Header Ads

  • Breaking News

    Thực chất mối quan hệ giữa vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt cùng bản án oan nghiệt năm 1835

     Nhân lễ giỗ lần thứ 194 của Đức Thượng Công, Tả Quân - Tổng Trấn Gia Định Thành Lê Văn Duyệt 

    Thực chất mối quan hệ giữa vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt cùng bản án oan nghiệt năm 1835

    Kỳ 3. Hết

    Lê Nguyễn

    13/9/2026

    (Vì cần nêu lên nhiều dữ kiện, chứng cứ và lập luận, mà bài viết cuối này khá dài, mong các bạn kiên nhẫn đọc)

    “…Điều đáng mừng là ngay sau khi ông qua đời, con (vua Thiệu Trị) và cháu ông (vua Tự Đức) đã kịp thời chấn chỉnh, đưa ra những quyết định hợp lẽ đời: tha cho những thân tộc của Tả quân, thu dụng họ vào bộ máy chính quyền, cho con cháu sửa sang phần mộ đã bị san phẳng (1848), và cuối cùng là khôi phục hẳn chức hàm cũ của ông là Vọng các công thần Chưởng Tả quân Bình Tây Đại tướng quân, Quận công, cho thờ tại miếu Trung hưng công thần (1868) (ĐNTL tập VII – NXB Giáo dục 2006, trang 1104). 

    Lịch sử đặt ra cho người đời sau nhiều bài học cần được nhìn lại với công tâm và sự sáng suốt”.

    Ảnh minh họa: Người đến dâng hương Đức Thượng Công trong ngày chánh giỗ 11.9.2026 được Ban tổ chức tặng kỷ vật quý là bức thêu xinh xắn có ghi 4 chữ VẠN CỔ ANH LINH 

    KỲ III) THỰC CHẤT MỐI QUAN HỆ GIỮA VUA MINH MẠNG VÀ TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT CÙNG BẢN ÁN OAN NGHIỆT NĂM 1835

    Theo chính sử, vào tháng 12 AL năm Kỷ Mão, nhằm vào tháng 2 dương lịch năm 1820, biết mình không qua khỏi, vua Gia Long đã triệu tập Hoàng thái tử, các Hoàng tử tước công và hai đại thần Lê Văn Duyệt, Phạm Đăng Hưng vào hầu để nhận di chiếu. Việc họ có mặt trong giờ phút lâm chung của vua Gia Long nói lên tầm quan trọng của họ, nhất là tạo nên uy tín đối với tân quân. Vì thế ngay khi vừa lên ngôi, vua Minh Mạng đã viết thư khen, đóng ấn ngọc tỷ ban cho ông Duyệt, đến tháng 4 AL 1820 lại cử ông làm Tổng hộ sứ, điều khiển chung lễ an táng vua Gia Long tại lăng Thiên Thọ . 

    Tháng 5 AL 1820, nhà vua “lấy Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt lãnh Tổng trấn thành Gia Định (đúng ra phải là Gia Định Thành – LN). Phàm truất thăng quan lại, hưng lợi, trừ hại, tất cả việc thành và việc biên cương đều cho tùy nghi mà làm” (ĐNTL tập II – NXB Giáo dục 2004, trang 62). Như vậy, hầu như nhà vua đã giao cho Tả quân trọn quyền đối với mảnh đất Gia Định Thành bao gồm 5 trấn, từ Bình Thuận vào đến Hà Tiên. 

    Trong suốt 12 năm miệt mài lo việc gìn giữ trật tự trị an và phát triển kinh tế một vùng đất rộng lớn, Tả quân Lê Văn Duyệt luôn giữ đạo quân thần, dù được nhà vua dành cho nhiều quyền hạn, song từng chuyển biến nhỏ trong địa hạt của mình, ông đều tâu về triều. Qua lịch sử, chúng ta thấy rằng vua Minh Mạng nhiều lần ban thưởng chẳng những cho bản thân ông Duyệt mà còn cho cả thân phụ và thân mẫu ông nữa. 

