Kỳ 2
Trường tồn: Năng lực và Giới hạn
Đinh Hoàng Thắng
September 14, 2026
“…Trưởng Thành đòi hỏi tạo ra không gian để những ký ức khác nhau có thể được nói ra, đối chiếu với chứng cứ và cùng tồn tại. Sự thật lịch sử cần được khảo cứu; ký ức đau khổ cũng đòi hỏi khả năng lắng nghe.
Hòa giải không thể đạt được bằng cách yêu cầu con người từ bỏ câu chuyện của chính mình.
Khai quật những lớp trầm tích ấy không phải để xét tội quá khứ, càng không phải dùng tiêu chuẩn hôm nay để phán xét giản đơn mọi lựa chọn của dĩ vãng. Đó là đưa những phản xạ vô thức ra ánh sáng để cộng đồng nhận ra điều gì vẫn đang âm thầm chi phối cảm nhận và hành vi tập thể”.
Saigon/TP.HCM. Photo: pixabay
PHẦN II
TRƯỜNG TỒN: NĂNG LỰC VÀ GIỚI HẠN
Phần I đã nhìn lại lịch sử Việt Nam qua những chu kỳ thử thách, thích nghi và khôi phục chủ quyền. Phần II này sẽ đi sâu hơn vào những năng lực đã làm nên sức sống bên dưới các chu kỳ ấy. Điều gì giúp người Việt nhiều lần co lại mà không tan rã, tiếp nhận ảnh hưởng bên ngoài mà không hoàn toàn đánh mất mình, phân tán khi hiểm nguy rồi lại hội tụ khi thời cơ trở lại?
Nhưng những câu hỏi khó hơn lại bắt đầu chính từ đó.
Vì sao những năng lực từng giúp một dân tộc sống sót đôi khi lại trở thành giới hạn đối với bước Trưởng Thành tiếp theo? Vì sao người Việt thường tỏ ra đặc biệt nhanh nhạy trong việc vượt qua tình thế trước mắt, nhưng không phải lúc nào cũng thành công như thế trong việc kiến tạo những thiết chế bền vững sau khi khủng hoảng đã qua? Vì sao khả năng tiếp thu cái mới nhiều lần tạo nên những thành tựu hiện đại hóa dễ thấy, trong khi cấu trúc quyền lực, tập quán xã hội và năng lực tích lũy thể chế ở tầng sâu lại chuyển động chậm hơn?
Nếu chỉ quy những giới hạn ấy cho chiến tranh, chủ nghĩa thực dân hay những lựa chọn ý thức hệ của thế kỷ XX, lời giải thích vẫn chưa đầy đủ. Những biến động ấy để lại hậu quả vô cùng lớn, nhưng chúng diễn ra trên một nền lịch sử lâu dài hơn nhiều, nơi những phương thức sinh tồn, kiểu tổ chức cộng đồng, quan hệ với quyền lực và cách tiếp nhận ảnh hưởng bên ngoài đã được định hình qua nhiều thế kỷ.
Bởi vậy, Trường Tồn cần được nhìn từ hai phía: một phía cho thấy sức sống phi thường của người Việt qua lịch sử; phía kia cho thấy những giới hạn có thể được bảo tồn ngay trong chính sức sống ấy. Một năng lực từng cứu cộng đồng trước một hiểm họa cụ thể không mặc nhiên trở thành năng lực phát triển hữu hiệu khi hoàn cảnh lịch sử đã đổi thay.
6. Nghịch lý sinh tồn của Việt tộc
Trường Tồn của người Việt được hình thành qua nhiều loại thử thách khác nhau, chứ không phải qua một chuỗi những thời kỳ bị áp chế giống nhau.
