Nhân lễ giỗ lần thứ 194 của đức Thượng Công Tả Quân, Tổng trấn Gia Định Thành Lê Văn Duyệt
Vài điểm cần minh xác về mối quan hệ giữa Tả Quân Lê Văn Duyệt và vua Minh Mạng
Lê Nguyễn
Kỳ 1
(Vì cần nêu lên nhiều dữ kiện, chứng cứ và lập luận, mà bài viết cuối này khá dài, mong các bạn kiên nhẫn đọc)
Ảnh minh họa: Tả quân Lê Văn Duyệt (1764-1832)
Từ những thập niên qua, để giải thích về bản án gồm 7 án trảm (chém đầu) và hai án giảo (treo cổ) mà vua Minh Mạng đã tuyên cho cố Tả quân Lê Văn Duyệt vào năm 1835, nhiều cây bút đã viện dẫn điều mà họ gọi là sự bất đồng ngấm ngầm và trầm trọng giữa nhà vua và vị Tả quân khi còn sống. Và để sự giải thích này dễ được đồng tình, chấp nhận, người ta đã vô tình hay hữu ý làm sai lệch nhiều sự thật lịch sử để gò ép chúng theo hướng định sẵn, khiến cho người đọc dễ ngộ nhận về nhiều sự kiện đã được chính sử ghi rõ trên giấy trắng mực đen.
Bài viết này nhằm minh xác nhiều sự kiện đã gây nên ngộ nhận về Tả quân Lê Văn Duyệt khi còn tại chức Tổng trấn Gia Định Thành dưới hai triều Gia Long (1812-1815) và Minh Mạng (1820-1832), dựa chủ yếu vào bộ chánh sử Đại Nam thực lục và bộ Đại Nam liệt truyện do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Vì vậy, mọi trao đổi, nếu có, xin chỉ nên xoay quanh hai bộ sử chính thống này.
I) LÊ VĂN DUYỆT VỚI VIỆC CHỌN NGƯỜI KẾ VỊ VUA GIA LONG
Trong lịch sử triều Nguyễn dưới thời vua Gia Long, có ít nhất hai sự kiện quan trọng liên quan đến đời sống cung đình, một là việc chọn người đứng chủ tế sau khi bà Thừa Thiên Cao hoàng hậu qua đời (1814), và hai là việc chọn người lên ngôi Thái tử, sẽ kế vị vua Gia Long sau này (1816).
Để có cơ sở cho việc tô vẽ về điều được gọi là sự bất đồng trầm trọng giữa vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt lúc sinh tiền, một số cây bút đã viết nên nhiều điều không phù hợp với thực tế lịch sử, gắn kết vị Tả quân với Trung quân Nguyễn Văn Thành, trong khi trên thực tế, hầu như không hề có bóng dáng của ông Lê Văn Duyệt trong những sự kiện này!
I.1) VỀ LỄ TANG THỪA THIÊN CAO HOÀNG HẬU
Tháng 7 AL năm 1806, Thừa Thiên Cao hoàng hậu vốn là con gái Quý Quốc công Tống Phước Khuông, từ Vương hậu, được vua Gia Long lập làm Hoàng hậu . Tháng 2 AL năm 1814, bà qua đời ở tuổi 54. Ba người con trai đầu của vua Gia Long là hoàng tử Cảnh, hoàng tử Hy và hoàng tử Tuấn đều mất sớm, người thứ tư là hoàng tử Đảm, con của Thuận Thiên Cao hoàng hậu (danh hiệu được tấn phong sau khi vua Gia Long đã thăng hà), được Thừa Thiên Cao hoàng hậu nhận làm con nuôi từ năm 3 tuổi nên vẫn gọi bà là mẹ.