    Tháng 8 AL năm 1820, nhà vua truy thăng cha ông Duyệt là cố Chưởng cơ Lê Văn Toại (tòng nhị phẩm) lên hàm Thống chế (chánh nhị phẩm). Tám năm sau, tháng 12 AL Đinh Hợi (1828), một lần nữa, nhà vua truy thăng ông Toại lên chức Đô thống, hàm tòng nhất phẩm, mẹ ông Duyệt là Nguyễn thị được phong Nhất phẩm phu nhân (ĐNTL tập II – NXB Giáo Dục 2004, trang 690) 

    Về phần Tả quân Lê Văn Duyệt, ngoài việc dành cho một quyền hạn rộng rãi trong việc cai trị Gia Định Thành, nhà vua không bỏ sót một lần ân thưởng nào mỗi khi vị công thần và thuộc cấp làm được những điều ích quốc lợi dân. Tháng 4 AL1822, nhà vua gửi vào Gia Định Thành cho Tả quân một cái ống điếu bằng pha lê bịt vàng, một chén ngọc liệu màu xuân thanh bịt vàng, một chén ngọc liệu màu mỡ cắt bịt vàng, một cái chậu pha lê, với lời dụ đầy cảm mến.

    Tháng 6 AL 1824, sau khi về kinh bệ kiến, tâu trình một số việc, Tả quân Lê Văn Duyệt quay về Gia Định Thành, vua Minh Mạng cử binh đi theo, và: 

    “Duyệt đương trên đường, vua sai trung sứ mang một cái ống điếu bằng pha lê màu biếc bịt vàng là đồ thượng phương và dụ bảo rằng:’Từ sau khi khanh bệ từ, lòng trẫm băn khoăn chẳng lúc nào quên, khanh nên giữ gìn khi đi lúc nghỉ, chớ để nắng gió cảm nhiễm mà làm lo cho trẫm’” (ĐNTL tập II – sđd, trang 363) . 

    Sự ưu ái của bậc quân vương đối với một lão thần thật cảm động!

    Ngoài những việc như thế, tháng 1 AL 1824, nhà vua còn gả em gái là trưởng công chúa Ngọc Ngôn cho con thừa tự của Tả quân là Kiêu kỵ Đô úy Lê Văn Yến, vốn là con của Lê Văn Phong, em ruột ông Duyệt, được ông nhận làm con thừa tự. Bản thân Lê Văn Phong lúc ấy cũng đang là Phó Tổng trấn Bắc Thành.

    Bên cạnh lòng ưu ái thể hiện qua việc vua Minh Mạng ân thưởng bản thân Tả quân Lê Văn Duyệt và cha mẹ, chúng ta còn thấy cung cách xử sự của nhà vua trước một số vấn đề phát sinh tại Gia Định Thành trong thời gian ông Duyệt giữ chức vụ Tổng trấn. 

    Cho dù là quan đại thần nhất phẩm triều đình, Tả quân luôn tỏ ra khắt khe, nghiêm cẩn với chính mình. Năm 1825, một viên chức thuộc tào Binh tại Gia Định là Bùi Phụ Đạo lỡ tay đóng triện ngược trong sổ binh dâng về triều, vua Minh Mạng giao cho đình thần nghị xử, cho dù sơ suất đó không có gì là lớn lao. Được tin này, Tả quân cho rằng đó là lỗi mình không trông nom nên dâng biểu xin nhận tội. Vua Minh Mạng đã miễn trách và ban dụ rằng :” …Duyệt là bậc đại thần ở nơi bờ cõi, phàm trong hạt việc lợi thì làm, việc hại thì bỏ, người có tài thì tiến lên, người không tài thì bãi đi, khiến quan lại được xứng chức, nhân dân được yên nghiệp, như thế thì quan to sợ phép, quan nhỏ giữ liêm, ai là không biết khuyên răn, phép làm cho quan lại trong sạch như thế chẳng là đẹp tốt sao ? Điều mà trẫm đòi ở Duyệt là ở đó, mà Duyệt làm được xứng chức cũng là ở đó…” (ĐNTL – tập II - sđd, trang 464) 

    Câu chuyện nói lên tính khảng khái của người làm quan, sẵn sàng nhận trách nhiệm trước sai sót của thuộc cấp mình. 