Hơn một thiên niên kỷ Bắc thuộc tạo nên sức ép đồng hóa rất mạnh, nhưng cũng khiến gia đình, làng xã, ngôn ngữ và tín ngưỡng trở thành những nơi cất giữ sức sống cộng đồng. Thời “Đại Việt tự chủ” củng cố nhà nước, văn hiến và ý thức chủ quyền. Minh thuộc, sự phục hưng dưới triều Lê, tiến trình Nam tiến và những cuộc nội chiến tiếp theo mở rộng không gian quốc gia, nhưng đồng thời để lại bạo lực, chia cắt và những ký ức không đồng đều giữa các cộng đồng sống trong lãnh thổ Việt Nam.
Chủ nghĩa thực dân Pháp tước đoạt chủ quyền, nhưng đồng thời đưa vào những phương tiện văn hóa mà người Việt sau đó sử dụng cho chính mục tiêu của mình: chữ Quốc ngữ, báo chí, khoa học và giáo dục hiện đại, cùng những khái niệm mới về quốc gia và công dân. Tiếp theo là cách mạng chống thực dân, chiến tranh, đất nước phân chia dưới hai chính thể, thống nhất rồi Đổi Mới. Những giai đoạn ấy đem lại các thành quả lớn về độc lập, thống nhất lãnh thổ và phát triển kinh tế, nhưng cũng để lại những vết thương hữu hình và vô hình giữa người Việt, những đứt gãy xã hội và các lớp ký ức đến nay vẫn chưa được hòa giải đầy đủ.
Không có quy luật lịch sử nào bảo đảm rằng một cộng đồng càng chịu nhiều áp lực thì càng trưởng thành tương ứng về nhận thức và năng lực.
Thử thách có thể kích thích sáng tạo, nhưng cũng có thể làm nghèo một xã hội, làm lệch chuẩn đạo lý và truyền thương tổn từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sau một thảm họa, cộng đồng chưa chắc đã trưởng thành hơn. Đôi khi, nó chỉ học được cách sống chung với thảm họa, rồi mang những phản xạ hình thành trong hiểm nguy sang một thời đại mà những phản xạ ấy không còn cần thiết nữa.
Vì vậy, cái được của mỗi chu kỳ lịch sử luôn phải đặt bên cạnh cái giá đã trả.
Người Việt Trường Tồn không phải vì mọi lựa chọn trong lịch sử đều đúng. Họ Trường Tồn bởi ngay cả sau những sai lầm, thất bại và tổn thất lớn, cộng đồng vẫn giữ được khả năng tái lập sự toàn vẹn của mình. Đó là một thành tựu căn bản của lịch sử Việt Nam.
Nhưng nghịch lý cũng nằm chính ở đây: khả năng tái sinh thành công đôi khi bảo tồn luôn những phản xạ khiến khủng hoảng có thể trở lại dưới một hình thức khác.
Một phản xạ như thế, đó là khuynh hướng cắt đứt quá mạnh với quá khứ mỗi khi quyền lực chuyển từ một tầng lớp cầm quyền này sang một tầng lớp khác.
Các triều đại mới thường củng cố chính danh bằng cách hạ thấp triều trước. Lực lượng chiến thắng không chỉ tiếp quản nhà nước mà còn tìm cách xác lập một lịch sử chính thống thuận lợi nhất cho mình. Di sản của người đi trước vì thế bị chia thành phần được phép kế thừa và phần phải loại bỏ.
Cơ chế tiếp nhận có lựa chọn ấy xuất hiện dưới nhiều hình thức, từ thời quân chủ đến các chế độ chính trị hiện đại.
Cái mới đáng ra hoàn toàn có thể phê phán cái cũ mà vẫn đứng trên một phần thành tựu do cái cũ để lại.
Nhưng ở Việt Nam, đáng tiếc, khuynh hướng “xóa bàn làm lại” nhiều lần đã khiến mỗi cuộc phục hồi đi kèm một dạng “mất trí nhớ có lựa chọn”. Nhà Nguyễn hạ thấp Tây Sơn; Còn về sau này, sử học cách mạng đặt phần lớn di sản tích cực của Việt Nam Cộng hòa ra ngoài câu chuyện lịch sử chính thống.