Trong lễ tang, khi bàn định việc cử người làm chủ tự, sử chép như sau: “bầy tôi có người bàn lấy hoàng tôn Đán (con hoàng tử Cảnh, tức là Mỹ Đường) làm chủ tự. Vua dụ rằng: ‘hoàng tử (Đảm) từng làm con của hoàng hậu, đã có giấy tờ, nên sai làm chủ tự, việc lớn của nhà nước không nên câu nệ theo lẽ đích tôn thừa trọng như nhà thường’. Nguyễn Văn Thành cho thế thì văn tế khó gọi. Vua bảo rằng: ‘con theo mệnh cha tế mẹ là việc danh chính ngôn thuận, có gì mà không nên’. Bấy giờ, việc bàn mới định. Nguyễn Văn Thành tỏ ý không bằng lòng.” (Đại Nam thực lục – Tập I – NXB Giáo Dục 2002, trang 877).
Ở nghi thức này trong lễ tang Thừa Thiên Cao hoàng hậu, không hề thấy sử nhắc đến Lê Văn Duyệt (lúc này ông Duyệt đang là Tổng trấn Gia Định Thành), chỉ đề cập đến thái độ không bằng lòng của Nguyễn Văn Thành. Tuy vậy, vua Gia Long không để tâm đến thái độ của ông Thành, trong lễ ninh lăng (lễ an táng) Thừa Thiên Cao hoàng hậu diễn ra vào tháng 3 AL năm 1815, nhà vua vẫn cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng hộ sứ, Nguyễn Văn Nhân làm Phó (ĐNTL tập I, sđd, trang 898)
(Tổng hộ sứ là người tổng chỉ huy trong lễ tang)
Đây là điểm chứng tỏ vua Gia Long không phải là người nhỏ nhen hay cố chấp, sự bất đồng ý kiến qua việc chọn người làm chủ tế trong lễ tang Thừa Thiên Cao hoàng hậu không làm nhà vua tỏ ra khó chịu hay thù ghét người khai quốc công thần đối với vương triều của mình.
Thái độ này cũng tiếp tục được thể hiện trong vụ việc liên quan đến bài thơ của con trai ông Nguyễn Văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên, truyện sẽ được nhắc đến ở phần sau.
I.2) VỀ VIỆC VUA GIA LONG CHỌN NGÔI THÁI TỬ
Về chuyện này, theo sách Đại Nam liệt truyện, do nhận thấy tuổi đã cao, nhân một buổi chầu vào năm 1816, vua Gia Long hỏi thẳng Nguyễn Văn Thành rằng hiện nay cháu đích tôn của ông (con hoàng tử Cảnh) là hoàng tôn Đán (Mỹ Đường, 1798-1849) còn nhỏ, vậy trong các con trai của ông, nên lập ai làm Thái tử, ông Thành đã tâu rằng theo lẽ là đích tôn thừa trọng (tức nên chọn hoàng tôn Đán), song nếu nhà vua muốn chọn người khác thì biết con chẳng ai bằng cha, ông không có ý kiến thêm .
Quan điểm chọn hoàng tôn Đán của ông Thành không có gì sai, vì lúc ấy vị công tử này cũng đã 18 tuổi, song khi nhà vua tỏ rõ ý định chọn hoàng tử Đảm, lúc ấy đã 26 tuổi, ông Thành không dám nói điều gì trái ý nhà vua.
Chuyện chỉ có thế! Không có một âm mưu hay sự chống báng nào ở đây.
Theo sách Đại Nam Thực Lục, vào một ngày tháng 3 AL năm 1816, vua Gia Long triệu tập quần thần ở điện Cần Chánh và dụ rằng sức khỏe ông đã suy yếu nên cần người giữ ngôi Thái tử để lo cho việc nước sau này. Nói xong, ông triệu Thượng thư Lại bộ là Trịnh Hoài Đức đến trước giường ngự và viết câu “Lập hoàng tử Hiệu (tức Đảm) làm hoàng thái tử”. Câu chữ viết xong, nhà vua đưa cho bầy tôi xem và nói: “Ai đồng ý thì ký tên vào”. “Quần thần đều nói: Ý thánh định trước, thực là phúc không cùng của Xã Tắc, bọn thần xin noi theo mệnh lệnh” (Đại Nam Thực Lục – Tập I, sđd, trang 920).
