vài chục vị, gồm các “cha tuyên uý quân đội” Sài Gòn và các linh mục miền Bắc bị bắt vì có lời giảng hoặc hành động gì đó bị coi là “phản động”. Có điều thú vị là khi biết gia thế của tôi và biết năm 10 tuổi ở Hà Nội tôi từng được các bà cô ruột mộ đạo đưa đi rửa tội với tên Thánh Augustino và có 2 năm làm con chiên ngoan đạo trước khi các bà vô Nam để lại tôi trơ trọi cho Cộng sản biến thành đội viên Thiếu niên tiền phong của Đảng, bỏ đạo, thì nhiều vị rất sốt sắng động viên tôi “trở lại đạo”. Tuy được các vị hỗ trợ phần xác (các vị được giáo dân trong vùng tiếp tế rất đầy đủ từ đồ ăn, ấn tượng nhất với tôi là mì tôm và trà sâm, đến thuốc men…) nhưng tôi làm ngơ hết những lời gợi ý về phàn hồn, vì tôi vốn có máu tự do như đã nói, lại còn bắt đầu mê triết lý Phật giáo sau khi đọc được các kinh sách Đại thừa và Thiền tông.

    Ngày tôi được trả tự do, một vị đã xin tôi gửi lại cho mấy cuốn sách học tiếng Anh. 

    Sau này, ở nhà ông Hiển, chú rể của vợ tôi, bố của nhà văn Hà Thúc Sinh, tôi có gặp lại một vị trong “khu Vatican” Thanh Cẩm, là linh mục chánh xứ Cái Bè.

    Tôi cũng có dịp gặp một số tù hình sự ở khu B. Nhớ nhất là mấy anh thuộc loại “sĩ quan”. Có một nhóm chuyên chế điếu cày bán hoặc đổi hàng cho tù nhân. Họ rất khéo tay, dùng mảnh xác máy bay bằng dura cắt thành nõ, vành, giá điếu, rồi khắc chìm hoa văn và nung chảy nhựa màu từ bàn chải đánh răng đổ vào thành một kiểu “khảm”. Tôi đã lấy 2kg thuốc lào nhà gửi cho đổi lấy một cái điếu cày như thế, vẫn còn giữ được đến giờ.

     Điếu cày của tù nhân trại Thanh Cẩm chế tác (ảnh chụp năm 2020)

    Tôi nhớ “đại ca” của nhóm này tên là Lý Giang Sơn, người cao lớn, như một hảo hán Tàu! Sau khi ra tù, có lần họ Lý cùng vài người nữa tìm đến nhà tôi ở Hà Nội, chúng tôi kéo nhau ra hàng nước hàn huyên!

    Có dịp đi kiểm tra nhà bếp thì thật khoái! Mấy anh tù “tự giác” được làm chân “anh nuôi” cho uống thứ sữa ngô non ngon ngọt nhất trần đời, từ trước đó và sau này không bao giờ tôi thấy ở đâu có!

    Sinh hoạt ở trại cải tạo

    Một số chi tiết kể ở đoạn trên cũng đã cho mọi người có thể hình dung sinh hoạt hàng ngày ở trại cải tạo Thanh Cẩm.

    Có lẽ tôi vô cùng may mắn vì được “tập trung cải tạo” sau cuộc chiến biên giới 1979. Nhà nước thay đổi chính sách với tù: giảm bớt tính “khổ sai cải tạo” trong lao động, cho thân nhân tiếp tế khá thoải mái. Nguyên nhân có thể là cuộc chiến khốc liệt với “giặc ngoài” khiến cho con mắt nhìn “thù trong” trở nên nhẹ nhàng hơn; cũng có thể vì cuộc chiến làm cho nhà nước khánh kiệt, không còn đủ lương thực nuôi tù, phải để thân nhân nuôi!

    Nghe những người tù lâu năm kể lại tình hình những năm trước đó, tôi thấy sự thay đổi rõ rệt nhất ở khối sĩ quan công chức Sài Gòn. Không còn cảnh đói rét dẫn đến cái chết của một số người. Nhìn họ lúc này đều khoẻ mạnh, hồng hào. Vì được tiếp tế đầy đủ. Nghe nói có những gia đình lên tiếp tế với cả 1 chuyến xe trâu!