Khi bên thắng buộc đất nước phải dựng lại lịch sử từ chính thành tựu của mình, xã hội vẫn có thể phục hồi, nhưng năng lực tích lũy kinh nghiệm, quan điểm và khả năng chấp nhận rủi ro bị tổn thương.
Sống sót là còn giữ được khả năng bắt đầu lại. Trưởng Thành là không phải lần nào cũng bắt đầu lại từ con số không.
Nghịch lý của Trường Tồn còn hiện rõ trong quan hệ giữa chiến tranh và hòa bình.
Khi đất nước bị xâm lăng, quyền lực tập trung, kỷ luật nghiêm ngặt và việc đặt lợi ích riêng dưới lợi ích chung có thể tạo nên sức mạnh tập thể. Nhưng những phương thức từng cứu một cộng đồng trong chiến tranh không tự nhiên biến mất đi khi hòa bình trở lại.
Bộ máy từng được tổ chức để chỉ huy trong chiến tranh có thể tiếp tục vận hành theo lối mệnh lệnh trong hòa bình; những nguyên tắc bí mật từng giúp bảo vệ lực lượng trước hiểm nguy có thể trở thành phương tiện che khuất quyền lực; và sự bất đồng, từng bị xem như một nguy cơ đối với cuộc chiến, có thể tiếp tục bị nhìn bằng con mắt nghi kỵ ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc.
Một cộng đồng có thể chiến thắng kẻ thù mà vẫn chưa vượt qua được những thói quen do cuộc chiến tạo ra.
Bởi vậy, Trường Tồn không phải chỉ là một phẩm chất thuần túy tốt đẹp, càng không phải một “bản tính cố định” của người Việt. Nó là tập hợp những năng lực được lịch sử hun đúc: có thể cứu dân tộc trong hoàn cảnh này, nhưng giới hạn dân tộc trong hoàn cảnh khác.
Đi tới Khai Mở không đòi hỏi Việt Nam vứt bỏ di sản sinh tồn ấy. Điều cần thiết là phân biệt trong di sản đó đâu là sức sống cần gìn giữ, đâu là phản xạ phải chuyển hóa và đâu là thương tổn không nên truyền tiếp sang chu kỳ lịch sử kế tiếp.
7. Thích nghi như một hệ hình văn minh
Arnold Toynbee nhìn lịch sử các nền văn minh qua biện chứng giữa “thách thức và đáp trả”. Một cộng đồng không lớn lên chỉ vì vượt qua khó khăn; nó trưởng thành khi cách đáp trả trước khó khăn và mở ra một trình độ phát triển cao hơn.
Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy một mô thức lặp đi lặp lại: uốn mà không gãy, nhận mà không tiếp nhận nguyên vẹn, thu mình về những đơn vị nhỏ khi trung tâm bị đe dọa rồi hội tụ trở lại khi thời cơ xuất hiện.
Có thể gọi tiến trình ấy là nhịp Tích – Tản.
Nguồn lực – con người, xã hội, kinh tế, chính trị – được tích tụ khi điều kiện cho phép; phân tán khi trung tâm suy yếu để tránh bị phá hủy hoàn toàn; rồi hội tụ trở lại trong một cấu trúc mới.
Nhịp Tích – Tản có thể thấy trong làng xã, di dân, chiến tranh du kích, mạng lưới gia đình và ngày nay cả trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Khi nhà nước suy yếu, làng xã vẫn giữ được một phần đời sống cộng đồng bên ngoài hoặc bên dưới bộ máy chính thức. Khi kinh tế kế hoạch hóa đi đến bế tắc, gia đình và những mạng lưới phi chính thức duy trì sinh kế. Khi đất nước còn khép kín, người Việt ở nước ngoài vẫn tạo dựng những mạng lưới tri thức, tài chính và quan hệ quốc tế.
Trung tâm có thể thất bại nhưng những mạch sống phân tán vẫn tiếp tục chảy.