Như vậy, theo chính sử, trong cả hai sự kiện diễn ra vào năm 1814 và 1816 tại cung đình:
- Khi được hỏi ý kiến, Trung quân Nguyễn Văn Thành có tâu trình quan điểm riêng của mình, song sau khi biết ý vua Gia Long quyết định khác hơn, ông vẫn tuân thủ mà không hề có một phản ứng chống đối nào.
- Riêng về Tả quân Lê Văn Duyệt, ông không hề có sự câu kết nào với Nguyễn Văn Thành về cả hai sự kiện trên và không có một sự can thiệp hay ý kiến nào khác trong các quyết định của vua Gia Long.
Đáng tiếc là từ nhiều năm qua, vẫn có nhiều bài viết cho rằng cả hai ông Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt cùng chống lại việc đưa hoàng tử Đảm lên ngôi Thái tử! Mục đích của người viết nhằm vin vào sự kiện không có thật này để giải thích hay phóng đại điều gọi là sự mâu thuẫn sâu sắc giữa vua Minh Mạng với Tả quân Lê Văn Duyệt, khi vị lão thần còn sanh tiền.
II) TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT VÀ VỤ ÁN NGUYỄN VĂN THUYÊN
Theo sách Đại Nam thực lục, trong một trận đánh vào tháng 11 AL năm 1800, Nguyễn Văn Thành là chủ tướng, Lê Văn Duyệt là phó tướng, “Thành vốn thích rượu, sắp ra trận thì đem bầu ra tự rót uống, rót một chén đưa cho Duyệt. Duyệt không chịu uống, Thành cố ép, nói: Nay trời lạnh, uống một chén cho mạnh thêm lên!”. Duyệt nói: ‘Ai yếu nhát mới phải mượn rượu, còn tôi thì trước mắt không thấy có giặc nào mạnh, cần gì đến rượu’. Thành có vẻ xấu hổ, do đó căm Duyệt” (Đại Nam thực lục – Tập I – sđd, trang 422) .
Trong mối quan hệ giữa hai khai quốc công thần của vua Gia Long là Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt, có lẽ câu chuyện kể trên là đầu mối của nhiều ngộ nhận về hành động của Tả quân Lê Văn Duyệt đối với sự kiện quan trọng liên quan đến Trung quân Nguyễn Văn Thành và người con là Nguyễn Văn Thuyên.
Thuyên đỗ Cử nhân trong khoa thi Hương năm 1813, vì là con của một đại thần, lại sính chữ nghĩa, nên nhà có nhiều tân khách. Một ngày nọ, Thuyên cho môn hạ là Nguyễn Trương Hiệu đi mời hai người ở Thanh Hóa có tiếng giỏi văn thơ là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, mang theo một bài thơ do Thuyên làm, phần cuối có hai câu: “Thử hồi nhược đắc sơn trung tể, Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”, có nghĩa là “phải chi có được vị tể tướng chốn sơn trung, giúp ta xoay chuyển cơ trời”.
Về điểm này, theo sách “Đại Nam liệt truyện”, “câu thơ ấy, lời nói có ý bội nghịch, Hiệu đem câu thơ ấy phê với Hình bộ thiêm sự Nguyễn Hữu Nghi, Nghi vốn oán Thành, xin Hiệu đem thơ ấy tố cáo với Lê Văn Duyệt, Duyệt cùng Thành vốn không hòa hợp, đem câu thơ ấy dâng lên vua, vua nghĩ sự trạng chưa rõ giả lại tờ ấy” (ĐNLT – Viện sử học Việt Nam – NXB Thuận Hóa – Huế 2006 Tập II, Quyển 21)
Sách Đại Nam Thực Lục tập I, sđd, trang 913-914 cũng ghi chép về chuyện này tương tự như trên.
Dựa vào chi tiết ấy, liệu có thể cho rằng việc tâu lên nhà vua bài thơ “phản nghịch” của con trai Trung quân Nguyễn Văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên xuất phát từ chủ ý của Tả quân Lê Văn Duyệt muốn hãm hại ông Thành không? Tất nhiên là không, vì ngần ấy chi tiết trong chánh sử không đủ để qui trách cho ông Duyệt.