    Tuy là nhà cai trị tài giỏi và công tâm, nhưng không phải là Tả quân Lê Văn Duyệt không có sai lầm hoặc những việc làm trái ý nhà vua. Tháng 8 AL 1827, người dân Chân Lạp bị đói rất nhiều, ông tự tiện phát chẩn 15 ngàn phương gạo rồi làm sớ tâu lên vua. Nhận được sớ, vua Minh Mạng dụ rằng:”Cứu giúp tai nạn, triều đình cố, là không tiếc của, duy Chân Lạp là nước thuộc phiên, so với dân ta có khác, nếu nước ấy mất mùa đói kém mà phát chẩn thì đợi tâu cũng chưa muộn. Nay tạm cho biên vào sổ tiêu, về sau không được viện làm lệ” 

    (ĐNTL – tập II - sđd, trang 663)

    Tháng 10 AL năm ấy, Lê Văn Duyệt về kinh, vào chầu, nhà vua triệu lên điện và cho ngồi, nhắc thêm chuyện phát chẩn cho người Chân Lạp: ”Trước đây Chân Lạp kêu đói, khanh tiện nghi phát chẩn, không phải là việc nhỏ đâu. Quyền nghi thông biến ở khanh thì còn được, chứ người khác thì phải cẩn giữ pháp độ”. Lời nói vừa nghiêm cần vừa rộng lượng với bậc công thần! Có lần nhà vua nói riêng với hai quan lại Trần Văn Năng và Tống Phước Lương: ”Người ta nói Duyệt tính bướng, nay trẫm xem ra là người trung thuận, cái nghĩa bề trên có sẵn lúc ngày thường…” (ĐNTL – tập II sđd, trang 671) 

    Tháng 6 AL 1828, một sự kiện làm rúng động Gia Định Thành. Một viên Tham tri bộ Hộ là Trần Nhật Vĩnh (ngang với Thứ trưởng Bộ Tài chánh ngày nay), trong thời gian được phái đến Gia Định Thành, được ông Duyệt tin dùng. Không ngờ Vĩnh ỷ thế, làm nhiều điều phi pháp như ăn của đút, cướp vợ người, chiếm đoạt tài sản của người. Dân chúng trong vùng sợ bị trả thù nên không dám tố giác.

    Chỉ một tháng sau khi Vĩnh được đưa ra Bắc Thành, dân chúng nộp đơn kiện rất nhiều. Tả quân Lê Văn Duyệt thụ lý tất cả các đơn, xin giải Trần Nhật Vĩnh về Gia Định để đối chất, tâu xin vua Minh Mạng phái quan ở kinh về để cùng hội xét. Rồi ông làm tờ tấu nhận tội mình đã tin dùng người làm bậy.

    Biết rõ sự việc, vua Minh Mạng cách chức Trần Nhật Vĩnh, bắt trói giải về kinh đợi xét tội. Với Lê Văn Duyệt, nhà vua dụ rằng: “Trước kia khanh nghe lầm tà thuyết của Trần Nhật Vĩnh, nhiều việc sai bậy, những chương sớ tâu lên có nhiều điều không hợp, trẫm nghĩ công lao ngày trước của khanh mà không trách mắng. Nay khanh đã đến lúc bóng dâu buổi chiều, còn biết hối lỗi trước, đem Trần Nhật Vĩnh nghiêm tham trừng trị và tâu xin nhận tội, tình từ thống thiết, trẫm đã hiểu hết lòng khanh. Có lỗi mà biết đổi, thánh nhân còn tha, nữa là trẫm đối với khanh à! Việc khanh xin nghị xử thì gia ân miễn cho. Vậy ban dụ này ân cần chỉ bảo cho được yên lòng…” ( ĐNTL – tập II - sđd, trang 745) 

    Những lời nói chí tình ấy cho thấy cách hành xử của vua Minh Mạng thật ưu ái và rộng lượng với người dưới, mặt khác, Tả quân Lê Văn Duyệt cũng rất biết đạo vua tôi. Nếu giữa hai người có những bất đồng trầm trọng thì chỉ với vụ Trần Nhật Vĩnh thôi, nhà vua đã thừa sức xuống tay rồi.