Đó là một sức đàn hồi đáng kể. Nhưng thích nghi nào cũng luôn có hai mặt.
Nó giúp người dân sống được trong một môi trường bất hợp lý, nhưng đồng thời có thể làm giảm sức ép buộc môi trường ấy phải thay đổi. Người ta học cách lách một quy định vô lý thay vì cùng nhau đòi hỏi một quy định tốt hơn; dựa vào quan hệ cá nhân thay vì xây dựng thủ tục công bằng; giao phần lớn trách nhiệm cho gia đình thay vì kiến tạo những thiết chế đủ sức bảo vệ lợi ích chung.
Ở cấp độ cá nhân, mỗi người có thể đang hành động hoàn toàn hợp lý để bảo vệ mình. Nhưng tổng hợp của hàng triệu lựa chọn cá nhân hợp lý lại có thể tạo nên một xã hội thiếu lòng tin và phải trả giá rất cao cho việc hợp tác.
Câu tục ngữ “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” diễn tả rất đúng khả năng thích nghi ấy. Trong những điều kiện khắc nghiệt, đó là trí khôn sinh tồn. Nhưng khi được nâng thành triết lý thường trực ngay cả sau khi hiểm nguy đã qua, nó có thể trở thành lối sống thiếu nguyên tắc: ở môi trường nào thì nói thứ ngôn ngữ môi trường ấy muốn nghe, trước quyền lực nào thì thích ứng với quyền lực ấy, miễn sao bảo đảm được an toàn và lợi ích cá nhân.
Từ đó dễ hình thành một “đời sống hai mặt”.
Trong không gian chính thức, người ta nói thứ ngôn ngữ được cho phép; trong đời riêng, họ có thể nghĩ hoàn toàn khác. Một công chức thi hành quy định mà chính mình biết là bất hợp lý; một trí thức viết điều không hoàn toàn tương ứng với điều mình tin; người dân công khai chấp hành nhưng âm thầm tìm cách vô hiệu hóa mệnh lệnh.
Một xã hội có thể thích nghi rất lâu với một trật tự mà không gian dành cho niềm tin chân thực không được mở rộng.
Khả năng sống chung với cái bất hợp lý giúp tránh va đập tức thời, nhưng cũng có thể làm cho cái bất hợp lý tồn tại lâu hơn.
Giới hạn ấy còn thể hiện trong cách Việt Nam tiếp nhận cái mới.
Xã hội Việt Nam thường học nhanh, ứng dụng linh hoạt và bắt kịp nhanh về kỹ năng thực hành. Nhưng tiếp nhận một thành quả của hiện đại hóa không đồng nghĩa với tiếp nhận những điều kiện đã làm nên thành quả đó.
Có thể xây một trường đại học theo mô hình quốc tế nhưng tự do học thuật vẫn bị giới hạn. Có thể nhập kỹ thuật quản trị hiện đại mà không hình thành một cấu trúc trách nhiệm giải trình tương ứng. Có thể mở rộng kinh tế thị trường mà chưa xây dựng đầy đủ pháp quyền và cạnh tranh thực sự công bằng.
Cái mới đi đủ sâu để thay đổi diện mạo, nhưng chưa chắc đã đi đủ sâu để chuyển hóa nền móng.
Vấn đề vì thế không phải người Việt không biết học. Vấn đề là việc học quá nhiều lần bị thúc đẩy bởi yêu cầu ứng phó trước mắt hơn là một chiến lược tích lũy lâu dài: học để vượt kỳ thi, hoàn thành chỉ tiêu, đáp ứng chiến dịch hay bắt kịp bên ngoài, nhưng không phải lúc nào cũng học để hình thành tư duy độc lập và tạo ra tri thức mới.
Đổi Mới năm 1986 là một ví dụ điển hình ở quy mô quốc gia.