    Hàng tiếp tế cũng giúp họ “tranh thủ” được tình cảm của công an. Xin trích một bài viết của ông Nguyễn Cao Quyền sau khi sang Mỹ:

    “Bài học của Bắc Kinh đã cứu sống rất nhiều tù cải tạo, đó là điều mà ít người biết tới. Vì có bài học này nên chính sách cải tạo khắc nghiệt của Hà Nội có đôi phần nới lỏng. Sau 4 năm bị cắt đứt mọi liên lạc với gia đình, chúng tôi được viết thư và nhận đồ tiếp tế trở lại. Không những thế, gia đình còn được phép đến trại thăm gặp và trong vài trường hợp đặc biệt tù nhân cải tạo còn được phép ở lại suốt đêm ngoài nhà khách để sinh hoạt với gia đình.

    Một chuyện khác mà không ai ngờ tới là những gói qùa tiếp tế không những đã cứu sống chúng tôi khói chết đói mà còn cho chúng tôi cơ hội cải tạo những bộ óc của những người tự cho có nhiệm vụ cải tạo chúng tôi.

    Mỗi đợt khám quà của tù nhân là một dịp để các cán bộ làm quen với thế giới bên ngoài qua những đồ tiếp tế. Lần đầu tiên khám qùa một anh cán bộ trẻ thấy một gói lạp xưởng đòi tịch thu. Chúng tôi hỏi tại sao thì được trả lời: “Tịch thu, vì các anh không được phép mang nến (đèn cày) vào trong trại’’. Tội nghiệp, từ bé tới lớn anh chưa được ăn lạp xưởng bao giờ nên tưởng lạp xưởng là đèn cày.

    Những thứ lạ mắt như những cuốn giấy vệ sinh trắng muốt, những chai sà bông nước, những lon cà phê-sữa bột, những viên thuốc Tây xanh đỏ đựng trong những lọ có nắp khó mở….đều là những thứ mà trại thấy cần phải giữ lại để nghiên cứu. Sau này khi biết những thứ đó không có gì nguy hiểm và thỉnh thoảng lại được chúng tôi ‘’kỷ niệm’’ (nghĩa là cho theo ngôn từ cộng sản) các công an trẻ dần dần làm thân và thường muốn nghe chúng tôi kể những chuyện của thế giới bên ngoài, trong giờ lao động. Kỷ luật trại giữa cán bộ và tù nhân cũng không còn gay gắt như trước nữa.

    Ngày một số anh em chúng tôi được trả lại tự do (1985) những người công an trẻ đến chia tay bằng một câu nói cảm động: “Thôi các anh về mạnh khoẻ rồi đi ngoại quốc. Chúng tôi thì còn ở đây chưa biết đến bao giờ’’. Ngay lúc đó chúng tôi chưa nắm bắt được thông điệp “rồi đi ngoại quốc” nhưng chúng tôi hiểu ngay rằng những thanh niên cộng sản đó đã bắt đầu tỉnh ngộ sau thời gian mấy năm được chúng tôi cải tạo”. (trích từ nghiencuulichsu.com)

    Bản thân tôi đã đi lao động trong vài tháng, hai đội “chính trị Bắc” và “chính trị Nam” thường làm việc gần nhau. Công việc chủ yếu là trồng sắn. Cũng không quá nặng nhọc. Nhưng riêng với tôi, suốt đời thư sinh mặt trắng, phải cầm cuốc cuốc đất đồi cứng thì tất nhiên là “vã”, nhất là khi phải gánh gồng (gánh hom sắn đi trồng, gánh củ sắn khi thu hoạch) sưng hết đôi “vai thờ”! Tôi chứng kiến rõ cách xử sự khá thoải mái của công an với đội của ông Quyền. Ngày nghỉ, một số người còn được ra ngoài trại, vào làng chơi, thậm chí còn nghe có chuyện tình tang giữa vài chàng với các cô thôn nữ vùng cao.