Người phát hiện ra điều phản nghịch là Nguyễn Trương Hiệu đã đem sự việc báo cho Hình bộ Thiêm sự Nguyễn Hựu Nghi và Nghi sai Hiệu mang bài thơ ấy cáo với Lê Văn Duyệt, liệu ông Duyệt có dám giấu kín bài thơ ấy, không tâu lên vua không? Tất nhiên là không. Làm điều khuất tất này, đầu ông sẽ rơi, vì nếu ông giấu bài thơ đi, vua Gia Long được tâu lên qua các hình thức tố giác khác, sao ông tránh được tội khi quân và che chở tội phạm?
Về phần vua Gia Long, ông cũng chứng tỏ mình không phải là một hôn quân. Khi nhận được bài thơ “phản nghịch” của Nguyễn Văn Thuyên, “vua cho rằng sự trạng chưa được rõ rệt, hãy để đấy mà trả bài thơ ấy về” (ĐNTL - sđd trang 914). Những chi tiết tiếp sau cho thấy vua Gia Long đã không nhân việc này mà trả đũa Nguyễn Văn Thành qua việc ông bày tỏ ý kiến khác với nhà vua trong chuyện chọn ngôi Thái tử như nhiều lời đồn đoán trong dư luận.
Sau khi nhà vua hoãn lại vụ việc, Nguyễn Trương Hiệu tìm gặp Nguyễn Văn Thuyên đòi hối lộ, Thuyên chi mãi cũng không vừa lòng. Hiệu đợi ông Thành hết buổi chầu, đón đường hỏi tiền tiếp. Vị Trung quân đang bị thất sủng bực quá, lệnh bắt cả Trương Hiệu và Văn Thuyên giao cho ngục quan Quảng Đức giam rồi tâu lên vua Gia Long. Nhà vua giao đình thần xét án, song do nhân chứng quan trọng đang ở Gia Định nên tạm thời tha Văn Thuyên khỏi ngục, chờ nhân chứng từ Gia Định về kinh để đối chất.
Tháng 2 AL 1816, viên ký lục tỉnh Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa (chánh tam phẩm) vào chầu, dâng sớ hạch tội Nguyễn Văn Thành là con âm mưu làm phản, đã “không biết đến cửa khuyết chịu tội, mà còn áo triều, mũ triều, nghênh ngang đứng ở trên các đình thần, như thế thì còn thể thống triều đình chi nữa” (ĐNTL – sđd, trang 918). Mỗi lời tâu như thế là thêm một áp lực đè nặng lên tâm trí vua Gia Long!
Tháng 4 AL 1816, nhà vua giao cho Thượng thư Lễ Bộ Phạm Đăng Hưng tra xét Nguyễn Văn Thuyên nhưng không có kết quả, vì theo lời họ Phạm, Thuyên tỏ ra không phục. Việc tra xét lại được giao qua Tả quân Lê Văn Duyệt và lần này Thuyên chịu phục.
Thuyên tiếp tục bị giam giữ trong hơn một năm nữa và bị xử lăng trì vào tháng 5 AL 1817, ngay sau cái chết của cha là Nguyễn Văn Thành, tự tử tại nhà. Bị xử lăng trì cùng Thuyên còn có Lê Duy Hoán, con cháu nhà Lê, từng được vua Gia Long phong tước Diên Tự công, sau bị bắt về tội phản nghịch.
Chỉ vì hai câu thơ mà bị vu cho là mưu phản, Thuyên phải trả giá bằng sinh mạng, một phần vì nhiều quan lại trong triều muốn dùng trường hợp của Thuyên để bức hại Nguyễn Văn Thành. Chúng ta không thấy bàn tay ám muội nào của Tả quân Lê Văn Duyệt trong vụ án này cả (còn tiếp)
Lê Nguyễn
9.9.2026
(Bài trích từ một tác phẩm sắp xuất bản)
Không có nhận xét nào