Khi kinh tế kế hoạch hóa tập trung rơi vào khủng hoảng sâu sắc, sáng kiến cá nhân, kinh tế hộ gia đình và hoạt động thị trường được trao lại nhiều không gian hơn. Kết quả đến rất nhanh, chứng minh sức sống đáng kể vốn đã tồn tại trong xã hội.
Nhưng cải cách chủ yếu tập trung vào kinh tế, trong khi cấu trúc quyền lực, pháp quyền và quyền tự do tổ chức xã hội tiến triển chậm hơn. Thị trường được tiếp nhận như công cụ tạo ra tăng trưởng, còn nhiều điều kiện chính trị và pháp lý cần thiết để thị trường trở nên công bằng, sáng tạo và bền vững lại phát triển chưa tương xứng.
Đó là thích nghi. Chưa phải chuyển hóa.
Khai Mở không phủ nhận khả năng thích nghi. Một dân tộc cứng nhắc không thể tồn tại trong một thế giới biến động. Nhưng Khai Mở đòi hỏi đưa thích nghi lên một trình độ khác, cao hơn: từ tìm cách sống trong môi trường bất hợp lý sang cùng nhau thay đổi môi trường ấy; từ học để bắt kịp sang học để sáng tạo; từ linh hoạt theo hoàn cảnh sang giữ nguyên tắc trong khi linh hoạt về phương pháp.
Trường Tồn giúp con người tìm đường sống trong một chiếc lồng chật. Trưởng Thành đòi hỏi họ cùng nhau mở rộng chiếc lồng ấy ra.
8. Phi tuyệt đối hóa: từ sức mạnh dung hợp đến nguy cơ nhập nhằng
Xã hội Việt Nam hiếm khi đẩy một hệ tư tưởng duy nhất đến tận cùng những hệ quả logic của nó trong đời sống.
Tam giáo – Nho, Phật, Lão – có thể cùng tồn tại. Một người vừa thờ cúng tổ tiên, đi chùa, tôn trọng những chuẩn mực Nho giáo, duy trì tín ngưỡng địa phương và tiếp nhận một số giá trị phương Tây mà không cảm thấy bắt buộc phải chọn một trong số đó làm chân lý tuyệt đối về trời đất và số phận con người.
Những gì có vẻ mâu thuẫn trên lý thuyết lại có thể chung sống khá tự nhiên trong thực hành.
Khuynh hướng phi tuyệt đối hóa này tạo điều kiện cho tiếp biến văn hóa và một dạng khoan dung trong đời sống. Người Việt thường có khả năng nhận cái mới mà không lập tức phá bỏ cái cũ, thay đổi hành vi trước khi xây dựng lại toàn bộ hệ thống niềm tin. Chính điều đó tạo nên một năng lực dung hợp đáng kể.
Nó cũng giúp giải thích vì sao những học thuyết du nhập vào Việt Nam đều phần nào bị Việt hóa.
Nho giáo không xóa được tín ngưỡng làng xã; Phật giáo sống chung với thờ cúng tổ tiên; Công giáo Việt Nam tiếp nhận nhiều biểu hiện của văn hóa bản địa. Chủ nghĩa cộng sản, dù vẫn duy trì ngôn ngữ Mác – Lênin trong hệ thống chính thức, trên thực tế cũng kết hợp với chủ nghĩa dân tộc, cấu trúc gia đình, tâm lý làng xã và những truyền thống quyền lực có trước nó rất lâu.
Ngay cả những người nhân danh một học thuyết tuyệt đối cũng không nhất thiết sống theo toàn bộ những mệnh lệnh của học thuyết ấy.
Một cán bộ có thể nói bằng ngôn ngữ đấu tranh giai cấp nhưng trong đời sống lại ưu tiên lợi ích gia đình. Nhà nước có thể tiếp tục giữ căn cước chính trị xã hội chủ nghĩa, trong khi trên thực tế ngày càng dựa nhiều vào thị trường, doanh nghiệp tư nhân và hội nhập kinh tế toàn cầu.