    Thật tình khi đời sống của người dân cũng như công an ở vùng núi Thanh Hoá này thời đó rất thiếu thốn, lấy được tình cảm của họ với thực phẩm, thuốc men từ Sài Gòn không có gì lạ!

    Riêng chuyện tình tang, thì còn vấn đề phong thái và vẻ đẹp của các chàng tù nữa chứ!

    Trong trại vẫn lan truyền chuyện mối tình của một chàng tù người Hà Nội phụ trách chăn trâu của trại với một cô thôn nữ, trong khi cô từ chối tình cảm của một anh công an cai tù!

    Ly kì hơn là câu chuyện anh tù dọn vệ sinh Thành–Tây lai kể cho tôi nghe: một nữ sĩ quan công an mê anh, hắt hủi anh chồng cũng là sĩ quan công an! Đến mức nửa đêm dí súng đuổi chồng ra khỏi nhà!

    Sau một ngày lên đồi trồng sắn, giờ hạnh phúc nhất của tù nhân có lẽ là giờ xuống sông Mã tắm rồi hì hụi nấu ăn bên bờ sông. Làm sao tả nổi cái cảm giác mát rười rượi khi lao xuống dòng sông trong xanh, vừa hò reo vừa ngụp nước, khi vừa tắm vừa ngắm sang bờ bên kia dưới chân dãy núi xanh có những người dân, cả nam lẫn nữ, xuống tắm giặt, gánh nước. Những giờ phút cảm giác như mình là người tự do, quên hết thân phận tù tội!

    Tháng 7 năm nay (2025) tôi có dịp về Thanh Hoá, đã tìm lên khúc sông Mã có bến tắm của tù nhân Thanh Cẩm! Tuy không vào được đúng bến ấy, nhưng một sự xúc động khó tả khi từ khoảng cách bến ấy vài trăm mét nhìn chếch sang bãi sông bên kia, đúng cái bãi mà người tù mỗi chiều ra tắm ngong ngóng nhìn sang!

    Trái: Từ bến tắm trại Thanh Cẩm nhìn sang bờ bên kia sông Mã (ảnh trên mạng). Phải: Thăm lại khúc sông Mã bên cạnh trại Thanh Cẩm (2025)

    Chuyện ăn ở của trại viên thì cũng không có gì đáng kể.

    Ấn tượng nhất là những buổi “cân cơm” của người trực phòng trước hàng chục con mắt mở to kiểm soát của các trại viên chờ được chia cơm! Cái cân tự chế bằng chiếc que, nhưng đảm bảo “chuẩn không cần chỉnh” để mọi phần cơm tiêu chuẩn mà trại phát cho trại viên phải đồng đều. Cảnh này đã được nhà văn Bùi Ngọc Tấn miêu tả đầy hấp dẫn và chính xác trong cuốn auto-fiction (hư cấu dựa trên chuyện thật của bản thân) “Chuyện kể năm 2000”!

    Ở các lán tù hình sự, lâu lâu xảy ra cảnh đánh nhau thậm chí đổ máu cũng chỉ là quanh miếng cơm hàng ngày như thế này!

    Còn với tù chính trị có “tắc” của gia đình, thì không đến nỗi quá cực khổ. Họ được nấu ăn vào các bữa chiều hàng ngày.  

    Riêng tôi, với đỗ đen, lạc, gạo mua ở cantine của trại, tôi nghĩ ra một công thức nấu ăn độc nhất: trộn hết gạo, lạc, đậu vào một nồi!

    Chỗ ở của tù là các lán bằng tre nứa cất theo chiều dài, chứa được vài chục người. Bên trong là 2 dãy sạp 2 tầng vững chãi. Tôi ở tầng trên, tối tối nằm học tiếng Anh qua sách báo mà anh cả tôi là Hoàng Văn Sơn mang lên cho, học cho đến lúc tắt điện (khoảng 9 giờ tối).

    Những người khác thì tụ tập từng nhóm ba nhóm bẩy, chuyện vãn hay đánh bài, đàn hát.   

    Hoàng Hưng


    Không có nhận xét nào