    LỜI KẾT – TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT VÀ BẢN ÁN OAN NGHIỆT CUỐI NĂM 1835

    Căn cứ vào những chi tiết nêu trên, khó có thể cho rằng mối quan hệ tốt đẹp giữa vua Minh Mạng với Tả quân Lê Văn Duyệt khi còn sống là lý do chính dẫn đến bản án tử năm 1835 dành cho ông. Cũng không thể suy diễn rằng một người có quyền lực tuyệt đối như nhà vua lại chịu dằn lòng, kìm nén nỗi bức xúc, đóng kịch trong cách cư xử tốt đẹp với người dưới, và chỉ đợi đến dịp trả thù (!).

    Tháng 7 AL năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt qua đời thì ba tháng sau (tháng 10 AL 1832), sự hiện diện của bộ sậu quan lại mới tại tỉnh Phiên An (Gia Định sau này) đã tạo ra những biến động khôn lường. Bố chánh Bạch Xuân Nguyên lấy cớ có “mật chỉ” của triều đình, tra xét, bắt bớ, giam cầm rất nhiều thủ hạ của cố Tả quân ở thành Phiên An. Tức nước vỡ bờ, khi sự chịu đựng đã đến giới hạn, những người lính này dưới sự chỉ huy của Vệ úy Lê Văn Khôi (*) đã tự bảo vệ mình bằng cách nổi dậy sát hại Bạch Xuân Nguyên và nhiều quan chức khác rồi cố thủ trong thành (tháng 5 AL 1833).

    Và trong cuộc binh biến ấy, chính lòng đố kỵ bị dồn nén nhiều năm (đối với Tả quân) của một số đại thần và sự u mê nhất thời của đấng quân vương đã dẫn đến bản án oan nghiệt năm 1835. 

    Ngay trước tháng 11 AL 1833, Tả Phó Đô Ngự sử Viện Đô sát là Phan Bá Đạt và một vài người, trong một bản tấu, đã không lý tới nguyên nhân chính dẫn tới hành động tức nước vỡ bờ của binh lính thành Phiên An là hành động tàn ngược của Bố chánh Bạch Xuân Nguyên, nhằm tra vấn, bắt bớ, giam cầm rất nhiều thủ hạ của cố Tả quân, khiến họ không còn con đường nào khác để tự cứu mình bằng việc chống lại chính quyền tỉnh lúc bấy giờ. Họ đã dựa vào một sự suy diễn không hợp logic, phi thực tế, để bắt tội Tả quân, cho rằng sở dĩ có cuộc nổi dậy là do khi còn tại chức, ông đã sử dụng, dung túng cho bọn nguyên là lũ giặc cướp, kẻ du thủ du thực để đến nỗi xảy ra cớ sự (ĐNTL - Tập III – NXB Giáo dục 2007, trang 810) .

    Khi lên án cố Tả quân Lê Văn Duyệt, với lập luận này, họ đã cố tình phủ nhận một sự kiện lịch sử đã diễn ra cách đó 14 năm:

    - Đầu năm 1819, vua Gia Long sai Tả quân Lê Văn Duyệt đi kinh lược hai xứ Thanh Hoa và Nghệ An, vì dân nơi ấy hàng năm thiếu đói, họp nhau làm giặc cướp ... (ĐNTL Tập I – sđd, trang 982). Khi “Lê Văn Duyệt đã đến Nghệ An, tuyên bảo uy đức của triều đình, hỏi thăm nỗi khổ của nhân dân. Bọn giặc cướp nghe tin tan vỡ, hoặc đến cửa quân xin thú, hoặc bị quan quân bắt giết, trong cõi nghiêm hẳn...” (ĐNTL – Tập I – sđd, trang 984). Sau đó, triều đình nghe theo lời tấu của Tả quân, tha thuế cho dân, dừng hẳn công dịch, chiếu ban xuống dân rất vui mừng.