Giáo điều có thể tiếp tục tồn tại trong ngôn ngữ, trong khi thực tế âm thầm điều chỉnh theo nhu cầu sinh tồn.
Từ đó xuất hiện một nghịch lý đáng chú ý.
Một ý thức hệ không nhất thiết biến mất khi niềm tin vào nội dung lý luận của nó suy yếu. Khi con người quen với việc nói một điều, nghĩ một điều khác và hành động theo một logic thứ ba, một trật tự chính trị có thể tiếp tục vận hành rất lâu sau khi nền móng tư tưởng ban đầu của nó đã mất phần lớn sức thuyết phục.
Một ý thức hệ, khi đã được thể chế hóa, không chỉ sống bằng niềm tin. Nó còn sống bằng tổ chức, lợi ích, ngôn ngữ, thói quen và những cấu trúc quyền lực có lợi ích trong việc duy trì chính mình.
Điều còn lại sau khi một học thuyết mất dần sức hấp dẫn đạo lý đôi khi bền hơn chính học thuyết: thói quen phục tùng, cơ chế phân phối đặc quyền, mối quan hệ giữa quyền lực và “chân lý chính thức”, hay tâm thế chờ đợi mọi quyết định từ trên xuống.
Nhưng phi tuyệt đối hóa không thể đồng nghĩa với không có nguyên tắc.
Khi biến thành thái độ “cái gì cũng được”, nó xóa nhòa ranh giới giữa khoan dung và thỏa hiệp, giữa mềm dẻo và cơ hội. Ta có thể tôn trọng niềm tin khác với mình, nhưng không thể nhân danh khoan dung để biện hộ cho tham nhũng, tước đoạt quyền, bạo lực hay dối trá có hệ thống.
“Trung đạo” cũng không có nghĩa là đứng giữa sự thật và giả dối hay chia đều trách nhiệm chỉ để khỏi phải phán xét. Trung đạo đòi tránh cực đoan trong tư duy và hành động; nó không đòi từ bỏ năng lực phân biệt đạo lý.
Khoan dung phải dành cho con người và những khác biệt chính đáng trong giới hạn của đạo lý và lý tính thực tiễn. Nó không thể trở thành sự khoan dung vô hạn đối với những hành vi hủy hoại phẩm giá con người.
Một đại lộ mới cho Việt tộc cần giữ năng lực dung hợp ấy, bởi một xã hội đa nguyên không thể Trưởng Thành dưới sự độc quyền chân lý.
Nhưng dòng chảy dung hợp cũng cần có bờ: phẩm giá con người, sự thật, trách nhiệm, pháp quyền và quyền bất đồng.
Không có những bờ ấy, sức mạnh dung hợp dễ biến thành một vùng nước lặng, nơi nguyên tắc dần tan vào sự tùy tiện.
Sức mạnh của người Việt một phần nằm ở chỗ họ không dễ bị một học thuyết nuốt trọn. Nhưng giới hạn của người Việt lại là không phải lúc nào cũng đi đến cùng những giá trị mà mình tuyên bố lựa chọn.
Hành trình từ Trường Tồn đến Khai Mở cần giữ được năng lực thứ nhất và phải vượt qua được giới hạn thứ hai.
9. Những lớp trầm tích của tâm thức tập thể
Lịch sử không dừng lại khi một biến cố chấm dứt.
Nó lắng xuống trong ngôn ngữ, biểu tượng, thói quen, nỗi sợ hãi và những dạng tri thức ngầm mà con người sử dụng nhưng không phải lúc nào cũng còn nhớ nguồn gốc. Những tích tụ ấy có thể gọi là các lớp trầm tích của tâm thức tập thể.
Mỗi thế hệ nhận lại chúng từ gia đình, nhà trường, cộng đồng và nhà nước, rồi truyền sang thế hệ sau – đôi khi gần như nguyên vẹn, đôi khi đã được biến đổi.
Trầm tích không phải là một bản chất bất biến.
Đó là lịch sử đã đi vào ý thức và lương tri con người.
Ký ức Bắc thuộc nuôi dưỡng sự cảnh giác của người Việt trước Trung Quốc, nhưng hàng thế kỷ tương tác cũng để lại sự lệ thuộc sâu vào chữ nghĩa, điển tích và những mô thức tổ chức quyền lực bắt nguồn từ văn minh Trung Hoa.
Người Việt nhiều lần chống sự cai trị từ phương Bắc, nhưng nhà nước Việt Nam đồng thời tiếp nhận nhiều phương thức trị nước từ chính nền văn minh láng giềng ấy. Điều này không riêng Việt Nam; các nền văn minh thường học rất nhiều từ đối thủ mạnh nhất của mình.
Nhưng trong trường hợp Việt Nam, sự bất đối xứng kéo quá dài đã tạo nên một căng thẳng đặc biệt.
Trung Quốc vừa là một nguồn văn minh lớn, vừa là mối đe dọa thường xuyên đối với quyền tự chủ chính trị. Giới tinh hoa Việt Nam học chữ viết, kinh điển và kỹ thuật trị nước từ Trung Hoa, đồng thời không ngừng khẳng định rằng Việt Nam không phải Trung Hoa.
Quan hệ Việt – Trung vì thế luôn chứa những cặp đối cực: gần và xa, tiếp nhận và đề phòng, ngưỡng mộ và kháng cự.
Sự căng kéo ấy chưa bao giờ hoàn toàn biến mất.
Một hệ quả sâu hơn có thể là tâm thức Việt Nam đặc biệt nhạy cảm với độc lập quốc gia nhưng không phải lúc nào cũng nối độc lập quốc gia chặt chẽ với quyền tự chủ của từng công dân. Một đất nước có thể giữ biên cương chính trị của mình trong khi tiếp tục tái tạo bên trong những kiểu thứ bậc và phục tùng được hình thành qua một lịch sử lâu dài.
Ký ức chiến tranh cũng để lại hai lớp trầm tích trái chiều.
Một mặt, nó nuôi dưỡng lòng yêu nước, sức chịu đựng, tinh thần hy sinh và khả năng huy động xã hội khi có hiểm nguy. Mặt khác, nó củng cố thói quen chia thế giới thành “ta” và “địch”, nhìn bất đồng như một mối đe dọa bên trong và coi thống nhất ý chí là nền tảng duy nhất của sức mạnh quốc gia.
Ngôn ngữ quân sự vì thế tiếp tục sống trong đời sống hòa bình: “chiến dịch”, “mặt trận”, “ra quân”, “xung kích”, “trận tuyến”, “chiến thắng”.
Khi mọi vấn đề đều được hình dung như một trận đánh, xã hội có xu hướng tìm mệnh lệnh thay cho đối thoại, huy động thay cho tham gia, chiến thắng thay cho những giải pháp có thể thử nghiệm, sửa chữa và cải thiện dần.
Người không đồng ý với phương thức thực hiện một mục tiêu chung rất dễ bị nhìn như người chống lại chính mục tiêu ấy.
Một lớp trầm tích khác hình thành trong những thời kỳ quyền lực chính trị đi sâu vào đời sống xã hội nhưng thường xuyên gặp sự bất tuân âm thầm.
Khi ngôn ngữ công khai tách khỏi niềm tin riêng, sự tuân phục bề ngoài dễ đi cùng việc rút lui khỏi trách nhiệm chung. Người ta học điều gì được phép nói, nói ở đâu và nói với ai.
Im lặng không nhất thiết là đồng thuận. Vỗ tay không nhất thiết là tán thành.
Theo thời gian, đời sống hai mặt – hai tầng ấy không chỉ làm tổn thương sự thật mà còn bào mòn lòng tin giữa người với người. Khi không ai chắc người khác thực sự nghĩ gì, hợp tác xã hội trở nên khó khăn. Gia đình và các quan hệ thân cận thành nơi an toàn, trong khi đời sống công cộng bị nhìn như địa hạt của nghi thức, ngôn ngữ quy ước và những rủi ro không cần thiết.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 là một biểu hiện rõ của ký ức chính trị phân đôi.