    Tháng 6 AL 1819, hơn 900 giặc cướp ở Thanh Nghệ ra đầu thú, Tả quân Lê Văn Duyệt xin tha tội cho họ và biên bổ họ làm lính. Đó là nguồn gốc xuất phát của thành phần lính “hồi lương” được ông sử dụng tại đất Gia Định trong suốt 12 năm, cho đến ngày ông qua đời. Hành động của ông đáng được ca ngợi, vì một phần vô hiệu hóa được các hoạt động cướp bóc, đem lại trật tự trị an cho địa phương, mặt khác cảm hóa được những kẻ tội phạm, giúp họ đi vào con đường hoàn lương và đóng góp công sức vào xã hội. Suốt 12 năm phục vụ dưới quyền thống lĩnh của ông, những người lính hồi lương này không gây ra những việc tàn hại nào, vậy mà khi họ tham gia vào việc chống lại triều đình do bị bức bách quá đáng, bị dồn vào đường cùng, người ta đã đổ trút hết trách nhiệm lên đầu ông!! 

    Khác với nhiều ý kiến cho rằng những “bất đồng” với nhau khi Tả quân còn sống đã khiến vua Minh Mạng chọn một quyết định pháp lý bị người đời sau lên án, mình cho rằng quyết định này xuất phát từ sự xàm tấu của những đình thần nuôi lòng đố kỵ mà không làm được gì khi Tả quân còn sống, lúc gặp dịp thì bùng lên. Nhà vua đã không có sự sáng suốt, ít ra như vua cha (Gia Long) khi đứng trước vụ án Nguyễn Văn Thành và con là Nguyễn Văn Thuyên, không chỉ tạo ra hai bản án oan nghiệt đối với Tả quân Lê Văn Duyệt và nguyên Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất, mà còn gây ra vụ thảm sát không tiền khoáng hậu: giết chết cùng một lúc 1831 người sống trong thành Phiên An, không phân biệt binh-dân, bất luận nam phụ lão ấu! Đó là một tội ác kinh tởm trong lịch sử!

    Những việc làm trên là một vệt đen trong trang sử triều Minh Mạng, làm lu mờ phần nào một thời khoảng rực rỡ với những công cuộc phát triển kinh tế và đời sống xã hội, những cải cách thể chế làm nền tảng cho các triều vua sau.

    Điều đáng mừng là ngay sau khi ông qua đời, con (vua Thiệu Trị) và cháu ông (vua Tự Đức) đã kịp thời chấn chỉnh, đưa ra những quyết định hợp lẽ đời: tha cho những thân tộc của Tả quân, thu dụng họ vào bộ máy chính quyền, cho con cháu sửa sang phần mộ đã bị san phẳng (1848), và cuối cùng là khôi phục hẳn chức hàm cũ của ông là Vọng các công thần Chưởng Tả quân Bình Tây Đại tướng quân, Quận công, cho thờ tại miếu Trung hưng công thần (1868) (ĐNTL tập VII – NXB Giáo dục 2006, trang 1104). 

    Lịch sử đặt ra cho người đời sau nhiều bài học cần được nhìn lại với công tâm và sự sáng suốt.

    HẾT

    Lê Nguyễn

    13.9.2026

    (*) Về nhân vật Lê Văn Khôi, học giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược (và nhiều cây bút về sau) đã có sự nhầm lẫn khi cụ viết “Ông Duyệt tin dùng làm con nuôi, đổi tên họ là Lê Văn Khôi” (VNSL – NXB Văn Học 2012, trang 492). Trên thực tế, chưa bao giờ Khôi là con nuôi của ông Duyệt, mặt khác, việc đổi tên Nguyễn Hựu Khôi ra Lê Văn Khôi là từ một quyết định của triều đình chứ không phải của ông Duyệt, và vua Minh Mạng đã giải thích vì sao lại chọn họ Lê: “... rõ ràng giặc Khôi như con của Lê Văn Duyệt” ( Đại Nam thực lục – tập III – NXB Giáo dục 2007, trang 637). Có lẽ sự nhầm lẫn của cụ Trần xuất phát từ câu nói có chữ “như” này!


    Không có nhận xét nào