Trong câu chuyện của “bên thắng cuộc”, đó là ngày giải phóng và thống nhất. Trong trải nghiệm của nhiều người từng sống dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa và nhiều cộng đồng người Việt ở nước ngoài, ngày ấy gắn với sụp đổ, cải tạo, mất mát tài sản, vượt biển và lưu vong.
Cùng một biến cố lịch sử có thể được ghi nhớ và lý giải rất khác nhau, tùy vào trải nghiệm của mỗi phía. Việc một bên nắm quyền và xác lập cách diễn giải chính thống, không có nghĩa là những ký ức và cách nhìn khác vì thế mà mất đi.
Trưởng Thành đòi hỏi tạo ra không gian để những ký ức khác nhau có thể được nói ra, đối chiếu với chứng cứ và cùng tồn tại. Sự thật lịch sử cần được khảo cứu; ký ức đau khổ cũng đòi hỏi khả năng lắng nghe.
Hòa giải không thể đạt được bằng cách yêu cầu con người từ bỏ câu chuyện của chính mình.
Khai quật những lớp trầm tích ấy không phải để xét tội quá khứ, càng không phải dùng tiêu chuẩn hôm nay để phán xét giản đơn mọi lựa chọn của dĩ vãng. Đó là đưa những phản xạ vô thức ra ánh sáng để cộng đồng nhận ra điều gì vẫn đang âm thầm chi phối cảm nhận và hành vi tập thể.
Khi được nhận diện, quá khứ có thể trở thành đối tượng của lựa chọn. Khi bị phủ nhận, nó tiếp tục cai quản hiện tại từ trong bóng tối.
Một dân tộc không Trưởng Thành bằng cách quên đi những gì đã xảy ra.
Dân tộc ấy Trưởng Thành khi những cách hiểu đã đóng khung về quá khứ không còn toàn quyền quyết định những gì phải xảy ra tiếp theo.
(còn nữa)
Đinh Hoàng Thắng
………………………….
Tài liệu tham khảo của Phần 2:
Anderson, Benedict. Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism. Revised ed. London: Verso, 2006.
Braudel, Fernand. Écrits sur l’histoire. Paris: Flammarion, 1969.
Brocheux, Pierre, and Daniel Hémery. Indochine: la colonisation ambiguë, 1858–1954. Paris: La Découverte, 2001; English edition: Indochina: An Ambiguous Colonization, 1858–1954. Berkeley: University of California Press, 2009.
Goscha, Christopher. Vietnam: A New History. New York: Basic Books, 2016.
Guillemot, François. Viêt-Nam, fractures d’une nation: Une histoire contemporaine de 1858 à nos jours. Paris: La Découverte, 2018; updated as Histoire du Viêt Nam contemporain: De 1858 à nos jours. Paris: La Découverte, 2025.
Marr, David G. Vietnam 1945: The Quest for Power. Berkeley: University of California Press, 1995.
Papin, Philippe. Histoire de Hanoi. Paris: Fayard, 2001.
Taylor, Keith Weller. A History of the Vietnamese. Cambridge: Cambridge University Press, 2013.
Toynbee, Arnold J. A Study of History. London: Oxford University Press, 1934–1961.
Trần Ngọc Vương. Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ. 2 tập. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2025.
Trần Quốc Vượng. Văn hóa Việt Nam: Tìm tòi và suy ngẫm. Hà Nội: Văn hóa Dân tộc / Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, nhiều lần xuất bản.
Woodside, Alexander Barton. Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1971.
Kiernan, Ben. Việt Nam: A History from Earliest Times to the Present. New York: Oxford University Press, 2017.
Bradley, Mark Philip. Vietnam at War. New York: Oxford University Press, 2009.
Không có nhận xét nào